Improving natural forest governance in Vietnam to promote multifunctional values
ThS. Trần Mạnh Trí
Trường Đại học Văn Hiến
Email: tritm@vhu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên từ năm 2016 giúp ổn định diện tích và tỷ lệ che phủ rừng, song chưa xử lý được nguyên nhân thể chế của suy giảm chất lượng rừng. Trên cơ sở phân tích chính sách và dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 – 2025, bài viết phác họa thực trạng quản trị rừng tự nhiên trên ba phương diện: diễn biến diện tích, cơ cấu rừng; chủ thể quản lý, cơ chế giao khoán; và nguồn lực tài chính bảo vệ rừng. Kết quả cho thấy, tỷ lệ che phủ duy trì 42,03% nhưng cơ cấu dịch chuyển theo hướng rừng trồng tăng, rừng tự nhiên giảm. Bài viết nhận diện ba điểm nghẽn thể chế: (1) Quyền quản lý, trách nhiệm bảo vệ và quyền hưởng lợi chưa gắn kết; (2) Giá trị vốn tự nhiên chưa được phản ánh trong quyết định kinh tế; (3) Chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa gắn với chất lượng bảo vệ rừng. Ba nhóm giải pháp được đề xuất: (1) Hạch toán tài sản, dịch vụ hệ sinh thái rừng; (2) Chia sẻ lợi ích theo kết quả; (3) Hiện đại hóa quản trị bằng dữ liệu số, tiêu chuẩn kiểm chứng được.
Từ khóa: Quản trị lâm nghiệp; hạch toán vốn tự nhiên; tín chỉ carbon rừng; dịch vụ hệ sinh thái.
Abstract: Vietnam’s policy of closing natural forests to logging, introduced in 2016, has helped stabilise forest area and cover, but has not resolved the institutional causes of declining forest quality. Drawing on policy analysis and secondary data for the 2016–2025 period, this paper describes the current state of natural forest governance in Vietnam along three dimensions: changes in forest area and structure; management entities and contracting arrangements; and financial resources for forest protection. Results show that forest cover has remained stable at 42.03%, while the structure has shifted towards an increase in planted forests and a decrease in natural forests. The paper identifies three institutional bottlenecks: (1) Management rights, protection responsibilities and benefit entitlements are not linked; (2) The value of natural capital is not reflected in economic decisions; and (3) Payments for forest environmental services are not tied to the quality of forest protection. Three groups of solutions are proposed: (1) Accounting for forest assets and ecosystem services; (2) Outcome-based benefit sharing; and (3) Governance modernisation through digital data and verifiable standards.
Keywords: Forest governance; natural capital accounting; forest carbon credits; ecosystem services.
1. Đặt vấn đề
Trước tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và gia tăng rủi ro thiên tai, quản trị lâm nghiệp đang chuyển từ khai thác tài nguyên sang bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị đa dụng của rừng. Rừng tự nhiên không chỉ cung cấp gỗ và lâm sản mà còn điều tiết nguồn nước, lưu giữ carbon, bảo vệ đất, duy trì sinh kế và góp phần bảo đảm an ninh sinh thái.
Ở Việt Nam, chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên được triển khai thông qua nhiều quyết định quản lý và tiếp tục được nhấn mạnh tại Thông báo số 191/TB-VPCP ngày 22/7/2016 của Văn phòng Chính phủ về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên, việc kiểm soát khai thác gỗ mới chỉ là một hợp phần của quản trị rừng. Các động lực kinh tế dẫn đến chuyển đổi đất rừng, xâm lấn và suy giảm chất lượng hệ sinh thái cần được xử lý đồng bộ thông qua việc hoàn thiện cơ chế quyền tài sản, trách nhiệm giải trình và chia sẻ lợi ích.
2. Thực trạng quản trị rừng tự nhiên ở Việt Nam
2.1. Khung thể chế và các chủ thể quản trị rừng
Luật Lâm nghiệp năm 2017 xác lập rừng tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, phân loại rừng theo ba loại (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) và quy định năm loại dịch vụ môi trường rừng. Trên nền pháp lý đó, rừng tự nhiên hiện được giao cho bốn nhóm chủ thể quản lý: ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ; công ty lâm nghiệp nhà nước; hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư và Ủy ban nhân dân cấp xã đối với diện tích chưa giao.
