Hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020 – 2026

Effectiveness of state management of foreign direct investment in Hai Phong City during the 2020 – 2026 period

ThS. Nguyễn Thị Thu Hà
Công ty cổ phần dịch vụ và xây dựng Kovina

Email: thuha11011998@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020 2026; đồng thời, xây dựng khung phân tích năm nhóm tiêu chí: chính sách; thủ tục hành chính; tổ chức bộ máy; giám sát, hậu kiểm và kết quả, tác động đối với khu vực FDI. Kết quả cho thấy, Hải Phòng đạt mức cao ở thủ tục hành chính, còn lại đạt mức khá, trong khi giám sát và hậu kiểm là khâu yếu nhất của chu trình. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hàm ý chính sách nhằm chuyển trọng tâm quản lý nhà nước từ thu hút, cấp phép sang giám sát, hỗ trợ và nâng cao chất lượng dự án trong suốt vòng đời đầu tư.

Từ khóa: FDI; Hải Phòng; hậu kiểm; hiệu quả quản lý nhà nước; giai đoạn 2020 – 2026.

Abstract: The article evaluates the effectiveness of state management of foreign direct investment (FDI) in Hai Phong City during the 2020–2026 period and develops an analytical framework comprising five groups of criteria: policies; administrative procedures; organizational structure; monitoring and post-licensing inspection; and outcomes and impacts of the FDI sector. The findings indicate that Hai Phong performs at a high level in administrative procedures, while the remaining criteria are assessed at a fairly good level, with monitoring and post-licensing inspection identified as the weakest stage of the management cycle. On this basis, the article proposes policy implications to shift the focus of state management from investment attraction and licensing toward monitoring, supporting, and improving project quality throughout the investment lifecycle.

Keywords: FDI; Hai Phong; post-licensing inspection; effectiveness of state management; 2020 – 2026 period.

1. Đặt vấn đề

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần bổ sung nguồn vốn, mở rộng sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm và tham gia vào các chuỗi giá trị quốc tế. Tuy nhiên, hiệu quả của FDI không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn thu hút mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ chất lượng quản lý của cơ quan nhà nước trong toàn bộ quá trình đầu tư. Khi yêu cầu thu hút FDI ngày càng chuyển từ mở rộng về số lượng sang nâng cao chất lượng, công nghệ, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước thì quản lý nhà nước (QLNN) cũng cần chuyển từ trọng tâm cấp phép sang quản lý xuyên suốt vòng đời dự án.

Thành phố Hải Phòng là một trong những địa phương có nhiều lợi thế trong thu hút FDI nhờ hệ thống cảng biển, hạ tầng công nghiệp, logistics và khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế trong nước và quốc tế. Quy mô và tính đa dạng của khu vực FDI tại thành phố đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực QLNN, từ xây dựng và thực thi chính sách, thẩm định, cấp phép đến phối hợp giữa các cơ quan, giám sát tiến độ, quản lý đất đai, lao động, thuế và môi trường. Vì vậy, đánh giá hiệu quả QLNN đối với FDI cần được xem xét trên toàn bộ chu trình quản lý, thay vì chỉ dựa vào các chỉ tiêu về vốn đăng ký, số lượng dự án hay đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng kinh tế.

Từ yêu cầu đó, bài viết tập trung đánh giá hiệu quả QLNN đối với FDI tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020 – 2026 trên năm nhóm tiêu chí gồm: xây dựng và thực thi chính sách; thủ tục hành chính; tổ chức bộ máy quản lý; giám sát và hậu kiểm; kết quả và tác động đối với khu vực FDI. Trên cơ sở đó, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý FDI tại thành phố trong thời gian tới.

2. Khung phân tích và phương pháp nghiên cứu

2.1. Khung phân tích

Bài viết phân biệt ba tầng kết quả quản lý và sự phân biệt này quyết định cách đo lường. Guimón và Filippov (2012) và Alfaro và Charlton (2013) đều quan niệm, FDI không tự động mang lại lợi ích cho nền kinh tế tiếp nhận. Nếu vậy thì quy mô vốn thu hút được không thể dùng làm thước đo hiệu quả quản lý, bởi nó phản ánh sức hấp dẫn của địa bàn nhiều hơn là năng lực của bộ máy. Trên cơ sở đó, kế thừa hệ tiêu chí của Ngô Doãn Vịnh (2005) và Ngô Thúy Quỳnh (2019), bài viết xây dựng khung phân tích gồm năm nhóm tiêu chí trình bày tại Bảng 1.

