Cơ sở chính trị và pháp lý của hoạt động truyền thông về thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam

The political and legal basis for communication activities on organic food in Vietnam

ThS. Phan Thị Thanh Huệ
Trường Công nghệ số liên ngành – Đại học Phenikaa
Email: hue.phanthithanh@phenikaa

(Quanlynhanuoc.vn) – Các nghiên cứu gần đây cho thấy, truyền thông về thực phẩm hữu cơ ngày càng được đặt trong khung chính sách về an toàn thực phẩm, quyền tiếp cận thông tin, minh bạch nhãn mác và thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều rào cản pháp lý, bao gồm: sự thiếu thống nhất về thuật ngữ, hạn chế công khai dữ liệu chứng nhận và khó kiểm soát quảng cáo sai lệch. Trên cơ sở đánh giá khách quan thực trạng truyền thông về thực phẩm hữu cơ tại Việt Nam, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm chuẩn hóa hoạt động truyền thông về thực phẩm hữu cơ, qua đó, bảo đảm tính minh bạch, chính xác và trách nhiệm; đồng thời, góp phần làm rõ vai trò của truyền thông trong việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về tiêu dùng bền vững.

Từ khóa: Truyền thông chính sách; thực phẩm hữu cơ; tiêu dùng bền vững; bảo vệ người tiêu dùng; quản trị nhà nước.
Abstract: Recent studies indicate that communication on organic food has increasingly been framed within policy agendas concerning food safety, the right to access information, labeling transparency, and the promotion of sustainable production and consumption. Nevertheless, several legal barriers remain, including inconsistent terminology, limited public access to certification data, and difficulties in regulating misleading advertising. Based on an objective assessment of the current state of organic food communication in Vietnam, this article proposes several policy implications aimed at standardizing organic food communication to ensure greater transparency, accuracy, and accountability. In doing so, it highlights the role of communication in enhancing consumer awareness of sustainable consumption.
Keywords: Policy communication; organic food; sustainable consumption; consumer protection; public governance.
1. Đặt vấn đề

Trong hơn một thập kỷ qua, tiêu dùng bền vững đã chuyển từ một khái niệm học thuật sang một định hướng chính sách và xu hướng tiêu dùng ngày càng hiện diện rõ rệt trong đời sống xã hội. Khảo sát của Viện Nghiên cứu giá trị doanh nghiệp thuộc Viện Giá trị kinh doanh của Tập đoàn về công nghệ máy tính đa quốc gia (International Business Machines – IBM) đã khảo sát hơn 14.000 người trưởng thành từ 9 quốc gia (Brazil, Canada, Trung Quốc, Đức, Ấn Độ, Mexico, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) vào tháng 3/2021. Kết quả cho thấy, 93% người tiêu dùng toàn cầu khẳng định đại dịch Covid-19 ảnh hưởng đến quan điểm của họ về tính bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và gia tăng lo ngại về an toàn thực phẩm, người tiêu dùng ở nhiều quốc gia ngày càng quan tâm đến những sản phẩm có quy trình sản xuất thân thiện môi trường, minh bạch nguồn gốc và hạn chế tác động tiêu cực đến sức khoẻ.

Hiện nay, thực phẩm hữu cơ được xem như một điển hình của mô hình sản xuất và tiêu dùng có trách nhiệm. Nông nghiệp hữu cơ đã được thực hành tại gần 190 quốc gia, với gần 99 triệu hecta đất nông nghiệp hữu cơ và doanh số bán lẻ thực phẩm hữu cơ toàn cầu vượt 136 tỷ euro vào năm 2023, đồng thời nhấn mạnh vai trò ngày càng lớn của các chính sách công trong việc kết nối sản xuất hữu cơ với tiêu dùng bền vững, bảo vệ môi trường và phát triển nông thôn.

Tại Việt Nam, mức sống tăng lên, phân khúc tiêu dùng trung lưu mở rộng, bán lẻ hiện đại phát triển và thương mại điện tử bùng nổ đã làm thay đổi mạnh cấu trúc nhu cầu thực phẩm. Cùng với đó, các vụ việc liên quan đến an toàn thực phẩm, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, gian lận nhãn mác và quảng cáo sai sự thật khiến người tiêu dùng nhạy cảm hơn với những cam kết về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Vì vậy, thực phẩm hữu cơ không chỉ được nhìn như một lựa chọn dinh dưỡng, mà còn là lựa chọn đạo đức và môi trường.