Quá trình đổi mới chủ thể quản lý diễn ra chậm. Sau hơn mười năm thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, tính đến giữa năm 2024, mới có 161 trong tổng số 256 công ty nông, lâm nghiệp hoàn thành sắp xếp, đổi mới, còn 95 công ty chưa hoàn thành (Trần Mạnh, 25/4/2024); đây vẫn là số liệu công khai gần nhất tính đến thời điểm bài viết được hoàn thiện cho thấy, tiến độ sắp xếp đã chững lại trong hai năm qua. Diện tích rừng do khối tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và công ty lâm nghiệp quản lý hiện chỉ còn khoảng 450.000 ha, chiếm 3,01% tổng diện tích rừng cả nước (Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, mua bán hợp đồng giao khoán và khoán trắng không quản lý được đất vẫn tồn tại ở nhiều địa phương.
Khung pháp lý tài chính rừng vừa được bổ sung một cấu phần quan trọng: Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng (có hiệu lực từ ngày 15/7/2026), lần đầu tiên quy định rõ quyền sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng, hình thức trao đổi, chuyển nhượng và nguyên tắc xác định mức chi trả. Đây là loại dịch vụ cuối cùng trong năm loại dịch vụ môi trường rừng theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 được cụ thể hóa, mở ra dư địa mới cho tài chính rừng nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về dữ liệu và năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định.
2.2. Diện tích rừng tăng nhưng cơ cấu dịch chuyển bất lợi
Theo công bố hiện trạng rừng toàn quốc, năm 2025, tổng diện tích rừng cả nước đạt 14.971.553 ha, tăng 97.251 ha so với năm 2024; tỷ lệ che phủ rừng giữ ổn định ở mức 42,03%. Tuy nhiên, toàn bộ mức tăng đến từ rừng trồng: diện tích rừng trồng tăng 151.837 ha (từ 4.740.350 ha lên 4.892.187 ha), trong khi rừng tự nhiên giảm 54.586 ha (từ 10.133.952 ha xuống 10.079.366 ha) (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026).
Diễn biến này bộc lộ một đặc điểm quan trọng của quản trị rừng hiện nay: chỉ tiêu tỷ lệ che phủ – vốn được sử dụng phổ biến để đánh giá kết quả – không phân biệt được giá trị sinh thái giữa một hecta rừng tự nhiên nhiều tầng tán với một hecta rừng trồng thuần loài. Khi một chỉ tiêu ổn định che khuất sự suy giảm của cấu phần vốn tự nhiên có giá trị sinh thái cao nhất, hệ thống chỉ tiêu quản trị không phát tín hiệu cảnh báo, và các quyết định phân bổ nguồn lực vì thế thiếu căn cứ.
2.3. Áp lực xâm hại rừng giảm nhưng vẫn hiện hữu
Năm 2025, cả nước ghi nhận 3.347 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, giảm 13,8% so với năm 2024; diện tích rừng bị tác động 801 ha, giảm 10,6%; số vụ cháy rừng còn 236 vụ (Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, 29/12/2025). Xu hướng giảm là tích cực, song quy mô vi phạm vẫn đáng kể và tập trung tại các địa bàn trọng điểm. Riêng tại Đắk Lắk, trong năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng kiểm lâm đã xử lý 1.219 vụ vi phạm, trong đó 876 vụ phá rừng trái pháp luật với hơn 232 ha rừng bị thiệt hại (Văn Toàn, 02/8/2026); đáng chú ý, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án liên quan đến cán bộ của công ty lâm nghiệp có hành vi tiếp tay cho đối tượng phá rừng.
Thực tế trên cho thấy, vấn đề không chỉ nằm ở năng lực thực thi pháp luật mà còn ở cấu trúc động lực: chủ thể được giao quản lý rừng chưa có lợi ích gắn với việc giữ rừng, trong khi lợi ích từ chuyển đổi hoặc khai thác trái phép vẫn đủ lớn để tạo áp lực thường trực. Ở chiều ngược lại, mức độ chuẩn hóa quản trị còn thấp: đến hết năm 2025, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt khoảng 730.000 ha, tương đương chưa tới 5% tổng diện tích rừng cả nước và chủ yếu là rừng trồng (Văn Toàn, 02/8/2026).