Bảng 1: Khung phân tích đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI

Nhóm tiêu chíTầng kết quảNội dung đánh giá chủ yếu
(1) Xây dựng và thực thi chính sáchQuá trìnhTính nhất quán, phù hợp, kịp thời của chính sách; mức độ cụ thể hóa định hướng thành tiêu chí sàng lọc dự án; cơ chế tham vấn doanh nghiệp
(2) Thủ tục hành chínhQuá trìnhThời gian cấp phép; mức độ đơn giản hóa thủ tục; ứng dụng công nghệ số; liên thông dữ liệu; minh bạch quy trình
(3) Tổ chức bộ máy quản lýQuá trìnhPhân công chức năng; phối hợp liên ngành; năng lực cán bộ; tính tinh gọn của bộ máy
(4) Giám sát và hậu kiểmQuá trìnhTần suất, chất lượng thanh tra, kiểm tra; phát hiện và xử lý vi phạm; giám sát tiến độ, đất đai, lao động, thuế, môi trường
(5) Kết quả và tác động đối với khu vực FDIĐầu ra và tác độngGồm hai nhóm chỉ báo dưới đây:
(5.1) Chỉ báo đầu ra quản lýĐầu raCơ cấu dự án so với định hướng ưu tiên; tỷ lệ dự án đúng tiến độ; tỷ lệ vi phạm được xử lý; tỷ lệ khu công nghiệp đạt chuẩn nước thải
(5.2) Chỉ báo kết quả – tác độngTác độngĐóng góp vào GRDP, xuất khẩu, ngân sách, việc làm; liên kết với doanh nghiệp trong nước và lan tỏa công nghệ; tuân thủ về môi trường
Nguồn: Tác giả tổng hợp, phát triển dựa trên quan điểm của Ngô Doãn Vịnh (2005) và Ngô Thúy Quỳnh (2019).

Nhóm chỉ báo (5.2) chỉ dùng để mô tả bối cảnh; việc xác định mức độ hiệu quả của tiêu chí (5) chủ yếu dựa trên nhóm (5.1) kết hợp đối chiếu (5.2) với mục tiêu thành phố đã đặt ra.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp và thống kê mô tả, phạm vi từ năm 2020 – 2026. Dữ liệu thu thập từ báo cáo của Sở Tài chính thành phố Hải Phòng (trên cơ sở hợp nhất giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính cũ) và Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (HEZA), các văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố hiện nay, cùng các nghiên cứu học thuật và báo cáo của tổ chức quốc tế.

Mức độ hiệu quả của từng nhóm tiêu chí được xếp theo thang bốn mức: “mức cao” khi đạt hoặc vượt mục tiêu và không có hạn chế hệ thống; “mức khá” khi cơ bản đạt mục tiêu nhưng còn hạn chế rõ rệt; “mức trung bình” khi chỉ đạt một phần mục tiêu và hạn chế lặp lại; “mức thấp” khi chưa đạt mục tiêu và hạn chế đã thành điểm nghẽn.

Căn cứ xếp mức dựa vào vị trí của địa phương trong các bảng xếp hạng quốc gia, mức độ đạt so với kế hoạch, và mức độ tồn tại của các hạn chế đã được cơ quan quản lý ghi nhận. Do chưa tiếp cận đủ số liệu cho nhóm chỉ báo (5.1), việc đánh giá nhóm này dựa trên tài liệu thứ cấp.

