Improving the effectiveness of access to ethnic policies for ethnic minorities in Lam Dong province
TS. Tạ Thị Lê
Học viện Chính trị khu vực II
Email: lett@hcma2.edu.vn
ThS. Giang Hải Yến
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Xóm Chiếu, TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Hiệu quả thụ hưởng chính sách dân tộc phụ thuộc lớn vào mức độ nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của người dân. Bài viết phân tích thực trạng tiếp cận chính sách dân tộc của đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng sau khi hợp nhất ba tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận, từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tiếp cận cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới.
Từ khóa: Chính sách dân tộc; tiếp cận chính sách; đồng bào dân tộc thiểu số; tỉnh Lâm Đồng.
Abstract: The effectiveness of ethnic policy benefits depends largely on the level of awareness and access to information of the people. This article analyzes the current situation of ethnic minorities’ access to ethnic policies in Lam Dong Province after the provincial merger based on the consolidation of the three provinces of Lam Dong, Dak Nong and Binh Thuan. On this basis, the article proposes solutions to enhance ethnic minority people’s capacity to access and benefit from these policies in Lam Dong province in the coming period.
Keywords: Ethnic policies; policy access; ethnic minorities; Lam Dong Province.
1. Đặt vấn đề
Hệ thống chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Việt Nam đã được ban hành tương đối toàn diện, bao phủ nhiều lĩnh vực từ phát triển kinh tế, giáo dục, y tế đến bảo tồn văn hóa. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào nội dung văn bản pháp luật mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận của chủ thể thụ hưởng. Thực tiễn cho thấy, nếu người dân không nắm bắt kịp thời, không hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ hoặc thiếu năng lực tiếp nhận, các chính sách dù ưu việt đến đâu cũng khó phát huy tác dụng trong đời sống.
Tỉnh Lâm Đồng là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống, như: Cơ Ho, Mạ, M’Nông, Chăm, Chu Ru, Raglai, Chơ Ro, Stiêng, Ê Đê và các dân tộc thiểu số khác. Những năm qua, tỉnh đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách dân tộc, gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025 (Chương trình 1719). Thực tiễn triển khai cho thấy, Chương trình đã góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, nâng cao điều kiện giáo dục và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn. Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Lâm Đồng mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Thuận. Việc mở rộng không gian địa lý và quy mô dân số đặt ra yêu cầu mới đối với công tác quản lý, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, trong đó có việc bảo đảm người dân ở các địa bàn, nhóm dân tộc và điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau có khả năng tiếp cận thông tin, nguồn lực và các chính sách hỗ trợ một cách phù hợp, thuận lợi.
2. Thực trạng tiếp cận chính sách dân tộc của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng
2.1. Những kết quả đạt được
Một là, tiếp cận chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững.
Việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng tiếp cận tốt hơn các chính sách hỗ trợ sản xuất, phát triển sinh kế, xây dựng cơ sở hạ tầng và giảm nghèo. Một trong những hình thức hỗ trợ trực tiếp là chính sách đầu tư ứng trước vật tư sản xuất. Trung tâm Dịch vụ miền núi tỉnh đã hỗ trợ đầu tư ứng trước cho 868 hộ dân tộc thiểu số với tổng diện tích 1.582 ha, tổng giá trị gần 10,2 tỷ đồng; trong đó, cây bắp lai được hỗ trợ cho 699 hộ trên diện tích 1.465 ha, với giá trị khoảng 9,4 tỷ đồng; cây lúa nước hỗ trợ cho 169 lượt hộ trên diện tích 117 ha, với giá trị khoảng 760 triệu đồng (Bảo Nguyên, 8/10/2025). Chính sách này góp phần giúp người dân giảm khó khăn về vốn đầu vào, hạn chế phải vay vốn với lãi suất cao và từng bước thay đổi phương thức sản xuất theo hướng chủ động, gắn với thị trường.
