Tăng trưởng kinh tế hai con số từ lý luận đến thực tiễn ở xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên

Double-digit economic growth from theory to practice in Dong Quan commune, Hung Yen province

Phạm Hồng Đức
Hội đồng nhân dân xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên
Email: Phamhongduc3131981@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số cho giai đoạn 2026 – 2030. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đưa lý luận của Đảng và định hướng của Nhà nước trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội trong kỷ nguyên mới; đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với chính quyền cấp xã. Trên cơ sở phân tích chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bẫy thu nhập trung bình, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và năng lượng sạch, kết hợp thực tiễn của địa phương, bài viết đề xuất một số giải pháp chuyển từ mô hình quản lý sang mô hình quản trị toàn diện, kiến tạo phát triển; nhận diện điểm nghẽn và khơi thông động lực nội sinh nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 – 2030 tại xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên.

Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế hai con số; lý luận; thực tiễn; xã Đông Quan; tỉnh Hưng Yên.

Abstract: The 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam has set a double-digit economic growth target for the 2026 – 2030 period. The implementation of the two-tier local government model transforms the Party’s theoretical guidelines and the State’s strategic direction into practical solutions for socio-economic development in the new era, while also presenting significant challenges for commune-level governments. Based on an analysis of Party guidelines and State policies regarding industrialization and modernization, the middle-income trap, green and circular economies, and clean energy, combined with local realities, the article proposes solutions to transition from a traditional administrative model to a comprehensive governance and development-facilitating model; to identify bottlenecks and leverage endogenous strengths in order to realize the double-digit economic growth target for the 2026 – 2030 period in Dong Quan commune, Hung Yen Province.

Keywords: Double-digit economic growth; theory; practice; Dong Quan Commune; Hung Yen Province.

1. Đặt vấn đề

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số lần đầu tiên được Đảng đưa ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 – 2030 từ 10%/năm trở lên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập II, tr.84). Nội dung này tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 25/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030; Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 18/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên và Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 11/7/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên. Đây là mục tiêu chiến lược, được hình thành trên nền tảng của hơn 40 năm đổi mới, quá trình mà Đảng xác định là “sự lựa chọn mang tính lịch sử, là quá trình phát triển toàn diện về tư duy, nhận thức lý luận, về đường lối lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Để đạt mục tiêu trên, việc tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đi đôi với tiết kiệm nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng – an ninh và hướng tới đưa Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030, thoát bẫy thu nhập trung bình để trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 (Phương Nhung, 2026). Đối với Việt Nam, quá trình này đan xen với hai thách thức lớn: thời kỳ dân số vàng đang hẹp dần và nguy cơ chưa giàu đã già. Từ đó, các quan điểm về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026) và năng lượng sạch theo Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Chính trị đã ra đời, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của Việt Nam trong tình hình mới. Trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc cấp xã chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang quản trị toàn diện, kiến tạo phát triển trở thành yêu cầu cấp bách; đặc biệt tại xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên sau sáp nhập, có quy mô mở rộng và nhiệm vụ được nâng lên tương xứng.

2. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế hai con số

2.1. Kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và năng lượng sạch

Ở Việt Nam, khái niệm tăng trưởng xanh xuất hiện từ khá sớm. Ngày 25/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050, đây là chiến lược quốc gia đầu tiên, toàn diện về lĩnh vực phát triển kinh tế xanh. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 xác định ba nhiệm vụ cốt lõi: xanh hóa sản xuất, xanh hóa lối sống và giảm cường độ phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, đây mới là giai đoạn khởi động, chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức mà chưa có tổng kết đầy đủ về kết quả thực hiện trên thực tiễn.