3. Hiệu quả quản lý nhà nước đối với FDI tại thành phố Hải Phòng

3.1. Hiệu quả xây dựng và thực thi chính sách

Định hướng thu hút FDI của thành phố Hải Phòng được xác lập tương đối rõ, nổi bật là phát triển FDI xanh với quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, thể hiện qua tám định hướng phát triển xanh trong các khu công nghiệp: không chấp thuận dự án gây ô nhiễm, từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu theo hướng sinh thái (Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng, 2025). Về thể chế, thành phố đã áp dụng Luật Đầu tư năm 2020 và ban hành Quyết định số 33/2020/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong QLNN đối với hoạt động đầu tư nước ngoài; chính sách đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ doanh nghiệp FDI cũng được triển khai qua hợp tác với các trường đại học trên địa bàn. Tuy nhiên, chính sách ưu đãi còn chung chung, chưa thiết kế phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực; định hướng FDI chất lượng cao và FDI xanh tuy đã thành chiến lược nhưng chưa cụ thể hóa thành bộ tiêu chí sàng lọc vận dụng trực tiếp trong thẩm định. Việc thiếu kênh tham vấn thường xuyên từ doanh nghiệp FDI khiến chính quyền khó nắm bắt khó khăn thực tế để điều chỉnh chính sách kịp thời. Vì vậy, tiêu chí (1) được xếp mức khá: định hướng rõ và đã thể chế hóa bằng văn bản, nhưng tiêu chí sàng lọc và cơ chế tham vấn còn hạn chế.

3.2. Hiệu quả thủ tục hành chính

Mô hình “một cửa liên thông” được triển khai đồng bộ, rút gọn thủ tục cấp phép; thời gian cấp phép đầu tư trung bình hiện còn khoảng 10 ngày, so với 15 ngày năm 2020 (Sở Tài chính thành phố Hải Phòng, 2025).

Bảng 2: Các chỉ số đánh giá môi trường đầu tư của thành phố Hải Phòng, giai đoạn (2022 – 2025)

Chỉ sốNăm 2023Năm 2024Năm 2025
PCI (Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh)Hạng 3/63Hạng 1/63  Hạng 1/34
PAR INDEX (Cải cách hành chính)Hạng 2/63  Hạng 1/63Hạng 1/34
SIPAS (Hài lòng về dịch vụ hành chính)Hạng 5/63  Hạng 1/63Hạng 1/34
PAPI (Quản trị công cấp tỉnh)Hạng 32/63Hạng 42/63Hạng 1/34
Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2025

Bảng 2 cho thấy một diễn biến trái chiều giữa các chỉ số. Tính theo đơn vị hành chính trước khi sáp nhập, PCI duy trì ở nhóm dẫn đầu, đứng top 5 cả nước, xếp thứ 3/63 tỉnh trong năm 2023; PAR INDEX xếp hạng 2/63 năm 2023; SIPAS tăng từ hạng 10 lên hạng 5. Đến năm 2024 và 2025, thành phố Hải Phòng dẫn đầu toàn quốc ở cả ba chỉ số. Ngược lại, chỉ số PAPI năm 2023, thành phố Hải Phòng đạt 42,13/80 điểm, xếp thứ 32/63 tỉnh, thành phố; năm 2024, chỉ số này có tăng nhẹ và đạt 42,7037/80 điểm nhưng chỉ xếp thứ 42/63 tỉnh thành và đồng thời xếp ở nhóm trung bình thấp trong hai năm 2023 và 2024 (theo đơn vị hành chính trước sáp nhập). Số liệu năm 2025 đứng thứ nhất, cho thấy thành phố đang nỗ lực để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và sự tham gia của người dân ở cơ sở, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát tham nhũng. Tuy nhiên, chất lượng quản trị công vẫn cần tiếp tục cải thiện.

Về công nghệ số, 100% hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được xử lý trực tuyến; hải quan điện tử đạt 99,65%, thông quan trong 1-3 giây với tờ khai luồng xanh (Chi cục Hải Quan khu vực III, 17/10/2025). Tuy vậy, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan chưa đồng bộ, khiến doanh nghiệp đôi khi phải bổ sung thông tin nhiều lần. Tiêu chí (2) được xếp ở mức cao với ba chỉ số dẫn đầu toàn quốc, thời gian cấp phép còn khoảng 10 ngày, mức độ số hóa cao; hạn chế về liên thông dữ liệu chỉ mang tính cục bộ.