Bên cạnh hỗ trợ đầu vào, việc tổ chức liên kết tiêu thụ sản phẩm đã góp phần nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ sản xuất. Việc hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật tư và tổ chức thu mua sản phẩm giúp người dân từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, qua đó, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và cải thiện thu nhập. Đây là một biểu hiện quan trọng của việc chuyển từ “hỗ trợ trực tiếp” sang “tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển sinh kế”.
Chính sách giảm nghèo và phát triển hạ tầng cũng đạt những kết quả tích cực. Hệ thống đường giao thông đến trung tâm xã, trường học, trạm y tế và các công trình thiết yếu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tiếp cận các dịch vụ công và thị trường. Đồng thời, việc giao khoán bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo thêm sinh kế gắn với quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng. Đây không chỉ là chính sách hỗ trợ thu nhập mà còn góp phần nâng cao vai trò của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quản lý tài nguyên và phát triển bền vững (Báo Lâm Đồng, 2026).
Nhìn chung, việc triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo, phát triển hạ tầng và tạo sinh kế đã góp phần cải thiện điều kiện sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi giữa các địa bàn vẫn có sự khác biệt, nhất là giữa khu vực thuận lợi với các xã, thôn vùng sâu, vùng xa và địa bàn còn khó khăn. Vì vậy, khả năng tiếp cận chính sách không chỉ phụ thuộc vào việc chính sách được ban hành mà còn phụ thuộc vào phương thức tổ chức thực hiện, năng lực của cán bộ cơ sở và khả năng tham gia của người dân.
Hai là, tiếp cận chính sách trong các lĩnh vực giáo dục, y tế và an sinh xã hội ngày càng được mở rộng.
Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, tỉnh thực hiện nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số: đầu tư hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; thực hiện đồng bộ chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, cấp học bổng; chú trọng đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại chỗ; đồng thời, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ đối với cán bộ quản lý, giáo viên và người học là người dân tộc thiểu số. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 99%; tiểu học trên 95%; trung học cơ sở khoảng 90%; trung học phổ thông đạt 60 – 70%, dù thấp hơn mặt bằng chung nhưng có xu hướng tăng nhờ các chính sách hỗ trợ. Tỷ lệ học sinh nữ dân tộc thiểu số đi học đúng độ tuổi đạt khoảng 90%. Số học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số học nghề, cao đẳng, đại học, sau đại học tiếp tục tăng qua các năm; tỷ lệ sinh viên cử tuyển tốt nghiệp có việc làm đạt khoảng 75% (Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng, 2026). Việc thí điểm dạy tiếng dân tộc (Chăm, Ê Đê, M’nông, Cơ Ho) trong nhà trường góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và giúp học sinh tự tin hơn.
Về lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe Nhân dân, sau sáp nhập, tỉnh có hệ thống y tế trải rộng từ tuyến tỉnh đến cơ sở, 100% xã có trạm y tế, phần lớn đạt chuẩn quốc gia, hầu hết bố trí bác sĩ thường trực cùng y sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh; nhiều xã vùng sâu, vùng xa có thêm phòng khám khu vực giúp giảm tải tuyến trên. Các bệnh viện tuyến tỉnh, như: Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng và các bệnh viện khu vực Đắk Nông, Bình Thuận cũ được nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 93 – 94% (Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng, 2026), phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Các chương trình y tế cộng đồng, như: tiêm chủng mở rộng, phòng, chống sốt rét, lao, HIV/AIDS, bệnh phong, bệnh truyền nhiễm được triển khai thường xuyên; tỉnh có chính sách khuyến khích bác sĩ trẻ về công tác vùng sâu, vùng xa, biên giới, đồng thời chú trọng đào tạo nhân lực y tế người dân tộc thiểu số để tăng hiệu quả chăm sóc sức khỏe tại cơ sở.
Ba là, tiếp cận chính sách về văn hóa, thông tin và bảo tồn bản sắc dân tộc có chuyển biến tích cực.
Đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng phong phú: các lễ hội truyền thống, như: Katê (người Chăm), mừng lúa mới (Cơ Ho), cúng bến nước (M’nông), lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì, phục dựng; nhiều trò chơi dân gian, phong tục tốt đẹp được bảo tồn. Nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Phong trào văn hóa – văn nghệ, thể dục – thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ. Hệ thống thông tin – truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình phát bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào (Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng, 2026).
Bốn là, chính sách phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và thúc đẩy bình đẳng giới từng bước đi vào đời sống cộng đồng.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao nhận thức về phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống được triển khai với nhiều hình thức phù hợp với địa bàn vùng dân tộc thiểu số. Trong năm 2025, các cơ quan chức năng đã tổ chức 30 hội nghị tuyên truyền tại 30 xã với 1.500 người tham dự; đồng thời, tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho cán bộ, công chức và đội ngũ tuyên truyền viên; riêng Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh tổ chức tuyên truyền tại 25 xã với 1.219 người tham dự (Báo Lâm Đồng, 2026).
Đến năm 2026, hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tiếp tục được triển khai tại cơ sở. Chẳng hạn, tháng 6/2026, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn tại phường B’Lao với sự tham gia của 150 học viên đến từ nhiều xã trên địa bàn (Báo Lâm Đồng, 2026). Điều này cho thấy, chính sách không chỉ được triển khai thông qua văn bản mà đang được chuyển hóa thành các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và vận động trực tiếp tại cộng đồng.
Đối với bình đẳng giới, Dự án 8 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia đã tạo ra nhiều cơ chế để phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia và hưởng lợi trực tiếp từ chính sách. Trong giai đoạn 2021 – 2025, toàn tỉnh đã thành lập 248 tổ truyền thông cộng đồng, 49 địa chỉ tin cậy, 31 câu lạc bộ “Thủ lĩnh của sự thay đổi” và 5 mô hình hỗ trợ sinh kế, tổ hợp tác, hợp tác xã do phụ nữ làm chủ hoặc đồng làm chủ ứng dụng công nghệ 4.0; đồng thời, tổ chức 64 cuộc đối thoại chính sách và tập huấn cho hơn 2.900 cán bộ, trong đó có 432 cán bộ nữ dân tộc thiểu số được bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo (Việt Quỳnh, 05/9/2025).
Năm là, phương thức đưa chính sách đến cơ sở ngày càng chú trọng tuyên truyền, đối thoại và sự tham gia của người dân.
Một kết quả đáng ghi nhận là phương thức triển khai chính sách ở vùng dân tộc thiểu số đã từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào phổ biến văn bản sang kết hợp tuyên truyền, tập huấn, đối thoại, vận động cộng đồng và xây dựng các mô hình trực tiếp tại cơ sở. Việc thành lập các tổ truyền thông cộng đồng, tổ chức đối thoại chính sách, tập huấn cho cán bộ và tuyên truyền viên đã góp phần đưa chính sách đến gần hơn với người dân.
Trong thực tế, toàn tỉnh đã triển khai 248 tổ truyền thông cộng đồng, 45 lớp tập huấn nâng cao năng lực và 123 buổi truyền thông tại trường học, thôn, bon về bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, tảo hôn và các vấn đề xã hội khác (Báo Lâm Đồng, 2026).
Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò của già làng, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, cán bộ cơ sở và các tổ chức đoàn thể giúp tăng tính phù hợp của hoạt động tuyên truyền với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện thực tế của từng cộng đồng. Đây là yếu tố quan trọng bởi khả năng tiếp cận chính sách của đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ phụ thuộc vào mức độ đầy đủ của thông tin mà còn phụ thuộc vào độ dễ hiểu, độ tin cậy và khả năng chuyển hóa thông tin chính sách thành hành động cụ thể.
