Fiscal policies to attract foreign direct investment: International experiences and implications for Vietnam
ThS. Nguyễn Quỳnh Như
Học viện Tài chính
Email: nguyenquynhnhu@hvtc.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Chính sách tài khóa là công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế của các quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô; một trong những mục tiêu tiên quyết là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bài viết tập trung nghiên cứu, tổng hợp về sự thay đổi của các chính sách tài khóa nhằm thu hút FDI trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu và phát triển bền vững ở các quốc gia, nhằm rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam. Kết quả cho thấy, xu hướng chung về chính sách tài khóa là thu hẹp các ưu đãi thuế dựa trên lợi nhuận, chuyển sang ưu đãi dựa trên chi phí, và mở rộng chi tiêu công có điều kiện cho hạ tầng, khoa học – công nghệ và nhân lực. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách tài khóa nhằm thu hút FDI vào Việt Nam, phù hợp với giai đoạn tới.
Từ khóa: FDI; chính sách tài khóa; ưu đãi thuế; chi ngân sách; thuế tối thiểu toàn cầu; Việt Nam.
Abstract: Fiscal policy is a key tool for countries to regulate their economies in order to achieve macroeconomic goals, one of the primary objectives being to attract foreign direct investment (FDI). This article focuses on a comprehensive study of changes in fiscal policies designed to attract FDI in the context of the global minimum tax and sustainable development in various countries, with the aim of drawing lessons for Vietnam. The results show that the general trend in fiscal policy is to reduce profit-based tax incentives, shift toward cost-based incentives, and expand conditional public spending on infrastructure, science and technology, and human resources. Based on this, the article proposes several solutions to improve Vietnam’s fiscal policies for attracting FDI to better suit the coming period.
Keywords: FDI; fiscal policy; tax incentives; budget spending; global minimum tax; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong 40 năm qua. Tính đến ngày 31/12/2025, theo số liệu của cục Đầu tư nước ngoài- Bộ Tài chính công bố trong báo cáo tình hình thu hút FDI năm 2025 thì cả nước có 45.416 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 529,6 tỷ USD; vốn thực hiện lũy kế ước đạt 350,22 tỷ USD, tương đương 66,1% vốn đăng ký còn hiệu lực. Khu vực FDI đóng góp khoảng ba phần tư kim ngạch xuất khẩu và là chủ thể chính của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, 2026). Trong thời gian dài, chính sách thu thông qua ưu đãi thuế là công cụ chủ lực của Việt Nam và các nước đang phát triển trong cạnh tranh thu hút FDI. Tuy nhiên việc áp dụng quy tắc thuế tối thiểu toàn cầu và sự tập trung vốn FDI vào một số các vùng lãnh thổ đang làm thay đổi toàn bộ các chính sách tài khóa thu hút FDI trước đây. Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra là các quốc gia đã điều chỉnh chính sách thu và chính sách chi như thế nào để duy trì sức hấp dẫn với FDI trong bối cảnh mới.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của chính sách tài khóa đến thu hút FDI
Các nghiên cứu lý thuyết trước đây đã chỉ ra rằng chính sách tài khóa có tác động đến thu hút FDI. Trong mô hình chiết trung OLI của Dunning (1977; 1993) nhận định rằng khi các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài khi đồng thời có lợi thế sở hữu (O), lợi thế địa điểm (L) và lợi thế nội hóa (I). Chính sách tài khóa của nước tiếp nhận tác động chủ yếu tới lợi thế địa điểm trong lý thuyết của Dunning theo hai kênh thu và chi. Chính sách thu làm thay đổi lợi nhuận sau thuế của dự án, còn chính sách chi cải thiện các yếu tố đầu vào mà nhà đầu tư không tự tạo ra được như hạ tầng, tri thức và nhân lực.