2.4. Nguồn lực tài chính cho bảo vệ rừng
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm luật hóa cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Đông Nam Á, thí điểm từ năm 2008 và triển khai toàn quốc từ năm 2011 (Phạm Hồng Lượng, 2018). Lũy kế đến nay, cả nước đã ký hơn 1.800 hợp đồng sử dụng dịch vụ môi trường rừng, trong đó 631 hợp đồng với cơ sở thủy điện, 697 hợp đồng với cơ sở sản xuất công nghiệp, 437 hợp đồng với cơ sở nước sạch và 38 hợp đồng với du lịch, nuôi trồng thủy sản; tổng nguồn thu năm 2024 đạt hơn 3.700 tỷ đồng (Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, 2025).
Bên cạnh đó, Việt Nam đã tiếp nhận đủ 51,5 triệu USD (khoảng 1.256 tỷ đồng) từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) cho 10,3 triệu tấn CO2, tương ứng đơn giá khoảng 5 USD/tấn – mức thấp so với giá tín chỉ carbon chất lượng cao trên thị trường quốc tế (Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, 2025). Như vậy, nguồn tài chính cho bảo vệ rừng đã hình thành và tăng dần về quy mô, nhưng còn phụ thuộc nặng vào một nguồn duy nhất là thủy điện (chiếm 97,04% tổng thu giai đoạn 2011 – 2016) (Phạm Hồng Lượng, 2018) và chủ yếu vận hành theo cơ chế hành chính, chi trả theo diện tích.
3. Những điểm nghẽn trong thể chế quản trị rừng tự nhiên
3.1. Quyền quản lý, trách nhiệm bảo vệ và quyền hưởng lợi chưa gắn kết
Số vụ vi phạm và diện tích rừng bị tác động nêu tại mục 2.3, cùng thực tế 95 công ty nông, lâm nghiệp chưa hoàn thành sắp xếp (Trần Mạnh, 25/4/2024) cho thấy hạn chế không chỉ nằm ở khâu thực thi. Khi quyền quản lý, trách nhiệm bảo vệ và quyền hưởng lợi chưa gắn kết chặt chẽ, trách nhiệm đối với tài nguyên rừng dễ bị phân tán.
Nhiều công ty lâm nghiệp nhà nước được giao quản lý diện tích rừng lớn nhưng quyền hưởng lợi từ các giá trị ngoài gỗ còn hạn chế, nguồn lực tái đầu tư cho bảo vệ rừng chưa đáp ứng yêu cầu. Trong khi đó, người lao động và cộng đồng trực tiếp bảo vệ rừng chủ yếu nhận khoán với mức chi trả thấp, chưa gắn với chất lượng rừng hoặc mức gia tăng giá trị sinh thái. Sự tách rời giữa lợi ích của người giữ rừng và mục tiêu bảo tồn làm suy giảm động lực giám sát và phục hồi rừng; khi bảo vệ rừng chưa tạo được thu nhập ổn định trong khi lợi ích từ chuyển đổi đất rừng vẫn lớn, áp lực xâm lấn khó được khắc phục triệt để (Trần Mạnh Đương, 2017).
3.2. Khoảng trống trong hạch toán giá trị rừng tự nhiên
Việc rừng tự nhiên giảm 54.586 ha trong khi tỷ lệ che phủ không thay đổi là biểu hiện trực tiếp của khoảng trống hạch toán. Khi rừng chủ yếu được đánh giá thông qua trữ lượng gỗ hoặc giá trị sử dụng đất, các dịch vụ hệ sinh thái và chi phí môi trường có thể bị bỏ sót trong quá trình ra quyết định (IPBES, 2022). Các chỉ tiêu về diện tích, độ che phủ và trữ lượng lâm sản mới phản ánh một phần giá trị của vốn rừng, trong khi khả năng điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, lưu giữ carbon và bảo tồn đa dạng sinh học chưa được lượng hóa đầy đủ trong phân tích chi phí – lợi ích.
Khái niệm “rừng nghèo” là một minh chứng. Theo phân loại hiện hành tại Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đây thuần túy là tiêu chí trữ lượng gỗ, từ trên 50 đến 100 m³/ha, không đồng nghĩa với giá trị sinh thái thấp: nhiều khu rừng trữ lượng gỗ không cao nhưng đang phục hồi và vẫn giữ vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước, chống xói mòn và lưu giữ carbon. Nếu chỉ căn cứ vào giá trị gỗ, giá trị tổng thể của những khu rừng này bị xem nhẹ, như trường hợp rừng khộp Tây Nguyên bị quy là nghèo kiệt để chuyển sang trồng cao su (ThienNhien.Net, 05/6/2014).