2.2. Những hạn chế
Thứ nhất, mặc dù hệ thống chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được hoàn thiện, quá trình cụ thể hóa và tổ chức thực hiện tại địa phương vẫn còn những điểm chưa đồng bộ. Việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với những thay đổi về cơ chế quản lý, phân cấp, phân quyền và tổ chức chính quyền địa phương. Ở cấp tỉnh, HĐND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết số 07/2025/NQ-HĐND ngày 16/7/2025 quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách địa phương năm 2025 thực hiện Chương trình; đồng thời, Trung ương tiếp tục điều chỉnh một số nội dung của Chương trình tại Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 14/5/2025. Những thay đổi này cho thấy, yêu cầu phối hợp, hướng dẫn và tổ chức thực hiện ở địa phương khá lớn, trong khi năng lực triển khai giữa các địa bàn chưa đồng đều.
Đối với người dân, việc chính sách được triển khai chậm hoặc phải qua nhiều khâu hướng dẫn, xác định đối tượng và hoàn thiện thủ tục có thể làm kéo dài thời gian tiếp cận hỗ trợ. Điều này đặc biệt đáng lưu ý đối với các chính sách liên quan trực tiếp đến sinh kế, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và các dịch vụ thiết yếu. Do đó, hạn chế trong tổ chức thực hiện không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân mà còn tác động trực tiếp đến tính kịp thời của chính sách đối với người thụ hưởng.
Thứ hai, mặc dù chính sách dân tộc đã bao phủ tương đối rộng các lĩnh vực, nhưng khả năng tiếp cận trên thực tế chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư và địa bàn. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn có điều kiện giao thông khó khăn, trình độ học vấn và kỹ năng tiếp cận thông tin còn hạn chế. Vì vậy, cùng một chính sách nhưng khả năng tiếp nhận thông tin, hoàn thiện hồ sơ, đáp ứng điều kiện thụ hưởng và chuyển hóa hỗ trợ thành sinh kế bền vững có thể khác nhau giữa các địa bàn.
Hạn chế này cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục điều chỉnh phương thức thực hiện chính sách theo hướng phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của từng địa bàn và từng nhóm dân cư. Chẳng hạn, Nghị quyết số 87/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng về hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số đã xác định việc hỗ trợ phải căn cứ vào quỹ đất, quy hoạch và điều kiện thực tế của từng vùng; đồng thời, việc bảo đảm đất sinh hoạt cộng đồng phải phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng và bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số (HĐND tỉnh Lâm Đồng, 2025).Tuy nhiên, việc có quy định phù hợp mới chỉ là điều kiện cần. Trên thực tế, khả năng bố trí quỹ đất, xác định đúng đối tượng, hoàn thiện thủ tục và tổ chức thực hiện tại cơ sở vẫn có thể tạo ra những rào cản đối với người dân. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là “có chính sách” mà còn là “người dân có khả năng tiếp cận và thực sự thụ hưởng chính sách hay không”.
Thứ ba, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số đã được quan tâm thông qua nhiều chương trình, dự án và hoạt động tại cộng đồng. Tuy nhiên, việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay vẫn gặp không ít khó khăn. Một số loại hình văn hóa truyền thống phụ thuộc vào đội ngũ nghệ nhân, người có uy tín và những chủ thể nắm giữ tri thức văn hóa, trong khi việc truyền dạy cho thế hệ trẻ chưa phải lúc nào cũng được duy trì thường xuyên. Thực tiễn tại Lâm Đồng cho thấy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cần được đặt trong vai trò chủ thể của cộng đồng. Trong đó, đội ngũ đảng viên người dân tộc thiểu số, già làng, người có uy tín và các nghệ nhân am hiểu văn hóa giữ vai trò nòng cốt trong truyền dạy, thực hành và vận động cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ, cùng tham gia gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc (Yên Hoài, 04/12/2025).
Hạn chế về nguồn lực cũng ảnh hưởng đến việc duy trì các hoạt động văn hóa cộng đồng, truyền dạy nghề truyền thống và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển sinh kế. Do đó, nếu chính sách chỉ tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất mà chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể văn hóa, cơ chế truyền dạy và nguồn lực duy trì hoạt động, khả năng bảo tồn bền vững các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số sẽ còn hạn chế.
