Quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động du lịch biển tại tỉnh Khánh Hòa

Economic governance of coastal tourism in Khanh Hoa Province

Lê Ngọc Đức Huy
Học
viên Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đánh giá công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với du lịch biển tại tỉnh Khánh Hòa, chỉ ra ba thách thức cốt lõi: hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công cho hạ tầng môi trường còn thấp; thất thu thuế do du lịch giá rẻ gắn với thanh toán điện tử lậu và xung đột không gian giữa nuôi trồng thủy sản ven bờ với đô thị du lịch. Nguyên nhân xuất phát từ năng lực kiểm soát tài chính số chưa đáp ứng thực tiễn, sự thiếu vắng cơ chế điều phối không gian biển tích hợp và chính sách chuyển đổi sinh kế cho ngư dân chưa đáp ứng yêu cầu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý tích hợp dựa trên nền tảng số, tập trung vào việc thắt chặt kỷ luật tài khóa, kiểm soát dòng tiền trực tuyến và thúc đẩy chuyển đổi công nghệ nhằm nuôi biển bền vững. Các giải pháp này nhằm lập lại trật tự thị trường, bảo tồn tài nguyên sinh thái và thúc đẩy du lịch biển Khánh Hòa phát triển bền vững trong dài hạn.

Từ khóa: Du lịch biển; đầu tư công; Khánh Hòa; quản lý nhà nước.

Abstract: This study comprehensively evaluates the state economic management of marine tourism in Khanh Hoa Province, highlighting three core challenges: low efficiency in public investment disbursement for environmental infrastructure; tax evasion stemming from budget tourism combined with illegal electronic payment methods; and spatial conflicts between coastal aquaculture and urban tourism development. These limitations originate from inadequate digital financial management capacities, the absence of an integrated marine spatial planning mechanism, and insufficient livelihood conversion policies for local fishermen. Consequently, the research proposes a digitally enabled integrated management model focused on tightening fiscal discipline, monitoring online cash flows, and transitioning toward sustainable marine aquaculture technology. These solutions aim to restore market order, preserve ecological resources, and foster the long-term sustainable development of Khanh Hoa’s marine tourism economy.

Keywords: Marine tourism; public investment; Khanh Hoa province; state management.

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển của kinh tế biển hiện nay đang khẳng định vai trò là động lực then chốt quyết định diện mạo tăng trưởng của các địa phương duyên hải. Tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, tỉnh Khánh Hòa sở hữu vị thế kinh tế địa lý đặc thù cùng hệ thống vịnh biển tự nhiên quý giá, tạo tiền đề để khai thác các loại hình dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp. Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030 đã đặt ra tầm nhìn đưa địa phương này trở thành thành phố trực thuộc Trung ương (Bộ Chính trị, 2022), một trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế và là cực tăng trưởng hạt nhân của cả vùng. Thực tiễn những năm qua cho thấy du lịch biển đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tỷ trọng quyết định vào GRDP của tỉnh và đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy các ngành dịch vụ phụ trợ phát triển (Thanh Quang, 2023).

Tuy nhiên, sự bùng nổ nhanh chóng của hoạt động du lịch biển cũng làm phát sinh những hệ lụy kinh tế và xã hội phức tạp, vượt quá năng lực điều tiết của bộ máy quản lý nhà nước hiện có. Lý thuyết kinh tế học công cộng chỉ ra rằng thị trường du lịch tự do luôn chứa đựng những khuyết tật cố hữu như tác động tiêu cực đến môi trường, sự bất đối xứng thông tin về chất lượng dịch vụ và nguy cơ khai thác quá mức các nguồn tài nguyên dùng chung. Tại Khánh Hòa, những biểu hiện thất bại của thị trường đã xuất hiện rõ nét qua tình trạng ô nhiễm môi trường nước ven bờ, sự suy thoái nghiêm trọng của các rạn san hô tại Vịnh Nha Trang và hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh thông qua các tour du lịch giá rẻ. Những xung đột không gian giữa ngành nuôi trồng thủy sản truyền thống của người dân địa phương và các dự án đô thị du lịch sinh thái quy mô lớn đang tạo ra những rạn nứt về mặt an sinh xã hội.