Suy giảm rừng làm phát sinh chi phí kinh tế – xã hội dài hạn như khắc phục lũ lụt, hạn hán, sạt lở và suy giảm chất lượng nguồn nước, song do thiếu dữ liệu định lượng, các đánh giá kinh tế – môi trường chưa phản ánh đầy đủ mức suy giảm vốn tự nhiên. Áp dụng hạch toán kinh tế – môi trường theo chuẩn mực SEEA EA (United Nation, 2021), vì vậy, là điều kiện cần để so sánh đầy đủ lợi ích và chi phí của các phương án bảo vệ, phục hồi hoặc chuyển đổi rừng.
3.3. Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa gắn với kết quả
Quy mô nguồn thu và cơ cấu hợp đồng nêu tại mục 2.4 cho thấy, cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng đã bổ sung nguồn lực đáng kể cho bảo vệ rừng. Tuy nhiên, cơ chế chi trả hiện nay vẫn mang tính hành chính và chưa phản ánh đầy đủ chất lượng cũng như kết quả bảo vệ rừng. Mức chi trả chủ yếu được xác định theo diện tích, trong khi sự khác biệt về chất lượng rừng, đa dạng sinh học, khả năng giữ nước và lượng carbon hấp thụ chưa được tính đến đầy đủ; hệ số K1 theo trữ lượng có biên độ rất hẹp, tại Đắk Lắk chỉ từ 1,00 xuống 0,90 (quy định tại Quyết định số 001/2025/QĐ-UBND ngày 07/7/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk). Điều này làm giảm động lực phục hồi và nâng cao chất lượng hệ sinh thái rừng.
Bên cạnh đó, dòng tiền chi trả qua nhiều khâu trung gian, ảnh hưởng đến tính trực tiếp và kịp thời của khoản chi trả cho người giữ rừng. Bên sử dụng dịch vụ thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định nhưng nghĩa vụ đó không gắn với kết quả bảo vệ rừng của bên cung ứng. Cơ chế hiện hành do vậy chưa vận hành theo nguyên tắc kết quả đầu ra và trách nhiệm giải trình, vì hệ thống giám sát chưa đo được chất lượng dịch vụ thực tế tạo ra (Phạm, T. T., & cộng sự, 2015).
Hệ quả là cơ chế chưa tạo được động lực đủ mạnh để nâng cao chất lượng hệ sinh thái và chưa phát huy đầy đủ giá trị carbon rừng. Thỏa thuận ERPA vùng Bắc Trung Bộ và Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 là những bước chuyển đầu tiên sang chi trả dựa trên kết quả nhưng để vận hành được, cả hai đều đòi hỏi một nền dữ liệu đo đạc, báo cáo và thẩm định mà hệ thống hiện nay chưa đáp ứng.
4. Giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn
Một là, xây dựng hệ thống hạch toán tài sản và dịch vụ hệ sinh thái rừng.
Nhóm giải pháp này trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn về khoảng trống hạch toán giá trị rừng. Hạch toán tài sản và dịch vụ hệ sinh thái rừng là cơ sở để chuyển từ quản lý chủ yếu bằng các chỉ tiêu hiện vật sang quản trị rừng như một bộ phận của vốn tự nhiên, theo phương pháp luận Hệ thống hạch toán kinh tế – môi trường và Hạch toán hệ sinh thái của Liên Hợp quốc (SEEA EA).
Hệ thống gồm ba nhóm tài khoản: (1) Tài khoản tài sản hệ sinh thái – diện tích, loại rừng, chất lượng, trữ lượng sinh khối, khả năng lưu giữ carbon và trạng thái phục hồi; (2) Tài khoản dịch vụ hệ sinh thái – điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, hấp thụ carbon và bảo tồn đa dạng sinh học; (3) Tài khoản giá trị tiền tệ – lượng hóa những dịch vụ có đủ dữ liệu và phương pháp định giá, gồm nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ carbon và giá trị thiệt hại tránh được nhờ duy trì rừng.
Trước mắt, cần bổ sung “diện tích rừng tự nhiên” và một chỉ số chất lượng rừng thành chỉ tiêu bắt buộc công bố song hành với tỷ lệ che phủ, để khắc phục đúng hạn chế về cơ cấu dịch chuyển. Đồng thời, nên thí điểm hệ thống tài khoản tài sản và dịch vụ hệ sinh thái rừng tại khu vực Tây Nguyên – địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh nguồn nước, điều tiết khí hậu, đồng thời là nơi tập trung áp lực xâm hại rừng lớn nhất; kết quả thí điểm sẽ là cơ sở thực tiễn để hoàn thiện phương pháp lượng hóa và xem xét nhân rộng.