Thứ tư, thực tế triển khai cho thấy, sự thay đổi về cơ chế, chính sách và phân cấp quản lý đặt ra yêu cầu lớn về năng lực hướng dẫn, phối hợp và tổ chức thực hiện tại địa phương. Việc Trung ương tiếp tục ban hành các văn bản điều chỉnh Chương trình, trong đó có Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 14/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh một số nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 và Thông tư số 05/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho thấy, khung hướng dẫn thực hiện chương trình tiếp tục được hoàn thiện và điều chỉnh theo yêu cầu thực tiễn.
Trong điều kiện đó, nếu cán bộ phụ trách công tác dân tộc và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia ở cơ sở còn thiếu kinh nghiệm hoặc phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ, việc hướng dẫn người dân tiếp cận chính sách có thể chưa kịp thời, nhất là đối với những chính sách có điều kiện thụ hưởng và thủ tục tương đối phức tạp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho khoảng cách giữa chính sách trên văn bản và khả năng tiếp cận chính sách của người dân trên thực tế vẫn còn tồn tại. Những hạn chế trong tiếp cận chính sách dân tộc của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm Đồng không chỉ xuất phát từ bản thân nội dung chính sách mà còn liên quan đến tiến độ tổ chức thực hiện, điều kiện kinh tế – xã hội của người dân, đặc điểm văn hóa của từng cộng đồng, nguồn lực bảo tồn văn hóa và năng lực thực thi ở cơ sở.
3. Một số giải pháp
Một là, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách phù hợp với đặc điểm từng địa bàn và cộng đồng dân tộc. Tỉnh Lâm Đồng cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hình thức thông tin, tuyên truyền theo hướng gần dân, dễ hiểu, dễ tiếp cận và phù hợp với điều kiện sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ người có uy tín, chức sắc tôn giáo… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh các hội nghị, cuộc họp truyền thống, cần tăng cường tuyên truyền thông qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở, các buổi sinh hoạt cộng đồng tại thôn, bon, tổ dân phố, các chương trình văn nghệ, hội thi tìm hiểu chính sách dân tộc và các hoạt động văn hóa truyền thống.
Đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện giao thông khó khăn, cần tổ chức các đội tuyên truyền lưu động, kết hợp phát tờ rơi, tranh ảnh trực quan, video minh họa và hướng dẫn trực tiếp để đưa chính sách đến tận người dân. Đồng thời, cần xây dựng các chuyên mục phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số như Cơ Ho, Mạ, Chu Ru nhằm khắc phục rào cản ngôn ngữ, nâng cao khả năng tiếp nhận thông tin của đồng bào. Cần đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền, đối tượng tuyên truyền phù hợp với tình hình thực tế. Phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức cấp xã, chức sắc, chức việc các tôn giáo.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực số để mở rộng khả năng tiếp cận chính sách. Chuyển đổi số cần được xác định là một phương thức quan trọng để rút ngắn khoảng cách tiếp cận thông tin giữa chính quyền và đồng bào dân tộc thiểu số. UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Kế hoạch số 5567/KH-UBND ngày 23/4/2026 về triển khai Tổ Công nghệ số cộng đồng, trong đó yêu cầu tất cả các tổ dân phố, thôn, buôn, bản thuộc 124 xã, phường, đặc khu có ít nhất một Tổ Công nghệ số cộng đồng để hỗ trợ người dân tiếp cận nền tảng và kỹ năng số.
Trên cơ sở đó, cần phát huy thực chất vai trò của tổ Công nghệ số cộng đồng trong hướng dẫn người dân tra cứu chính sách, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng VNeID và các nền tảng số thiết yếu. Cách làm cần chuyển từ “hướng dẫn tập trung” sang “hỗ trợ tại nơi người dân sinh sống”, nhất là đối với người cao tuổi, người có trình độ học vấn thấp và những hộ ở địa bàn khó khăn. Thực tế tại một số địa phương trong tỉnh cho thấy, thành viên tổ Công nghệ số cộng đồng đã trực tiếp đến thôn, bon, bản hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, VNeID, thanh toán không dùng tiền mặt và các ứng dụng thiết yếu, qua đó, góp phần thu hẹp khoảng cách số trong cộng đồng (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng, 2026).