Tuy nhiên, một thị trường hữu cơ chỉ có thể phát triển bền vững khi người tiêu dùng có khả năng nhận biết, tin cậy và kiểm chứng thông tin. Điều này làm cho truyền thông trở thành một yếu tố trung tâm. Truyền thông về thực phẩm hữu cơ không đơn thuần là quảng bá sản phẩm, mà là quá trình cung cấp thông tin, định hướng hành vi, xây dựng niềm tin, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc và làm rõ khác biệt giữa khái niệm “hữu cơ” với các khái niệm gần giống như “sạch”, “an toàn”, “tự nhiên” hay “thuần tự nhiên”. Nếu thiếu nền tảng truyền thông chuẩn mực, thị trường thực phẩm hữu cơ rất dễ bị nhiễu thông tin, bị lợi dụng bởi các cách gọi mập mờ và khó tạo được niềm tin dài hạn của công chúng.

Ở Việt Nam, cơ sở chính trị và pháp lý cho truyền thông về thực phẩm hữu cơ đã dần hình thành khá rõ. Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 22/01/2019 của Ban Bí thư nhấn mạnh công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải gắn với tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật. Quyết định số 1045/QĐ-TTg ngày 17/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình truyền thông về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó yêu cầu tuyên truyền sâu rộng về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 tiếp tục bổ sung yêu cầu thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững hướng đến kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Các văn bản này cho thấy truyền thông không còn là hoạt động hỗ trợ bên ngoài, mà đã trở thành một công cụ chính sách trong quản trị tiêu dùng bền vững.

2. Cơ sở chính trị và pháp lý của hoạt động truyền thông về thực phẩm hữu cơ

Sự gia tăng của tiêu dùng hữu cơ không thể giải thích chỉ bằng sự thay đổi thị hiếu đơn lẻ. Nó phản ánh một quá trình tái cấu trúc sâu hơn trong quan hệ giữa sản xuất, môi trường, sức khỏe và thông tin. Trong các nền kinh tế phát triển, tiêu dùng hữu cơ gắn với lo ngại về tồn dư hóa chất, khủng hoảng niềm tin đối với chuỗi thực phẩm công nghiệp, và sự mở rộng của các giá trị sống xanh. Trong các nền kinh tế đang phát triển, xu hướng này còn gắn với đô thị hóa, tầng lớp trung lưu mới, sự phát triển của bán lẻ hiện đại và nhu cầu sống khỏe. Báo cáo của FiBL và IFOAM cho thấy, thị trường hữu cơ toàn cầu ngày càng mở rộng và được thể chế hóa qua các tiêu chuẩn, cơ chế chứng nhận và công cụ truyền thông. Điểm đáng chú ý là sản phẩm hữu cơ có tính chất thông tin cao. Khác với hàng hóa mà chất lượng có thể cảm nhận ngay bằng trải nghiệm sử dụng đơn giản, giá trị của thực phẩm hữu cơ phụ thuộc vào những yếu tố khó thấy bằng mắt thường như quy trình canh tác, nguồn gốc đầu vào, thời gian chuyển đổi đất, kiểm tra độc lập và tiêu chuẩn chứng nhận. Vì vậy, người tiêu dùng buộc phải dựa vào nhãn mác, giấy chứng nhận, logo và thông tin do doanh nghiệp cung cấp hoặc do cơ quan quản lý xác thực. Điều này làm cho truyền thông trở thành một phần cấu thành của thị trường hữu cơ, chứ không chỉ là công cụ tiếp thị phụ trợ.

Ở Việt Nam, nhu cầu đối với thực phẩm hữu cơ tăng lên cùng với các quan tâm về an toàn thực phẩm, sức khỏe và môi trường sống. Trong giao dịch mua – bán, lòng tin của khách hàng được định nghĩa như là niềm tin chắc chắn rằng, người bán sẽ luôn hành động sao cho những lợi ích lâu dài của khách hàng luôn được họ đáp ứng.