Về dài hạn, các hệ quả của suy giảm rừng như gia tăng nguy cơ lũ lụt, sạt lở, hạn hán và suy giảm nguồn nước cần được đưa vào đánh giá chi phí – lợi ích của mọi quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Theo đó, ngân sách dành cho bảo vệ rừng đầu nguồn cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư phòng ngừa rủi ro thiên tai và bảo vệ tài sản công, thay vì một khoản chi thường xuyên.
Hai là, hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích dựa trên kết quả bảo vệ rừng.
Nhóm giải pháp này nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn để gắn kết quyền quản lý, trách nhiệm bảo vệ và quyền hưởng lợi cũng như cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng với kết quả. Cần chuyển từ cơ chế khoán chủ yếu dựa trên diện tích và mức chi trả cố định sang cơ chế chia sẻ lợi ích gắn với kết quả bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng. Theo đó, người dân, hộ gia đình và cộng đồng địa phương không chỉ thực hiện nhiệm vụ nhận khoán mà còn được ghi nhận là chủ thể trực tiếp đóng góp vào việc duy trì và gia tăng giá trị của hệ sinh thái rừng.
Mức hưởng lợi có thể được xác định trên cơ sở công lao động, quyền sử dụng đất hợp pháp, tri thức bản địa, kết quả bảo vệ rừng và đóng góp vào quá trình phục hồi hệ sinh thái. Khi chất lượng rừng, trữ lượng carbon hoặc khả năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái được cải thiện, người bảo vệ rừng cần được chia sẻ lợi ích phù hợp từ chi trả dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ carbon, du lịch sinh thái, dược liệu và lâm sản ngoài gỗ.
Ba điều chỉnh kỹ thuật cần được thực hiện sớm. Một là, mở rộng biên độ hệ số K để chênh lệch chi trả phản ánh được thực chất khác biệt về chất lượng rừng, thay vì biên độ hẹp như hiện nay. Hai là, rút ngắn các khâu trung gian trong dòng tiền chi trả, hướng tới thanh toán trực tiếp qua tài khoản cho chủ rừng và hộ nhận khoán. Ba là, đa dạng hóa nguồn thu ngoài thủy điện – mở rộng đối tượng chi trả sang sản xuất công nghiệp, du lịch sinh thái và nay là dịch vụ hấp thụ carbon – để giảm rủi ro phụ thuộc một nguồn.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đã xác lập nguyên tắc chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon tạo ra từ dự án do mình thực hiện. Nhiệm vụ tiếp theo là ban hành hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ phân chia lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng, đơn vị nhận khoán và cộng đồng địa phương; đồng thời, số hóa hồ sơ lô rừng, hợp đồng giao khoán, kết quả giám sát và quá trình chi trả để bảo đảm tính công khai và có thể kiểm chứng. Qua đó, quản trị rừng chuyển dần từ mệnh lệnh hành chính sang kết hợp giữa trách nhiệm pháp lý và động lực kinh tế.
Ba là, hiện đại hóa quản trị bằng dữ liệu số và tiêu chuẩn có thể kiểm chứng.
Nhóm giải pháp này là điều kiện kỹ thuật để hai nhóm giải pháp trên vận hành được: không có dữ liệu tin cậy thì không thể hạch toán cũng không thể chi trả theo kết quả. Việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu không gian cho phép theo dõi biến động rừng thường xuyên, hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ xâm lấn, cháy rừng, suy giảm sinh khối và chuyển đổi đất rừng trái pháp luật, đồng thời giảm phụ thuộc vào báo cáo thủ công.
Bên cạnh đó, cần khuyến khích áp dụng các hệ thống chứng nhận quản lý rừng bền vững như FSC và PEFC nhằm nâng cao chuẩn mực quản trị và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc. Với diện tích được cấp chứng chỉ mới đạt khoảng 730.000 ha và chủ yếu là rừng trồng, dư địa mở rộng còn rất lớn, đặc biệt đối với rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý. Trong bối cảnh các quy định quốc tế về hàng hóa không gây mất rừng ngày càng chặt chẽ, minh bạch dữ liệu không chỉ phục vụ bảo tồn mà còn là điều kiện để lâm sản Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tiếp tục chú trọng xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị áp dụng cho các công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng, phản ánh diện tích và chất lượng rừng, trữ lượng carbon, khả năng điều tiết nguồn nước, mức độ đa dạng sinh học, tỷ lệ phục hồi rừng, thu nhập của người bảo vệ rừng và mức độ số hóa dữ liệu. Bộ chỉ số này cần gắn với trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, để kết quả đo lường thực sự tạo ra áp lực cải thiện chứ không dừng ở báo cáo.