Thực trạng này đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản trong tư duy và phương thức quản lý nhà nước về kinh tế đối với du lịch biển. Nhà nước không thể tiếp tục can thiệp bằng các biện pháp hành chính, sự vụ mang tính đối phó mà cần thiết lập một khung khổ thể chế quản trị hiện đại, sử dụng các công cụ kinh tế để định hướng và điều tiết thị trường (Lạc Nguyên, 2026). Việc nghiên cứu, nhận diện chính xác các điểm nghẽn kinh tế hiện nay tại Khánh Hòa sẽ cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn quan trọng giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách tài khóa, quản lý giá cả và tái cấu trúc không gian biển một cách hiệu quả, bền vững.

2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với du lịch biển tại tỉnh Khánh Hòa

2.1. Phân bổ nguồn lực và hiệu quả đầu tư hạ tầng du lịch biển tại Khánh Hòa

Đầu tư công đóng vai trò là nguồn lực dẫn dắt, tạo nền tảng hạ tầng kỹ thuật để thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách tham gia phát triển kinh tế du lịch biển. Nhận thức rõ điều này, tỉnh Khánh Hòa đã thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 với tổng nguồn vốn huy động đạt hơn 51.362 tỷ đồng, kết hợp với nguồn lực đầu tư mạnh mẽ của các địa phương sáp nhập nhằm tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ du lịch. Định hướng đầu tư cho giai đoạn 2026-2030 tiếp tục được mở rộng với quy mô dự kiến hơn 300 dự án và tổng vốn đầu tư công đạt khoảng 140.000 tỷ đồng. Nguồn vốn khổng lồ này được kỳ vọng sẽ giải quyết căn bản bài toán kết nối giao thông giữa các vịnh biển trọng điểm Vân Phong, Nha Trang và Cam Ranh, tạo thành một hành lang kinh tế – du lịch ven biển đồng bộ (Phạm Trung Lương, 2024).

Mặc dù có nguồn lực tài chính lớn, hiệu quả đầu tư hạ tầng du lịch biển tại Khánh Hòa đang gặp phải những nút thắt nghiêm trọng ở khâu thực thi và giải ngân vốn. Tiến độ triển khai các công trình hạ tầng chiến lược thường xuyên bị kéo dài do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và sự rườm rà của các quy trình, thủ tục đấu thầu. Sự chậm trễ này dẫn đến tình trạng ứ đọng dòng vốn nhà nước, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn công và gây lãng phí cơ hội thu hút đầu tư tư nhân. Khi các trục đường giao thông đối ngoại và các cảng biển chuyên dụng phục vụ du lịch chậm hoàn thành, các nhà đầu tư chiến lược cũng chần chừ trong việc triển khai các siêu dự án nghỉ dưỡng cao cấp, khiến chu kỳ tăng trưởng mới của tỉnh chậm lại.

Mặt khác, cơ cấu phân bổ nguồn vốn đầu tư công hiện tại vẫn bộc lộ sự mất cân đối lớn giữa hạ tầng phục vụ lưu trú, giải trí và hạ tầng bảo vệ môi trường sinh thái biển. Sự bùng nổ của các cơ sở lưu trú với quy mô hơn 70.500 phòng, chủ yếu tập trung tại Nha Trang (Khánh Hòa) và bán đảo Cam Ranh, đã tạo áp lực cực lớn lên hệ thống xử lý chất thải. Trong khi các tổ hợp nghỉ dưỡng tư nhân phát triển với tốc độ nhanh chóng thì hệ thống gom nước thải và xử lý rác thải biển do nhà nước đầu tư lại triển khai rất chậm chạp.