Chính vì vậy, khi xét đến truyền thông hữu cơ, vấn đề cốt lõi không phải là làm sao nói nhiều hơn về sản phẩm, mà là làm sao xây dựng hệ sinh thái thông tin đáng tin cậy để người tiêu dùng có thể phân biệt giữa lời quảng bá và bằng chứng xác thực. Từ góc độ này, truyền thông bao gồm ít nhất bốn chức năng: chức năng cung cấp thông tin; chức năng giáo dục nhận thức; chức năng xây dựng niềm tin xã hội; và chức năng hỗ trợ điều tiết thị trường. Khi truyền thông được thiết kế đúng, nó có thể giúp người tiêu dùng hiểu thế nào là hữu cơ, nhận diện nhãn mác, kiểm tra chứng nhận, từ đó đưa ra quyết định tiêu dùng phù hợp hơn với lợi ích sức khỏe và môi trường. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chính sách, tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho hoạt động này, trong đó có thể kể đến:

Trước hết, Chỉ thị số 30-CT/TW của Ban Bí thư đã xác định việc bảo vệ người tiêu dùng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài. Đồng thời nhấn mạnh, các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách và pháp luật. Chỉ thị không chỉ đề cập việc xử lý vi phạm hay hoàn thiện bộ máy quản lý mà đặt truyền thông và giáo dục vào trung tâm của công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Qua đó cho thấy, Đảng nhìn nhận thay đổi nhận thức xã hội là nền tảng của thay đổi hành vi tiêu dùng.

Đây là cách tiếp cận này rất có ý nghĩa đối với hoạt động truyền thông về thực phẩm hữu cơ. Sản phẩm tiêu dùng hữu cơ là loại hàng hoá mà giá trị sử dụng và giá trị xã hội đều phụ thuộc vào sự hiểu biết của người dân. Nếu người tiêu dùng không phân biệt được khái niệm “thực phẩm hữu cơ” với các khái niệm “thực phẩm sạch” hoặc “thực phẩm an toàn”, hoặc không hiểu vai trò của chứng nhận và truy xuất nguồn gốc, thì thị trường thực phẩm hữu cơ khó hình thành một nền tảng niềm tin bền vững. Do đó, khi Chỉ thị số 30-CT/TW nhấn mạnh tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật, có thể xem đây là cơ sở chính trị để xây dựng các chiến dịch truyền thông riêng cho thực phẩm hữu cơ trong khuôn khổ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Cùng với đó, Quyết định số 1045/QĐ-TTg ngày 17/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình truyền thông về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời, đặt ra mục tiêu: tuyên truyền sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân về phát triển bền vững; đồng thời gắn kết nội dung phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa – xã hội. Trong đó, yêu cầu truyền thông về tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững, cách sống hài hòa với thiên nhiên và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên.

Ý nghĩa của Quyết định số 1045/QĐ-TTg là tạo ra cơ sở chi tiết hơn cho truyền thông về thực phẩm hữu cơ. Thực phẩm hữu cơ không phải là một chủ đề tách rời mà là một điển hình của nông nghiệp bền vững, tiêu dùng xanh và lối sống hài hoà với thiên nhiên. Do đó, khi chương trình truyền thông về phát triển bền vững nhấn mạnh nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường, đã gián tiếp tạo cơ sở cho việc truyền thông và giáo dục công chúng về thực phẩm hữu cơ.

Ngoài ra, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân theo hướng đổi mới sáng tạo, xanh và bền vững. Theo góc độ này, doanh nghiệp sản xuất/phân phối thực phẩm hữu cơ không chỉ là chủ thể kinh doanh mà còn là chủ thể đồng hành với mục tiêu phát triển quốc gia. Truyền thông về thực phẩm hữu cơ vừa phục vụ kinh doanh cho từng doanh nghiệp, đồng thời phục vụ định vị hình ảnh doanh nghiệp trong hệ sinh thái tăng trưởng xanh.