3.3. Hiệu quả tổ chức bộ máy quản lý

Hệ thống QLNN đối với FDI được tổ chức trên hai cấp với phân công tương đối rõ: Ủy ban nhân dân thành phố giữ thẩm quyền cao nhất, Sở Tài chính là cơ quan đầu mối, HEZA phụ trách các khu công nghiệp và khu kinh tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường quản lý đất đai và môi trường, Cục Thuế giám sát nghĩa vụ tài chính. Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ trao quyền tự chủ cho HEZA, trong đó cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giúp rút ngắn quy trình (Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, 2024). Về nhân lực, Quyết định số 1364/QĐ-TTg ngày 11/11/2024 yêu cầu cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài thường xuyên bồi dưỡng về pháp luật và đầu tư quốc tế.

Tuy nhiên, khả năng thẩm định dự án công nghệ cao của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, trong khi yêu cầu về kiến thức liên ngành ngày càng cao. Các chức năng quản lý đất đai, môi trường và đầu tư đôi khi chồng chéo giữa các cơ quan, gây khó khăn trong phối hợp và làm suy giảm hiệu quả khâu giám sát, hậu kiểm. Tiêu chí (3) do đó chỉ đạt mức khá khi bộ máy có đầu mối rõ và phân cấp cho HEZA vận hành được, nhưng hai hạn chế nêu trên mang tính hệ thống và ảnh hưởng sang tiêu chí giám sát và hậu kiểm.

3.4. Hiệu quả giám sát và hậu kiểm

Hậu kiểm được hiểu là toàn bộ hoạt động theo dõi, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với dự án FDI sau khi doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tại thành phố Hải Phòng, công tác này được phân định theo thẩm quyền của từng đơn vị nên không xảy ra trùng lặp về đối tượng và nội dung thanh tra. Thành phố cũng duy trì ít nhất hai cuộc đối thoại mỗi năm với cộng đồng doanh nghiệp FDI, đồng thời vận hành hệ thống quản lý trực tuyến cho phép cập nhật liên tục tình trạng pháp lý, tiến độ dự án và nghĩa vụ tài chính của từng doanh nghiệp.

Dù vậy, đây vẫn là khâu yếu nhất trong chu trình quản lý. Việc kiểm tra, thanh tra chưa được tiến hành thường xuyên và thiếu chặt chẽ, nên một số doanh nghiệp vi phạm quy định về môi trường, lao động, thuế và chính sách đầu tư mà chưa bị phát hiện, xử lý kịp thời. Cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hoạt động cũng còn hạn chế. Nguyên nhân là do phân bổ nguồn lực bị lệch giữa các khâu của chu trình, cộng thêm tình trạng chồng chéo chức năng đã nêu ở tiêu chí (3). Khi trách nhiệm hậu kiểm phân tán giữa nhiều cơ quan mà không có đầu mối điều phối chuyên trách, việc theo dõi liên tục vòng đời dự án trở nên khó thực hiện. Vì vậy, tiêu chí (4) chỉ đạt mức trung bình. Hạn chế ở khâu này mang tính hệ thống, lặp lại qua nhiều năm và kéo theo kết quả kém ở tiêu chí (5), rõ nhất là ở khía cạnh môi trường.

3.5. Kết quả và tác động đối với khu vực FDI

Ở nhóm chỉ báo đầu ra quản lý (5.1), cơ cấu dự án thu hút được về cơ bản phù hợp với định hướng ưu tiên, tập trung vào công nghiệp chế biến – chế tạo, công nghệ cao và logistics. Nhưng ở khía cạnh môi trường, một số khu công nghiệp vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, kiểm soát khí thải chưa chặt chẽ và cán bộ chuyên trách môi trường tại các khu công nghiệp còn thiếu. Đây là các chỉ báo phản ánh trực tiếp chất lượng khâu hậu kiểm cho thấy, khoảng cách giữa định hướng FDI xanh trên văn bản với kết quả thực thi.

Ở nhóm chỉ báo kết quả – tác động (5.2), các doanh nghiệp trong khu công nghiệp và khu kinh tế năm 2025 đạt doanh thu 42 tỷ USD (105% kế hoạch), xuất khẩu 36 tỷ USD (109% kế hoạch), nộp ngân sách 15,166 tỷ đồng (104% kế hoạch). Tăng trưởng GRDP đạt 11,81%, đứng thứ 2 cả nước và thứ nhất vùng đồng bằng sông Hồng, là năm thứ mười liên tiếp thành phố duy trì mức tăng hai con số (Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, 02/12/2025). Khu vực FDI tạo việc làm cho gần 250.000 lao động, trong đó 210.182 người làm việc trong các khu công nghiệp và khu kinh tế (Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, 02/12/2025). Tuy nhiên, một số dự án vẫn chủ yếu mang tính gia công, lắp ráp, chưa lan tỏa công nghệ và liên kết với chuỗi giá trị nội địa; tỷ trọng việc làm ở vị trí kỹ thuật, quản lý và nghiên cứu – phát triển còn thấp.