Đồng thời, các cơ quan chức năng cần xây dựng hệ thống thông tin chính sách thống nhất, cập nhật và dễ tra cứu; tăng cường sử dụng cổng thông tin điện tử, trang thông tin của cơ quan nhà nước, fanpage chính thức, nhóm Zalo cộng đồng và các nền tảng số phù hợp. Nội dung cần được chuyển hóa thành video ngắn, infographic, hình ảnh trực quan và clip hướng dẫn thủ tục, hạn chế thuật ngữ hành chính phức tạp. Đến tháng 6/2026, tỷ lệ phủ sóng băng rộng di động tại 124 xã, phường, đặc khu của tỉnh đạt 100%, khoảng 95% hộ gia đình có kết nối internet cáp quang FTTH, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng các phương thức truyền thông chính sách trên môi trường số (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng, 2026).
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách dân tộc. Hiệu quả tiếp cận chính sách dân tộc phụ thuộc lớn vào năng lực của đội ngũ cán bộ trực tiếp tuyên truyền tại cơ sở. Vì vậy, tỉnh cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng, kỹ năng truyền thông số và kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ cấp xã, thôn, bon, buôn, bản và người trực tiếp tham gia tại cơ sở. Đồng thời, cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo và những cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng dân tộc thiểu số tham gia tuyên truyền, giải thích và hướng dẫn người dân thực hiện chính sách. Đây là lực lượng có uy tín xã hội cao, am hiểu phong tục tập quán và ngôn ngữ địa phương nên có khả năng tạo sự tin tưởng, đồng thuận trong cộng đồng.
Bốn là, đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng thiết thực, gắn với nhu cầu thực tế của người dân. Thay vì tuyên truyền mang tính chung chung, lý thuyết, cần hướng dẫn cụ thể về điều kiện thụ hưởng, quy trình thực hiện, hồ sơ thủ tục và quyền lợi của người dân. Ngoài ra, cần xây dựng các mô hình tuyên truyền thông qua những điển hình tiên tiến, mô hình phát triển kinh tế hiệu quả trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để người dân dễ học tập và làm theo. Thành lập và duy trì hoạt động của Tổ truyền thông cộng đồng nhằm tuyên truyền, vận động thay đổi “nếp nghĩ, cách làm”, góp phần xóa bỏ các định kiến và khuôn mẫu giới trong gia đình và cộng đồng, những tập tục văn hóa có hại và một số vấn đề xã hội cấp thiết cho phụ nữ và trẻ em; tỉnh Lâm Đồng cần tiếp tục nhân rộng tổ truyền thông cộng đồng, tổ chức lớp tập huấn, hội nghị truyền thông hướng dẫn, thành lập và vận hành Tổ truyền thông cộng đồng, nâng cao năng lực vận hành và quản lý tổ truyền thông; hướng dẫn đối thoại chính sách cấp xã và cụm thôn, bon.
Thực hiện các chiến dịch truyền thông xóa bỏ định kiến và khuôn mẫu giới, xây dựng môi trường sống an toàn cho phụ nữ và trẻ em; tổ chức hội thi, liên hoan các mô hình sáng tạo, hiệu quả trong xóa bỏ định kiến giới, bạo lực gia đình và mua bán phụ nữ và trẻ em. Hỗ trợ ứng dụng khoa học – công nghệ để nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số nhằm xây dựng và nhân rộng các mô hình thay đổi “nếp nghĩ, cách làm” nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ; thúc đẩy bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết của phụ nữ và trẻ em. Tổ chức các cuộc đối thoại chính sách liên quan đến phụ nữ và trẻ em tại các xã, thôn nhằm hỗ trợ phụ nữ nâng cao quyền năng kinh tế, nâng cao năng lực tham gia các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương; các chính sách thúc đẩy phụ nữ sử dụng hiệu quả các nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội để giảm nghèo và vươn lên làm giàu.