Đặc biệt, đã có nhiều văn bản luật chuyên ngành đã được ban hành, trong đó tạo căn cứ pháp lý cho hoạt động này, như: Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã điều chỉnh các hoạt động liên quan đến bảo đảm an toàn thực phẩm, bao gồm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, quảng cáo, ghi nhãn, kiểm nghiệm và thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm. Đặc biệt, tại Điều 4 quy định Nhà nước có trách nhiệm tăng cường đầu tư, đa dạng hoá hình thức tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn. Quy định này khẳng định truyền thông là một nhiệm vụ của quản lý nhà nước. Nhà nước không chỉ ban hành chuẩn mực mà còn phải làm cho chuẩn mực đó được hiểu, được lan toả và được chuyển hoá thành hành vi xã hội. Đối với thực phẩm hữu cơ, quy định này tạo cơ sở pháp lý cho các chương trình phổ biến kiến thức về an toàn, truy xuất nguồn gốc, ghi nhãn và phân biệt sản phẩm hữu cơ với sản phẩm thông thường. Khi gắn với thực phẩm hữu cơ, truyền thông về an toàn thực phẩm được mở rộng thêm chiều khía cạnh về bảo vệ môi trường và các lợi ích về sức khỏe dài hạn.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 tiếp tục mở rộng cách tiếp cận đó theo hướng mới hơn. Một điểm mới quan trọng của luật này là khái niệm tiêu dùng bền vững được đưa vào nội dung luật. Theo nguồn công bố giải thích luật, tiêu dùng bền vững là việc sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đáp ứng mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức một cách hiệu quả, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Việc luật chính thức hoá khái niệm này có ý nghĩa nền tảng đối với truyền thông về thực thực phẩm hữu cơ, vì hữu sử dụng thực phẩm cơ chính là một biểu hiện cụ thể của lựa chọn tiêu dùng có trách nhiệm. Ngoài ra, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 còn gắn bảo vệ người tiêu dùng với trách nhiệm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững hướng đến kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Điều này cho thấy, Nhà nước không chỉ muốn bảo vệ người tiêu dùng khỏi rủi ro thông tin sai lệch hay hàng hoá kém chất lượng, mà còn muốn định hướng hành vi tiêu dùng theo mục tiêu phát triển bền vững. Trong khung đó, truyền thông về thực phẩm hữu cơ trở thành một công cụ giúp người dân tiếp cận thông tin chính xác, hiểu lợi ích của tiêu dùng bền vững và hình thành thói quen lựa chọn phù hợp hơn với mục tiêu dài hạn của xã hội.

Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính phủ về nông nghiệp hữu cơ là văn bản pháp lý chuyên ngành quan trọng nhất đối với truyền thông về thực phẩm hữu cơ. Đặc biệt, quy định chi tiết về sản xuất, chứng nhận, ghi nhãn, lô gô, truy xuất nguồn gốc, kinh doanh và kiểm tra nhà nước đối với sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Trong hoạt động truyền thông, đây là căn cứ giúp xác định thế nào là thông tin đúng về sản phẩm thực phẩm hữu cơ và đâu là cách diễn đạt sai lệch. Nếu một sản phẩm chưa có chứng nhận nhưng được quảng bá như một sản phẩm hữu cơ, hoặc nếu nhãn mác sử dụng thuật ngữ gây nhầm lẫn với chuẩn hữu cơ, thì truyền thông đó đi ra ngoài phạm vi pháp lý được phép. Do đó, Nghị định số 109/2018/NĐ-CP không chỉ điều chỉnh sản xuất mà còn gián tiếp định hình ngôn ngữ truyền thông về thực phẩm hữu cơ trên thị trường.

Luật Quảng cáo năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung một nền tảng quan trọng để kiểm soát thông điệp quảng cáo liên quan đến thực phẩm hữu cơ. Luật tăng cường yêu cầu về tính trung thực, chính xác, rõ ràng của nội dung quảng cáo và mở rộng trách nhiệm của chủ thể quảng cáo trên môi trường số. Quy định này đặc biệt có ý nghĩa vì nhiều hành vi truyền thông sai lệch không nằm ở việc nói hoàn toàn sai, mà ở cách dùng thuật ngữ mập mờ, phóng đại lợi ích hoặc gắn “hữu cơ” với những sản phẩm chưa có chứng nhận phù hợp. Vì vậy, Luật Quảng cáo (sửa đổi) năm 2025 tạo thêm hành lang pháp lý để xử lý hành vi cố tình dùng sai thuật ngữ và quảng cáo sai sự thật.

Ngoài ra, hệ thống tiêu chuẩn TCVN 11041 tiếp tục cụ thể hóa khung pháp lý đó ở cấp độ kỹ thuật. Các phần của tiêu chuẩn quy định những yêu cầu khác nhau đối với sản xuất, chế biến, trồng trọt, ghi nhãn và chứng nhận trong nông nghiệp hữu cơ. Về mặt truyền thông, tiêu chuẩn này cung cấp cơ sở khách quan để doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng sử dụng một bộ ngôn ngữ thống nhất. Khi đã có chuẩn kỹ thuật, truyền thông về thực phẩm hữu cơ mới có thể chuyển từ mô tả cảm tính sang thông tin có thể kiểm chứng.