Đối với kinh tế tuần hoàn, Việt Nam đã có mô hình kinh tế vườn – ao – chuồng (VAC) từ rất sớm, bắt nguồn từ thực tiễn sản xuất của nông dân và được Đảng chính thức thừa nhận, khuyến khích phát triển thông qua các văn kiện chiến lược về đổi mới kinh tế nông nghiệp: Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/2/2000 về kinh tế trang trại. Theo đó, sản phẩm chính từ vườn được thương mại hóa; phụ phẩm nông nghiệp dùng làm thức ăn cho chăn nuôi; phân thải từ chăn nuôi lại được sử dụng để bón cho vườn và nuôi trồng thủy sản, tạo thành chu trình khép kín của nền kinh tế tuần hoàn.

Năng lượng sạch, bao gồm: các nguồn năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, thủy điện, sinh khối…) và các dạng năng lượng mới (hydro, amoniac xanh…) (Bộ Chính trị, 2025). Theo quan điểm của Đảng, Nhà nước kiến tạo thể chế, chính sách đột phá và kiểm soát hạ tầng năng lượng chiến lược; người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể phát triển năng lượng quốc gia, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới; đồng thời, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính.

2.2. Quản trị toàn diện, kiến tạo phát triển và khơi thông động lực nội sinh

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi cấp xã phải chuyển mình mạnh mẽ từ vai trò quản lý hành chính thuần túy sang quản trị toàn diện, kiến tạo phát triển. Đây không chỉ là thay đổi tổ chức mà là sự chuyển đổi tư duy căn bản: từ “quản lý địa bàn” sang “kiến tạo giá trị công”; từ xử lý công việc theo quy trình sang giải quyết vấn đề phức tạp liên ngành, đa giá trị, gắn liền với đời sống nhân dân (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2026, tr.17). Trong bối cảnh đô thị hóa, chuyển đổi số quốc gia và biến đổi khí hậu, cấp xã phải đối mặt với những thách thức chưa từng có, như: xung đột lợi ích đa tầng, điểm nghẽn thể chế, rào cản nội sinh và yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững. Việc chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị kiến tạo phát triển, kết hợp chặt chẽ với ứng dụng dữ liệu và AI, trở thành yêu cầu sống còn để cấp xã thực sự là “cấp gần dân, sát dân và phục vụ dân”.

Điểm nghẽn là vị trí hoặc giai đoạn bị tắc nghẽn trong một quy trình, khiến toàn bộ hệ thống bị chậm lại hoặc ngưng trệ. Trong chính trị và kinh tế, điểm nghẽn thường bao gồm ba nhóm chính: điểm nghẽn thể chế, điểm nghẽn nguồn lực và rào cản nhân lực. Song song với việc nhận diện điểm nghẽn, cấp xã cần khơi thông động lực nội sinh – nguồn sức mạnh tự thân được hun đúc từ tri thức, đạo đức và bản sắc văn hóa. Động lực nội sinh tập trung vào ba khía cạnh cốt lõi: tri thức và trí tuệ; hệ giá trị văn hóa và động lực nội tại; đồng thời, gắn với việc đào tạo đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

3. Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của xã Đông Quan

Xã Đông Quan được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã: Đông Quan, Đông Á, Đông Tân, với tổng diện tích tự nhiên 23,62 km², quy mô dân số 24.364 người và 8.164 hộ dân. Sau sáp nhập, chính quyền xã Đông Quan xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội; mục tiêu là chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp sang công nghiệp và thương mại – dịch vụ trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phấn đấu trở thành xã đạt mức tăng trưởng kinh tế – xã hội hai con số đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(1) Về phát triển kinh tế.

Theo Báo cáo thực hiện phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2026 của UBND xã Đông Quan, tổng giá trị sản xuất (theo giá so sánh năm 2010) đạt 1.122,7 tỷ đồng, tương đương 53,7% kế hoạch năm; trong đó: sản xuất nông nghiệp, thủy sản đạt 188,9 tỷ đồng (49,1% kế hoạch); công nghiệp – xây dựng đạt 723,9 tỷ đồng (57,9% kế hoạch); thương mại – dịch vụ đạt 209,9 tỷ đồng (46,2% kế hoạch) (Ủy ban nhân dân xã Đông Quan, 2026). Xã hiện có 01 cụm công nghiệp với diện tích 22,86 ha, đang tập trung mở rộng Cụm công nghiệp Đông Phong thêm 47,14 ha. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2020 – 2025 đạt 10,7%. Tuy nhiên, lực lượng lao động chủ yếu là lao động chân tay, đặc biệt tiềm ẩn nguy cơ về việc người lao động trong ngành công nghiệp bị sa thải ở độ tuổi 35 – 45, sau đó chuyển sang nhóm lao động cao tuổi với trình độ thấp, đây chính là biểu hiện của “bẫy thu nhập trung bình” và là trở ngại lớn đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.