Năm là, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác tuyên truyền chính sách dân tộc. Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng cần tiếp tục phối hợp với các Sở: Tư pháp, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an tỉnh tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng truyền thông, vận động, tư vấn pháp luật và hội nghị tuyên truyền liên quan về hôn nhân và gia đình; phòng, chống tội phạm về ma túy; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số cho cán bộ phụ trách công tác dân tộc các cấp và cán bộ chính quyền cấp thôn, người có uy tín đồng bào dân tộc thiểu số tham dự.
Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự, Công an tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các địa phương tổ chức Hội nghị cung cấp thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, quốc phòng, an ninh, chính sách dân tộc và kỹ năng tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số; tổ chức hội nghị biểu dương, tôn vinh, điển hình tiên tiến là người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số với sự tham dự của người có uy tín trên địa bàn tỉnh.
4. Kết luận
Nâng cao hiệu quả tiếp cận chính sách dân tộc của đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng là yêu cầu khách quan và có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận đầy đủ, bình đẳng và hiệu quả các chính sách của Nhà nước góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, giảm nghèo bền vững và củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững ổn định chính trị – xã hội trên địa bàn tỉnh.
Tài liệu tham khảo:
Bảo Nguyên (08/10/2025). Thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số. Báo Lâm đồng. https://baolamdong.vn/thay-doi-nep-nghi-cach-lam-cua-dong-bao-dan-toc-thieu-so 394870.html?utm_source=chatgpt.com#google_vignette
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Thông tư số 05/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 hướng dẫn thực hiện một số dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025.
Chí Thành (02/8/2026). Lâm Đồng phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số thành sinh kế. Báo Lâm đồng. https://baolamdong.vn/lam-dong-phat-huy-ban-sac-van-hoa-cua-dong-bao-dan-toc-thieu-so-thanh-sinh-ke-457273.html
Đức Tú (22/6/2026). Tập huấn về hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Báo Lâm đồng. https://baolamdong.vn/tap-huan-ve-han-che-tinh-trang-tao-hon-va-hon-nhan-can-huyet-thong-449515.html#google_vignette
Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng (2025). Nghị quyết số 07/2025/NQ-HĐND ngày 16/7/2025 quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách địa phương năm 2025 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng (2025). Nghị quyết số 88/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 quy định mức đầu tư, hỗ trợ đầu tư, mức khoán bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh.
Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng (2025). Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” trong năm 2025.
Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng (2025). Báo cáo tình hình, kết quả công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo năm 2025; kế hoạch năm 2026.
Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng (2026). Báo cáo kết quả phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng (2026). Nhiều kết quả tích cực trong triển khai Đề án 06 của Sở Khoa học và Công nghệ trong 06 tháng đầu năm 2026.
Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2025”.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018 – 2025”.
Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 920/QĐ-TTg ngày 14/5/2025 điều chỉnh một số nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (2025). Quyết định số 181/QĐ-UBND ngày 08/7/2025 về việc thành lập Trung tâm Dịch vụ miền núi trực thuộc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lâm Đồng.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng (2026). Kế hoạch số 5567/KH-UBND ngày 23/4/2026 về triển khai Tổ Công nghệ số cộng đồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026.
Việt Quỳnh (05/9/2025). Hội LHPN Việt Nam kiểm tra, giám sát việc thực hiện Dự án 8 tại tỉnh Lâm Đồng. Báo Lâm đồng. https://baolamdong.vn/hoi-lhpn-viet-nam-kiem-tra-giam-sat-viec-thuc-hien-du-an-8-tai-tinh-lam-dong-390141.html
Yên Hoài (04/12/2025). Đi đầu trong bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/di-dau-trong-bao-ton-van-hoa-dan-toc-thieu-so-post928087.html