Tình trạng nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý triệt để được xả trực tiếp ra các vịnh biển danh thắng đang đe dọa trực tiếp chất lượng nước biển và sự sinh tồn của các hệ sinh thái rạn san hô. Việc thiếu hụt các dự án hạ tầng môi trường quy mô lớn tại các vùng Nam Khánh Hòa đang tạo ra rủi ro sinh thái dài hạn, làm suy giảm năng lực cạnh tranh bền vững của toàn ngành du lịch. Để tháo gỡ điểm nghẽn này, cần đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và tối ưu hóa hiệu quả phân bổ nguồn vốn. Đây là giải pháp cấp bách.

2.2. Cơ chế quản lý giá dịch vụ và kiểm soát các hành vi lệch chuẩn kinh tế

Quản lý giá cả và lành mạnh hóa môi trường kinh doanh dịch vụ là nhiệm vụ cốt lõi của công tác quản lý nhà nước về kinh tế du lịch. Sự phát triển nóng của các thị trường khách quốc tế đã kéo theo sự xuất hiện và bùng phát nhanh chóng của mô hình kinh doanh tour lữ hành giá rẻ, hay còn gọi là tour không đồng. Đây là một hiện tượng lệch chuẩn kinh tế nghiêm trọng, vận hành bằng cách cắt giảm chi phí dịch vụ cơ bản xuống mức tối thiểu, sau đó bù đắp bằng các khoản hoa hồng ép buộc từ các chuỗi cửa hàng khép kín chuyên phục vụ du khách tham gia tour. Mô hình này không chỉ không mang lại đóng góp thực tế cho nền kinh tế địa phương mà còn gây ra tình trạng rò rỉ tài chính lớn thông qua các phương thức thanh toán điện tử bất hợp pháp.

Cơ chế thất thoát ngân sách của các tour không đồng diễn ra hết sức tinh vi thông qua việc sử dụng các máy thanh toán POS lậu được mang từ nước ngoài vào hoặc các ứng dụng ví điện tử trực tuyến không đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Du khách nước ngoài khi thực hiện các giao dịch mua sắm hàng hóa có giá trị cao như trầm hương, yến sào hay ngọc trai tại các cơ sở mua sắm khép kín sẽ quét mã thanh toán trực tiếp vào tài khoản ngân hàng ở nước ngoài (Viết Long, 2019). Toàn bộ dòng tiền lưu chuyển ngoài hệ thống kiểm soát của các ngân hàng thương mại Việt Nam và cơ quan thuế địa phương. Hệ quả là Nhà nước thất thu thuế nghiêm trọng, trong khi hạ tầng đô thị, tài nguyên biển và an ninh trật tự tại Nha Trang phải gánh chịu áp lực lớn từ lượng khách chi tiêu thấp. Sự bùng phát thiếu kiểm soát của mô hình này cũng đẩy các doanh nghiệp lữ hành nội địa làm ăn chân chính vào cuộc chiến phá giá, dẫn đến việc cắt giảm chất lượng các sản phẩm truyền thống, như sự xuống cấp của các tour tham quan các đảo trên Vịnh Nha Trang (Thành Nguyễn, 2018).

Bên cạnh đó, công tác quản lý giá cả dịch vụ thông thường của các cơ sở kinh doanh lữ hành, lưu trú trong nước vẫn gặp nhiều trở ngại do thiếu công cụ quản lý số hóa đồng bộ. Việc kê khai và đăng ký giá của các doanh nghiệp chủ yếu vẫn được thực hiện thủ công, tạo ra kẽ hở cho tình trạng nâng giá, ép giá du khách vào các dịp lễ hội và các sự kiện lớn. Cơ chế kiểm soát hiện tại, thông qua các đợt thanh tra đột xuất hoặc tiếp nhận phản ánh qua đường dây nóng hỗ trợ khách du lịch theo Quyết định số 2322/QĐ-UBND có hiệu lực từ ngày 02/12/2025, mới chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề. Nếu không thiết lập được một hệ thống đăng ký giá trực tuyến minh bạch kết hợp với việc kiểm soát dòng tiền giao dịch thực tế, cơ quan quản lý sẽ luôn ở thế bị động trước các hành vi thao túng giá của thị trường tự phát.