3. Một số hạn chế, bất cập trong hệ thống văn bản

Một là, còn thiếu thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ.

Mặc dù Điều 11 Nghị định số 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ đã nêu rõ: “Việc sử dụng cụm từ “100% hữu cơ”, “hữu cơ” hoặc “sản xuất từ thành phần hữu cơ” kèm theo tỷ lệ các thành phần cấu tạo trên nhãn sản phẩm hữu cơ theo quy định tại tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ”. Trên thực tế, các khái niệm “hữu cơ”, “100% hữu cơ”, “sản xuất từ thành phần hữu cơ” “sạch” hay “an toàn”, “tự nhiên”, “thân thiện với môi trường” vẫn bị dùng lẫn lộn trong truyền thông thương mại. Vì thực phẩm hữu cơ thường có giá trị cao hơn sản phẩm thông thường, động cơ thương mại khiến một số chủ thể có xu hướng sử dụng ngôn ngữ tiếp thị mạnh để tạo lợi thế cạnh tranh. Trong trường hợp thiếu giám sát, có thể dẫn đến truyền thông sai lệch, xâm hại niềm tin của người tiêu dùng và làm méo mó cạnh tranh thị trường. Tại diễn đàn Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam – phát triển và hội nhập, các đại biểu đã chỉ ra tình trạng: nhiều sản phẩm gắn mác “thực phẩm hữu cơ” tuy nhiên thực tế lại không có chứng nhận nào được cấp. Thậm chí, có sản phẩm quảng cáo là “thực phẩm hữu cơ” nhưng lại “tự khai” trên bao bì được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.

Hai là, hạn chế về dữ liệu chứng nhận và truy xuất nguồn gốc.

Về nguyên tắc, thị trường thực phẩm hữu cơ cần một hệ sinh thái minh bạch, trong đó người tiêu dùng có thể tra cứu đơn vị chứng nhận, thời hạn chứng nhận, phạm vi chứng nhận và tình trạng hiệu lực của chứng nhận. Hiện nay, đã tồn tại các mô hình tra cứu chứng nhận hữu cơ công khai, chẳng hạn cơ sở dữ liệu USDA Organic Integrity Database, cho phép người tiêu dùng kiểm tra thông tin nhà cung ứng và tình trạng chứng nhận; tuy nhiên, ở Việt Nam, dữ liệu tra cứu chứng nhận hữu cơ vẫn chưa thật sự tập trung, thống nhất và thân thiện với người dùng.

Ba là, rào cản về phối hợp chính sách.

Truyền thông về thực phẩm hữu cơ liên quan đồng thời đến nông nghiệp, công thương, y tế, khoa học và công nghệ, quản lý thị trường, báo chí và các nền tảng số. Nếu các cơ quan này không có chung chuẩn nội dung hoặc không chia sẻ dữ liệu, chiến dịch truyền thông sẽ phân tán, thiếu thống nhất và khó tạo hiệu quả xã hội. Đây là lý do vì sao truyền thông hữu cơ cần được nhìn nhận như một chính sách liên ngành chứ không chỉ là hoạt động của riêng doanh nghiệp hoặc riêng cơ quan báo chí.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, cần ban hành hướng dẫn truyền thông chuyên biệt cho sản phẩm hữu cơ.

Theo đó, hướng dẫn này cần xác định rõ những thuật ngữ được phép sử dụng, nội dung bắt buộc khi giới thiệu sản phẩm, yêu cầu về chứng nhận và quy tắc công bố thông tin trên nhãn, website và các nền tảng số. Khi có khung chuẩn, doanh nghiệp sẽ giảm nguy cơ truyền thông thiếu thống nhất, đồng thời cơ quan quản lý sẽ dễ giám sát hơn.

Việc chuẩn hóa ngôn ngữ truyền thông cũng giúp hạn chế tình trạng dùng các từ ngữ gây nhầm lẫn như “sạch”, “tự nhiên” hay “an toàn” thay cho “hữu cơ”. Qua đó, thông điệp đưa ra công chúng sẽ rõ ràng hơn và có cơ sở pháp lý hơn

Thứ hai, cần xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về chứng nhận và tiêu chuẩn hữu cơ.