5. Kết luận
Thực trạng quản trị rừng tự nhiên ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2025 cho thấy, một nghịch lý cần được nhìn thẳng: tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42,03% nhưng diện tích rừng tự nhiên tiếp tục giảm; nguồn thu dịch vụ môi trường rừng tăng nhưng chưa gắn với chất lượng rừng; khung pháp lý được bổ sung nhưng chủ thể trực tiếp giữ rừng vẫn chưa có lợi ích tương xứng. Ba điểm nghẽn – quyền và lợi ích chưa gắn kết, giá trị rừng chưa được hạch toán, chi trả chưa dựa trên kết quả – đều có chung một gốc: rừng tự nhiên chưa được đối xử như một tài sản kinh tế đa chức năng.
Ba nhóm giải pháp đề xuất trong bài có quan hệ tương hỗ: hạch toán vốn tự nhiên tạo ra thước đo, chia sẻ lợi ích dựa trên kết quả tạo ra động lực và dữ liệu số cùng tiêu chuẩn kiểm chứng tạo ra điều kiện thực thi. Việc triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp này sẽ góp phần phát huy giá trị đa chức năng của rừng tự nhiên, bảo đảm sinh kế cộng đồng và hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0”.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Quyết định số 561/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2025 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2018). Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng.
Chính phủ (2026). Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (29/12/2025). Ngành Lâm nghiệp hoàn thành và vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025, tạo nền tảng phát triển bền vững năm 2026. https://vnforest.gov.vn/2025/12/29/nganh-lam-nghiep-hoan-thanh-va-vuot-nhieu-chi-tieu-nam-2025-tao-nen-tang-phat-trien-ben-vung-nam-2026/
IPBES (2022). Summary for Policymakers of the Assessment Report on the Diverse Values and Valuation of Nature. IPBES Secretariat.
Pham, T. T., Loft, L., Bennett, K., Phuong, V. T., Dung, L. N., Brunner, J. (2015). Monitoring and Evaluation of Payment for Forest Environmental Services in Vietnam: From Myth to Reality. Ecosystem Services, số 16 (2015), tr. 220-229.
Phạm Hồng Lượng (2018). Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, số 1 (2018), tr. 198-202.
Quốc hội (2017). Luật Lâm nghiệp năm 2017.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (2025). Báo cáo kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2024.
ThienNhien.Net (05/6/2014). Tây Nguyên: Rừng chuyển sang trồng cao su có hoàn toàn… nghèo kiệt? https://www.thiennhien.net/2014/06/05/tay-nguyen-rung-chuyen-sang-trong-cao-su-co-hoan-toan-ngheo-kiet/
Trần Mạnh (25/4/2024). Quyết tâm hoàn thành sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp, không làm thay, đùn đẩy trách nhiệm. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/quyet-tam-hoan-thanh-sap-xep-doi-moi-cong-ty-nong-lam-nghiep-khong-lam-thay-khong-dun-day-trach-nhiem-102240425184040852.htm
Trần Mạnh Đương (2017). Đóng cửa rừng – ngổn ngang suy ngẫm. Thời báo Kinh tế Sài Gòn. https://thesaigontimes.vn/dong-cua-rung-ngon-ngang-suy-ngam/, truy cập ngày 25/6/2026.
United Nations (2021). System of Environmental-Economic Accounting—Ecosystem Accounting (SEEA EA). United Nations.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2025). Quyết định số 001/2025/QĐ-UBND ngày 07/7/2025 quy định các hệ số K thành phần làm cơ sở xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Văn phòng Chính phủ (2016). Thông báo số 191/TB-VPCP ngày 22/7/2016 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 – 2020.
Văn Toàn (02/8/2026). Tăng cường đấu tranh, xử lý vi phạm lâm luật. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/tang-cuong-dau-tranh-xu-ly-vi-pham-lam-luat-post978919.html