2.3. Xung đột lợi ích kinh tế giữa du lịch biển và các ngành kinh tế khác

Một trong những điểm nghẽn sâu sắc nhất trong quản lý phát triển kinh tế biển tại Khánh Hòa là sự xung đột về không gian kinh tế và lợi ích sinh kế giữa ngành du lịch dịch vụ và ngành nuôi trồng thủy sản ven bờ. Nghề nuôi tôm hùm và cá biển lồng bè từ lâu đã là nguồn sống chính của hàng vạn hộ ngư dân tại các vịnh Nha Trang và Cam Ranh. Việc nuôi trồng tự phát bằng lồng bè gỗ truyền thống với mật độ quá dày đặc, san sát nhau đã phá vỡ quy hoạch cảnh quan đô thị và cản trở luồng lạch giao thông hàng hải. Nghiêm trọng hơn, lượng thức ăn dư thừa, phân thủy sản và rác thải nhựa sinh hoạt xả thẳng ra biển từ các lồng bè này đã làm suy thoái chất lượng nước bãi tắm và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng tẩy trắng, chết hàng loạt của các rạn san hô quý hiếm tại vùng lõi bảo tồn biển Hòn Mun.

Sự mâu thuẫn này trở nên cực kỳ gay gắt khi đặt trong bối cảnh định hướng quy hoạch Cam Ranh trở thành đô thị du lịch – logistics hiện đại vào năm 2030. Để phục vụ mục tiêu phát triển du lịch sinh thái đẳng cấp, chính quyền tại đây phải thực hiện cắt giảm mạnh mẽ, tiến tới di dời phần lớn diện tích lồng bè nuôi trồng ven bờ, giảm diện tích nuôi tại vịnh Cam Ranh xuống chỉ còn 257 héc-ta, tương đương mức cắt giảm 59% so với quy hoạch trước đây. Quá trình giải phóng mặt nước biển này gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng ngư dân do lo ngại về sinh kế sau khi mất đi nghề nghiệp truyền thống. Việc sắp xếp tái định cư vùng nuôi đến các khu vực xa bờ hơn, như khu vực phía đông Cam Lập, đòi hỏi những tiêu chuẩn kỹ thuật nuôi biển khắt khe hơn rất nhiều.

Trở ngại lớn nhất hiện nay đối với việc chuyển đổi sang mô hình nuôi biển công nghiệp bền vững là rào cản về vốn và công nghệ. Công nghệ lồng HDPE nuôi xa bờ có khả năng chịu bão tốt, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường. Mặc dù đã chứng minh tính hiệu quả tại một số mô hình thí điểm như ở Đầm Bấy (Nha Trang), nhưng chi phí đầu tư ban đầu vẫn vượt quá khả năng tài chính của các hộ nuôi nhỏ lẻ. Doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính nhưng không mặn mà đầu tư do cơ chế giao quyền sử dụng mặt nước biển lâu dài cho doanh nghiệp còn thiếu rõ ràng và chưa đồng bộ với pháp luật về đất đai và thủy sản. Việc thiếu các chuỗi liên kết bền vững giữa người nuôi, các nhà chế biến và người tiêu thụ càng làm tăng rủi ro thị trường, khiến ngư dân tiếp tục bám trụ vào các lồng bè gỗ ven bờ bất chấp các lệnh cấm của chính quyền.