Tiêu chí (5) được xếp mức khá: các chỉ tiêu kinh tế đều vượt kế hoạch, song nhóm chỉ báo (5.1) về môi trường và nhóm chỉ báo lan tỏa còn hạn chế rõ rệt. Tổng hợp năm nhóm tiêu chí, các khâu đầu chu trình đạt từ khá đến cao, còn khâu kiểm soát ở cuối chu trình yếu nhất, phản ánh trọng tâm quản lý vẫn nghiêng về “thu hút và cấp phép” hơn “giám sát và đồng hành”.

3.6. Nguyên nhân của những hạn chế

Về nguyên nhân khách quan, cạnh tranh thu hút FDI gay gắt cả trong nước và trong khu vực, tạo sức ép khiến địa phương nghiêng về tốc độ tiếp nhận dự án hơn là mức chặt chẽ trong sàng lọc, giám sát; xung đột địa chính trị, căng thẳng thương mại và lãi suất cao làm chậm giải ngân, kéo theo khối lượng hậu kiểm lớn hơn. Việc các tập đoàn FDI liên tục điều chỉnh chiến lược theo tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu làm giảm tính ổn định trong liên kết với doanh nghiệp nội địa, khiến mục tiêu lan tỏa công nghệ khó đạt trong ngắn hạn (UNCTAD, 2023).

Về nguyên nhân chủ quan, ở tiêu chí (1), định hướng chất lượng cao và FDI xanh mới dừng ở tầm chiến lược, chưa chuyển thành tiêu chí lựa chọn dự án và cơ chế ưu đãi tương ứng, một phần vì dư địa ban hành ưu đãi riêng của địa phương phụ thuộc khuôn khổ pháp luật Trung ương. Ở tiêu chí (2), tính liên ngành của quá trình thực hiện dự án khiến tiến độ xử lý hồ sơ phụ thuộc vào phối hợp giữa nhiều cơ quan, trong khi dữ liệu chưa liên thông làm phát sinh độ trễ. Ở tiêu chí (3), cơ chế phối hợp chưa tinh gọn là gốc rễ, đồng thời số dự án công nghệ cao tăng lên đòi hỏi cán bộ có kiến thức liên ngành. Ở tiêu chí (4), nguồn lực phân bổ lệch giữa giai đoạn thu hút, cấp phép và giai đoạn sau cấp phép; nguyên nhân này gắn trực tiếp với chồng chéo chức năng ở tiêu chí (3), bởi trách nhiệm hậu kiểm phân tán mà không có đầu mối điều phối chuyên trách thì hiệu quả giám sát khó giữ được. Ở tiêu chí (5), liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn mỏng nên công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển, chuyển giao công nghệ chưa tương xứng với quy mô dự án; riêng khía cạnh môi trường, kết quả kém là hệ quả trực tiếp của hạn chế trong khâu hậu kiểm.

Kết quả nghiên cứu đồng thuận với luận điểm của Guimón and Filippov (2012) rằng, FDI không tự động mang lại lợi ích mà phụ thuộc vào chất lượng quản lý và nhận định của Alfaro and Charlton (2013) về vai trò của chất lượng dòng vốn và năng lực quản lý nước tiếp nhận. Kết quả cũng cho thấy, giá trị của việc phân biệt ba tầng kết quả: nếu chỉ dựa vào nhóm chỉ báo tác động với GRDP tăng 11,01% và các chỉ tiêu đều vượt kế hoạch sẽ dễ kết luận hiệu quả QLNN ở mức cao; nhưng khi đối chiếu thêm nhóm chỉ báo đầu ra và chất lượng vận hành các khâu (1) – (4), phần lớn kết quả kinh tế đến từ vị trí, hạ tầng và quy mô dự án đã đầu tư, còn khâu kiểm soát vẫn yếu.