(2) Về nông nghiệp và chăn nuôi.

Công tác trồng trọt chủ yếu là cây lúa, ngoài ra có ngô, khoai, tre nhưng chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao; một số thửa đất đang bị hoang hóa do người dân cao tuổi không đủ sức canh tác, trong khi nguồn lao động trẻ chuyển hướng sang công nghiệp – dịch vụ. Sản phẩm OCOP gạo làng Giắng đang được đưa vào sản xuất trên cánh đồng hơn 50 ha nhưng còn gặp nhiều khó khăn về vốn và giống. Công tác chăn nuôi trên toàn xã có 5 trang trại và chăn nuôi hộ gia đình; tổng đàn gia súc 6 tháng đầu năm 2026 đạt 123.554 con. Nguy cơ dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm thường xuyên hiện hữu. Công tác nuôi trồng thủy sản được duy trì ổn định nhưng chưa mang lại giá trị cao (UBND xã Đông Quan, 2026).

(3) Về thương mại – dịch vụ và văn hóa – xã hội.

Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn xã chủ yếu là các cơ sở kinh doanh dịch vụ buôn bán hàng hóa, vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp và dịch vụ vận tải phục vụ nhu cầu cơ bản của người dân; chưa khai thác được các thế mạnh của địa phương, như: du lịch tâm linh; hoạt động thương mại – dịch vụ về đêm còn tự phát và tập trung chủ yếu ở tuyến đường chính. Về văn hóa, xã có tổng 45 di tích lịch sử (đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, khu lưu niệm, bia tưởng niệm); trong đó, có 2 di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia là khu di tích Lăng – Chùa – Đền Thượng Liệt và Miếu Giàng; đặc biệt, di sản văn hóa phi vật thể 36 điệu múa giáo cờ, giáo quạt là nền tảng để phát triển du lịch tâm linh. Về xây dựng và quản lý đất đai, xã tập trung chỉ đạo giải phóng mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu đất, sớm đưa đấu giá quyền sử dụng đất tạo nguồn thực hiện kế hoạch đầu tư công; tuy nhiên, đối với các công trình xây dựng trái phép và công trình cũ để lại đang là điểm nghẽn khi quy hoạch tổng thể chưa được triển khai.

4. Một số giải pháp và kiến nghị

4.1. Giải pháp trực tiếp đối với xã Đông Quan

Trong 6 tháng đầu năm 2026, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng ủy, sự đoàn kết, ủng hộ của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân xã đã tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng kinh tế hai con số, cả hệ thống chính trị của xã cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng phát triển Cụm công nghiệp Đông Phong làm tiền đề, mũi nhọn cho tăng trưởng kinh tế hai con số. Cụm công nghiệp cần phát triển trên cơ sở áp dụng khoa học – công nghệ, tiết kiệm nguồn tài nguyên, sử dụng nguồn nhân lực bậc cao và máy móc hiện đại để tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của xã, từ đó thóat bẫy thu nhập trung bình. Đồng thời, phát triển các nguồn năng lượng sạch, như: điện mặt trời áp mái; kiên quyết không đánh đổi phát triển công nghiệp với môi trường.