2.4. Đổi mới mô hình quản trị nhà nước về kinh tế đối với du lịch biển Khánh Hòa

Để giải quyết một cách triệt để các điểm nghẽn kinh tế nêu trên, công tác quản lý nhà nước cần phải chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức quản lý hành chính áp đặt sang mô hình quản trị kinh tế tích hợp, ứng dụng công nghệ hiện đại và lấy lợi ích của cộng đồng làm trọng tâm. Một chu trình quản lý nhà nước về kinh tế đối với du lịch biển bền vững cần được thiết kế và vận hành đồng bộ theo quy trình: “Quy hoạch không gian biển tích hợp – thẩm định và phân bổ vốn hạ tầng – giám sát dòng tiền  và kê khai giá điện tử – điều phối liên ngành xử lý xung đột – phát triển du lịch biển xanh bền vững”.

Mô hình quản lý tích cực này đòi hỏi sự phối hợp hành động thống nhất giữa các sở, ban, ngành chủ chốt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đối với việc phân bổ nguồn lực hạ tầng, tỉnh cần thực hiện kỷ luật giải ngân nghiêm ngặt theo mô hình “6 rõ” để đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng kỹ thuật trọng điểm (Báo Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Ưu tiên hàng đầu của dòng vốn đầu tư công phải được chuyển dịch từ việc chỉ tập trung xây dựng đường giao thông sang đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị và bảo tồn sinh thái biển tại các vịnh danh thắng. Đồng thời, cần áp dụng các cơ chế tài chính linh hoạt để huy động nguồn vốn xã hội hóa từ các tập đoàn kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào hạ tầng dịch vụ công cộng tại bãi biển, qua đó giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Đối với việc kiểm soát thị trường và ngăn chặn thất thu thuế từ tour không đồng, giải pháp then chốt nằm ở việc số hóa quy trình quản lý dòng tiền trong các giao dịch. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Khánh Hòa cần phối hợp chặt chẽ với Cục Thuế tỉnh để thực hiện thanh tra, kiểm tra toàn diện hoạt động thanh toán điện tử tại các điểm bán dịch vụ du lịch. Bắt buộc tất cả các cơ sở này phải sử dụng hệ thống máy POS được kết nối trực tiếp với các ngân hàng thương mại Việt Nam và áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền để cơ quan thuế kiểm soát doanh thu thực tế. Nghiêm cấm và tịch thu các thiết bị thanh toán lậu qua cổng nước ngoài, xử lý hình sự các cá nhân đứng tên hộ pháp nhân để trốn thuế cho các đường lữ hành chui. Song song đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh cần phát triển ứng dụng di động tích hợp, cho phép du khách thực hiện kê khai giá, đánh giá chất lượng dịch vụ trực tuyến và kết nối trực tiếp đến tổng đài hỗ trợ khẩn cấp để kịp thời can thiệp vào các hành vi gian lận thương mại.

Đối với việc giải quyết xung đột lợi ích giữa nuôi biển và du lịch, chính quyền tỉnh cần xây dựng chính sách tài chính hỗ trợ chuyển đổi mô hình nuôi biển một cách thực chất. Tỉnh cần thành lập quỹ tín dụng ưu đãi để hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ lồng bè gỗ truyền thống sang lồng nhựa HDPE thân thiện với môi trường, đồng thời hỗ trợ một phần chi phí mua bảo hiểm rủi ro thiên tai đối với nuôi biển xa bờ. Quy hoạch và giao quyền sử dụng khu vực biển lâu dài cho các hợp tác xã ngư dân, kết hợp mô hình nuôi biển công nghệ cao với các hoạt động trải nghiệm du lịch sinh thái ngay trên bè. Khi người dân địa phương được tham gia và chia sẻ lợi ích kinh tế trực tiếp từ chuỗi giá trị du lịch, họ sẽ trở thành lực lượng chủ động nhất trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái đại dương, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế biển phát triển bền vững.