Đây là điều kiện quan trọng để biến truyền thông thành thông tin có thể kiểm chứng. Dữ liệu nên bao gồm: tên cơ sở sản xuất, đơn vị chứng nhận, thời hạn hiệu lực, phạm vi chứng nhận và trạng thái cập nhật. Trong môi trường số, một cơ sở dữ liệu thân thiện với người dùng còn giúp giảm đáng kể chi phí tìm kiếm thông tin của người tiêu dùng. Nếu được tích hợp với mã QR hoặc cổng tra cứu trực tuyến, hệ thống này sẽ tăng tính minh bạch, giúp ngăn chặn hàng giả, nâng cao uy tín cho doanh nghiệp và củng cố niềm tin trên thị trường.

Thứ ba, tiếp tục tăng cường chế tài đối với quảng cáo sai sự thật và các hành vi gắn nhãn sai.

Trong thị trường thực phẩm hữu cơ, niềm tin là tài sản cốt lõi, từ đó quyết định thương hiệu của doanh nghiệp và tạo sự trung thành của người tiêu dùng đối với sản phẩm, đồng thời cũng giúp các doanh nghiệp vượt qua các rào cản chi phí cao. Thực tế cho thấy, một khi người tiêu dùng mất niềm tin vào nhãn mác hoặc chứng nhận, tác động tiêu cực không chỉ dừng ở một sản phẩm mà có thể lan sang toàn bộ phân khúc tiêu dùng hữu cơ.

Vì vậy, chế tài cần phải đủ nghiêm, đủ nhanh và đủ công khai để tạo hiệu ứng răn đe và buộc các chủ thể tuân thủ nghiêm túc pháp luật. Bên cạnh xử phạt, cần tăng cường công khai các trường hợp vi phạm để nâng cao tính cảnh báo cũng như nâng cao ý thức tự giác tuân thủ pháp luật trong toàn xã hội.

Thứ tư, cần lồng ghép truyền thông về thực phẩm hữu cơ vào các chương trình giáo dục công chúng về tiêu dùng bền vững.

Khi thực phẩm hữu cơ được đặt trong mạch câu chuyện lớn hơn của sức khỏe, môi trường và trách nhiệm xã hội, thông điệp truyền thông sẽ có chiều sâu hơn và có khả năng thay đổi hành vi lâu dài hơn. Cách tiếp cận này giúp người dân không chỉ hiểu hữu cơ là gì mà còn hiểu vì sao nó gắn với lựa chọn tiêu dùng có trách nhiệm. Từ đó, sẽ chuyển hóa nhận thức thành hành động mua sắm bền vững và hình thành thói quen tiêu dùng văn minh, nhất quán và thân thiện với môi trường.

Thứ năm, cần tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý.

Sự phối hợp liên ngành và đồng bộ của các cơ quan quản lý nông nghiệp, y tế, công thương, khoa học và công nghệ, quản lý thị trường và hệ thống báo chí là điều kiện để hình thành sự đồng bộ trong nhận thức xã hội về thực phẩm hữu cơ. Nếu thiếu sự phối hợp này, thông điệp về thực phẩm hữu cơ rất dễ bị chia cắt, chồng chéo hoặc mâu thuẫn. Ngoài ra, cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu và thống nhất đầu mối truyền thông để tránh tình trạng mỗi cơ quan truyền tải một cách hiểu khác nhau về cùng một khái niệm.
5. Kết luận