4. Một số hàm ý chính sách

Thứ nhất, tăng cường hiệu quả hậu kiểm là ưu tiên cao nhất, tương ứng tiêu chí (4). Thay cho kiểm tra dàn trải, thành phố nên chuyển sang hậu kiểm dựa trên rủi ro, xác định tần suất và mức độ kiểm tra theo rủi ro của từng dự án về môi trường, lao động và nghĩa vụ tài chính. Đi kèm là một nền tảng dữ liệu thống nhất kết nối tiến độ dự án, sử dụng đất, quan trắc môi trường và nghĩa vụ thuế, cho phép theo dõi liên tục thay vì theo đợt; kết quả hậu kiểm cần được đo bằng bộ chỉ số riêng theo ngành và công khai.

Thứ hai, cải thiện cơ chế phối hợp liên ngành, tương ứng tiêu chí 3. Ba lĩnh vực chồng chéo rõ nhất là đất đai, môi trường và đầu tư cần một đầu mối điều phối chuyên trách về quản lý dự án FDI sau cấp phép, có thẩm quyền đủ để chủ trì xử lý các vấn đề liên ngành. Hệ thống thông tin dùng chung vừa giảm độ trễ xử lý thủ tục, vừa là nền tảng kỹ thuật cho hậu kiểm. Về nhân lực, trọng tâm đào tạo nên đặt vào thẩm định dự án công nghệ cao, pháp luật đầu tư quốc tế và quản lý môi trường công nghiệp.

Thứ ba, cụ thể hóa chính sách ưu đãi theo hướng phân tầng, tương ứng tiêu chí 1. Định hướng FDI chất lượng cao và FDI xanh cần được chuyển thành bộ tiêu chí sàng lọc dùng được ngay trong thẩm định, với các chỉ tiêu định lượng về suất đầu tư trên một đơn vị diện tích đất, trình độ công nghệ, tỷ lệ lao động kỹ thuật và cam kết liên kết với doanh nghiệp trong nước. Từ bộ tiêu chí đó mới thiết kế được chính sách ưu đãi phân tầng theo ngành, ưu tiên công nghệ cao, năng lượng tái tạo và sản xuất công nghệ sạch. Các cuộc đối thoại với doanh nghiệp FDI cũng cần được nâng thành kênh phản hồi chính sách định kỳ.

Thứ tư, thúc đẩy liên kết và lan tỏa, tương ứng tiêu chí 5. Cần một chương trình kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, gồm cơ sở dữ liệu về năng lực cung ứng của doanh nghiệp địa phương, hỗ trợ nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn của nhà đầu tư nước ngoài và ưu đãi cho dự án có cam kết nội địa hóa. Các chỉ báo về liên kết chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ cần đưa vào hệ thống theo dõi dự án, để mục tiêu lan tỏa được quản lý chứ không chỉ được nêu ra.

Tài liệu tham khảo:
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng (2025). Báo cáo tổng kết hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2025.
Chi cục Hải quan khu vực III (17/10/2025). Chi cục Hải quan khu vực III – Tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số ngành Hải quan. https://kv03.customs.gov.vn/index.jsp?pageId=1969&aid=213625&cid=7902
Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng (11/12/2025). Nghị quyết số 73/NQ-HĐND về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh thành phố 5 năm 2026–2030. https://dbndhaiphong.gov.vn/ky-hop-thu-32/Nghi-quyet-so-73–NQ-HDND-ve-ke-hoach-phat-trien-kinh-te—xa-hoi–quoc-phong—an-ninh-thanh-pho-5-nam-2026—2030-2944
Sở Tài chính thành phố Hải Phòng (09/6/2026). Hướng dẫn đăng ký đầu tư trực tuyến. https://sotc.haiphong.gov.vn/tin-tuc/huong-dan-dang-ky-dau-tu-truc-tuyen
UNCTAD (2023). World investment report 2023: Investing in sustainable energy for all. United Nations.
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (02/12/2025). Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh 5 năm 2021 – 2025, Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030. https://haiphong.gov.vn/bao-cao-kinh-te-xa-hoi-thanh-pho/bao-cao-ket-qua-thuc-hien-ke-hoach-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-quoc-phong-an-ninh-5-nam-2021-2025–838931