Hai là, xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn theo mô hình “vườn – ao – chuồng” hiện đại. Cụ thể, cây nông nghiệp lấy sản phẩm chính để thương mại hóa, phần phụ phẩm (thân, củ) làm thức ăn cho các vật nuôi có giá trị cao, như: dúi, nhím…; phân thải từ chăn nuôi được cung cấp cho vườn và ao làm phân bón cho cây trồng hoặc thức ăn cho vật nuôi dưới nước. Nghiên cứu triển khai đề án nuôi dúi, nhím và một số vật nuôi có giá trị kinh tế cao khác, các vật nuôi này có thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp, giảm chi phí, bảo vệ môi trường và không sử dụng thức ăn công nghiệp nên có giá trị kinh tế cao.

Ba là, xây dựng và định hướng thị trường thương mại, cung cấp hàng hóa cho các vùng kinh tế phát triển xung quanh xã, như: thành phố Thái Bình (cũ), thị trấn Đông Hưng (cũ); đặc biệt là hai vùng kinh tế tiềm năng về biển là Thái Thụy và Tiền Hải đang trên đà phát triển. Đón nhận công nhân bị sa thải ở các khu công nghiệp có độ tuổi 35 – 45 trở về quê hương và những người đã hết tuổi lao động nhưng còn sức khỏe để phát triển mô hình vườn – ao – chuồng; vừa giải quyết việc làm, vừa bảo đảm an sinh xã hội. Tận dụng các chuồng, trại bỏ hoang tại hộ gia đình để nuôi dúi, nhím, các vật nuôi không cần nhiều diện tích và phù hợp với sức khỏe của người lao động cao tuổi.

Bốn là, thống kê các thửa đất bỏ hoang; nghiên cứu chuyển đổi mô hình trồng lúa sang trồng các sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao, như: mồng tơi lá to, chuối tím và các loại nông sản có giá trị cao khác, tạo thành các sản vật đặc trưng của địa phương. Tiếp tục duy trì và phát triển thương hiệu sản phẩm OCOP gạo làng Giắng.

Năm là, xây dựng đề án khai thác tài sản kết cấu giao thông đường bộ để lắp đặt hệ thống đèn cao áp năng lượng mặt trời phục vụ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh phát triển thương mại – dịch vụ về đêm. Đồng thời, xây dựng đề án du lịch tâm linh, kết hợp với các lễ hội tại địa phương; ứng dụng công nghệ để quảng bá hình ảnh các lễ hội của xã, thu hút khách du lịch thập phương; qua đó, quảng bá các sản vật của địa phương.

4.2. Kiến nghị chung

Trước bối cảnh quốc tế, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam và tình hình thực tế tại địa phương vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với chính quyền xã Đông Quan trong triển khai nhiệm vụ phát triển và duy trì tăng trưởng kinh tế hai con số. Cả hệ thống chính trị của xã cần triển khai ba nhóm nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất, đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ kiến tạo phát triển; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất, kinh doanh mới.

Thứ hai, tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ theo đúng chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng văn hóa, giáo dục, thể thao.

5. Kết luận

Tăng trưởng kinh tế hai con số là mục tiêu chiến lược của Việt Nam giai đoạn 2026 – 2030 nhằm thoát bẫy thu nhập trung bình và trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Đối với chính quyền cấp xã sau sáp nhập, trong đó có xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên, việc chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị toàn diện, kiến tạo phát triển là yêu cầu tất yếu. Trên cơ sở phân tích chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch và tình hình thực tiễn địa phương, bài viết đã đề xuất năm nhóm giải pháp trực tiếp cho xã Đông Quan và ba kiến nghị chung. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần khơi thông điểm nghẽn, phát huy động lực nội sinh và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của xã trong giai đoạn tới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (1981). Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khóan sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.
Bộ Chính trị (1988). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.
Chính phủ (2000). Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 84.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2026). Tài liệu bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã – Chuyên đề 1: Quản trị toàn diện, kiến tạo phát triển.
Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên (2025). Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030 tỉnh Hưng Yên.
Phương Nhung (2026). Vấn đề thoát bẫy thu nhập trung bình trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. https://hcma.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=21045
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 25/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 18/10/2025 về xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên (2025). Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 11/7/2025 về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.
Ủy ban nhân dân xã Đông Quan (2026). Báo cáo thực hiện phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2026.