Truyền thông về thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam không phải là hoạt động thuần tuý thương mại mà là một cấu phần của chính sách công nhằm thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Chỉ thị số 30-CT/TW cho thấy, Đảng coi tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật là phương thức quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tại Quyết định số 1045/QĐ-TTg đã mở rộng sang phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và nông nghiệp bền vững. Luật An toàn thực phẩm, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị định số 109/2018/NĐ-CP và hệ thống TCVN 11041 tạo thành nền pháp lý tương đối đầy đủ cho việc sản xuất, chứng nhận, ghi nhãn và truyền thông về sản phẩm hữu cơ. Tuy nhiên, hiệu quả truyền thông vẫn bị giới hạn bởi sự thiếu thống nhất thuật ngữ, khó khăn trong công khai dữ liệu chứng nhận và rủi ro quảng cáo sai lệch. Do đó, để truyền thông hữu cơ thực sự góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tiêu dùng bền vững, Việt Nam cần chuẩn hóa thông điệp, minh bạch hóa dữ liệu và tăng cường phối hợp liên ngành. Đây là điều kiện để truyền thông không chỉ làm rõ sản phẩm hữu cơ mà còn góp phần định hình văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm trong xã hội hiện đại.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2019). Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 22/01/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Bình Minh (23/12/2017). Nhận diện sản phẩm hữu cơ. VietNamNet. https://vietnamnet.vn/nhan-dien-san-pham-huu-co-419438.html
Bộ Chính trị (2019). Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 22/01/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với công tác bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2017). TCVN 11041-1:2017: Nông nghiệp hữu cơ – Phần 1: Yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. https://isovnc.com/tai-lieu/tcvn-11041-1-2017/
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Công văn số 793/BNNMT-VP ngày 04/4/2025 về việc định hướng tuyên truyền, truyền thông về nông nghiệp và môi trường năm 2025.
Chính phủ (2018). Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 về nông nghiệp hữu cơ.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 04/4/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
European Commission (2025, December 17). Organic rulebook fit for the future. https://agriculture.ec.europa.eu/media/news/organic-rulebook-fit-future-2025-12-17_en
FiBL, & IFOAM – Organics International (2025). The world of organic agriculture: Statistics and emerging trends 2025. https://www.fibl.org/fileadmin/documents/shop/1797-organic-world-2025.pdf
Nguyễn Hoàng Sơn, Trương Thị Hóa, Nguyễn Thị Thúy, & Trần Thanh Phong (2023). Niềm tin nhận thức và ý định mua sắm trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp các nền tảng thương mại điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, (27), 41–50. https://tapchi.tueba.edu.vn/?p=2729
Nguyễn Thị Phương Linh (2022). Tiêu dùng bền vững trong bối cảnh COVID-19: Nghiên cứu thực nghiệm với lý thuyết hành vi có kế hoạch. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (306), 60–70. https://doi.org/10.33301/JED.VI.790
Nguyễn Bách Khoa, Nguyễn Hoàng Việt, Lê Thị Trâm Anh, Nguyễn Thế Ninh, Vũ Phương Anh, Phan Thanh Tú, Phạm Minh Đạt, Nguyễn Hoàng Giang, & Bùi Lan Phương (2023). Tiêu dùng bền vững: Nghiên cứu từ góc độ hành vi mua của người tiêu dùng đối với thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam. Trường Đại học Thương mại.
Nguyen, N. T., Saxena, G., Bhattarai, K., & Hoang, H. A. (2025). A quantitative study on the consumption of organic fruits and vegetables in Vietnam. SAGE Open, 15(2). https://doi.org/10.1177/21582440251348843
Open Development Mekong (2020). National action plan on sustainable production and consumption issued. https://vietnam.opendevelopmentmekong.net/news/national-action-plan-on-sustainable-production-consumption-issued/
Phan, T. L., Nguyễn Thị Như Hảo, & Nguyễn Tấn Lộc (31/7/2023). Nhận thức và thái độ của người tiêu dùng dẫn đến ý định ra quyết định mua thực phẩm hữu cơ. Tạp chí Công Thương. https://ojs.tapchicongthuong.vn/vi/ojs-post/nhan-thuc-va-thai-do-cua-nguoi-tieu-dung-dan-den-y-dinh-ra-quyet-dinh-mua-thuc-pham-huu-co-108302.htm
Quốc hội (2010). Luật An toàn thực phẩm năm 2010.
Quốc hội. (2023). Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Quốc hội (2025). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 1045/QĐ-TTg ngày 17/8/2018 phê duyệt Chương trình truyền thông về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 – 2030.
Trávníček, J., Schlatter, B., Helbing, M., & Willer, H. (2025). The world of organic agriculture 2025: Summary. In H. Willer, J. Trávníček, & B. Schlatter (Eds.). The world of organic agriculture: Statistics and emerging trends 2025 (pp. 20–31). FiBL & IFOAM – Organics International. https://orgprints.org/id/eprint/55036/
Vietnam Briefing (16/3/2025). Vietnam introduces national action plan for circular economy by 2035. https://www.vietnam-briefing.com/news/vietnam-national-action-plan-circular-economy-2035.html/