3. Kết luận

Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế du lịch biển tại tỉnh Khánh Hòa thời gian qua đã chứng minh hướng đi đúng đắn trong việc khai thác các tiềm năng tự nhiên vượt trội nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương văn minh và hiện đại vào năm 2030, địa phương không thể tiếp tục duy trì mô hình tăng trưởng dựa trên việc thâm dụng tài nguyên thiên nhiên và thiếu kiểm soát thị trường. Những điểm nghẽn về hiệu quả đầu tư công, thất thoát dòng tiền từ các tour du lịch giá rẻ phi pháp và cuộc xung đột lợi ích gay gắt giữa bảo tồn cảnh quan và sinh kế nuôi trồng thủy sản ven bờ đang đặt ra yêu cầu cải cách thể chế và quản lý nhà nước một cách cấp bách.

Việc giải quyết dứt điểm các nút thắt kinh tế này không nằm ở các giải pháp hành chính rời rạc mà đòi hỏi một tư duy quản trị số hóa, tích hợp và chia sẻ lợi ích một cách hài hòa. Bằng việc thắt chặt kỷ luật đầu tư công, áp dụng công nghệ để kiểm soát chặt chẽ các giao dịch điện tử xuyên biên giới và chủ động hỗ trợ tài chính cho ngư dân chuyển đổi công nghệ nuôi biển an toàn sinh thái, Khánh Hòa hoàn toàn có thể xây dựng được một thị trường du lịch biển phát triển lành mạnh. Đây chính là nền tảng vững chắc để bảo vệ thương hiệu du lịch quốc tế của tỉnh, bảo đảm an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư địa phương và hướng tới một tương lai kinh tế biển xanh thịnh vượng, bền vững trong dài hạn.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/01/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
KS (2026). Khánh Hòa: Du lịch bứt phá, quyết liệt tháo gỡ “nút thắt” đầu tư công. Báo Nông nghiệp và Môi trường. https://nongnghiepmoitruong.vn/khanh-hoa-du-lich-but-pha-quyet-liet-thao-go-nut-that-dau-tu-cong-d808022.html
Trần Công Huân (2025). Phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/14/phat-trien-du-lich-ben-vung-tai-tinh-khanh-hoa-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te/
Phạm Trung Lương (2024). Định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trong bối cảnh mới. https://scholar.dlu.edu.vn/thuvienso/bitstream/DLU123456789/284995/1/103704-1033-213804-1-10-20241016.pdf
Viết Long (2019). Tour 0 đồng: “Không để Trung Quốc thao túng”. Báo Pháp Luật. https://tuoitre.vn/plo/tour-0-dong-khong-de-doanh-nghiep-trung-quoc-thao-tung-post524802.html
Lạc Nguyên (2026). Khánh Hòa tăng tốc giải ngân các dự án hạ tầng trọng điểm sau khi hoàn tất phân bổ vốn. Thời báo Tài chính Việt Nam. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/khanh-hoa-tang-toc-giai-ngan-cac-du-an-ha-tang-trong-diem-sau-khi-hoan-tat-phan-bo-von-196934.html
Thành Nguyễn. (2018). Thất vọng Tour 4 đảo, Báo Khánh Hòa điện tử, truy cập tại: https://baokhanhhoa.vn/phong-su/201803/that-vong-tour-4-dao-8073352/
Thanh Quang (2023). Khánh Hòa: Kinh tế biển là nền tảng, du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/khanh-hoa-kinh-te-bien-la-nen-tang-du-lich-la-nganh-kinh-te-mui-nhon-102230329194229611.htm
Nguyễn Ngọc Tiến (2024). Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch biển tại Thanh Hóa. Luận án Tiến sĩ Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2025). Quy định số 19/2025/QĐ-UBND ngày 04/9/2025 về việc áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật cho hoạt động nuôi lồng bè tại Vịnh Cam Ranh.
Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2025). Quyết định số 2322/QĐ-UBND ngày 02/12/2025 về việc ban hành quy chế hoạt động thông tin hỗ trợ khách du lịch.