Từ mô hình của Tiebout (1956), các nghiên cứu sau đó chỉ ra rằng khi vốn di chuyển tự do, chính phủ có hành vi giảm thuế để thu hút vốn ngoại, dẫn tới nguy cơ cung cấp thiếu hàng hóa công và cuộc đua giảm thuế (Zodrow & Mieszkowski, 1986; Wilson, 1999). Tuy nhiên, Bénassy-Quéré và cộng sự (2007) cho thấy, các nước cạnh tranh không chỉ bằng thuế suất mà còn bằng hạ tầng và dịch vụ công tốt. Görg và cộng sự (2009) cũng chứng minh chi tiêu công cho các lĩnh vực xã hội có thể bù đắp tác động tiêu cực của thuế cao đối với dòng FDI. Nói cách khác, nhà đầu tư đánh giá cả ưu đãi thuế và chi tiêu công của nước tiếp nhận, chứ không chỉ mức thuế. Tại Việt Nam qua khảo sát 288 tập đoàn đa quốc gia trong ngành dịch vụ, Nguyen và cộng sự (2018) xác định chính sách FDI, hiệp định thương mại, ưu đãi thuế và hạ tầng là các nhân tố chính sách then chốt tác động tới quyết định đầu tư; trong đó ưu đãi thuế thuộc mảng thu, còn hạ tầng là kết quả của mảng chi.
2.2. Các nghiên cứu về tác động của chính sách thu đến thu hút FDI
Trong các nghiên cứu về lý thuyết tác động của thuế tới đầu tư được phân tích qua chi phí sử dụng vốn (Hall & Jorgenson, 1967). Sau đó có nghiên cứu của Devereux & Griffith (1998; 2003) đã phát triển cách tiếp cận này cho đầu tư nước ngoài và cho thuế suất bình quân hiệu dụng ảnh hưởng quyết định lựa chọn địa điểm, còn thuế suất biên hiệu dụng ảnh hưởng đến quy mô đầu tư tại địa điểm đã chọn. Ưu đãi dựa trên lợi nhuận như miễn thuế có thời hạn hay thuế suất ưu đãi chủ yếu tác động tới thuế suất bình quân hiệu dụng, còn ưu đãi dựa trên chi phí như khấu hao nhanh hay khấu trừ tăng thêm chi phí nghiên cứu phát triển tác động trực tiếp tới thuế suất biên hiệu dụng.
Các nghiên cứu về thực nghiệm cho thấy sự tác động thuận chiều và ngược chiều hoặc không có mối quan hệ của các chính sách thu đến thu hút FDI. Trong nghiên cứu của De Mooij & Ederveen (2003; 2008) cho thấy, FDI phản ứng ngược chiều và có ý nghĩa thống kê với thuế suất, dù mức độ khác nhau theo loại FDI và phương pháp đo lường; Hines (1999) cũng cho thấy mối quan hệ tương tự trong mối doanh nghiệp đa quốc gia và thuế. Tuy nhiên, bằng chứng tại các nước đang phát triển lại cho thấy có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa chính sách thu và thu hút FDI. Klemm & Van Parys (2012) thấy miễn thuế có thời hạn có thể làm tăng FDI nhưng không làm tăng tổng đầu tư hay tăng trưởng kinh tế. Một số nghiên cứu khác lại cho thấy nhà đầu tư vẫn được triển khai dự án ngay cả khi không có ưu đãi (Wells và cộng sự, 2001; James, 2013). Vì vậy, IMF, OECD, Liên Hợp quốc và Ngân hàng Thế giới (2015) khuyến nghị ưu tiên ưu đãi dựa trên chi phí và công khai chi phí ưu đãi qua báo cáo chi tiêu thuế.
Ở Việt Nam, Hao (2019) đánh giá chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút FDI, nhưng nghiêng về giảm thuế suất và miễn thuế có thời hạn, tạo kẽ hở cho tránh thuế. Lê Hà Trang (2019) đề xuất cải cách ưu đãi thuế theo hướng hiệu quả hơn. Từ năm 2023, trọng tâm nghiên cứu chuyển sang thuế tối thiểu toàn cầu: OECD (2022) đánh giá miễn thuế và thuế suất ưu đãi là nhóm bị ảnh hưởng nặng nhất, còn Nguyễn An Huy (2025) cho rằng, quy định này làm giảm sức hấp dẫn ngắn hạn của Việt Nam nhưng mở ra cơ hội chuyển sang các biện pháp hỗ trợ phi thuế.
2.3. Các nghiên cứu về tác động của chính sách chi đến thu hút FDI
Trong nghiên cứu của Barro (1990) Chính phủ tăng chi cho hạ tầng, tri thức và giáo dục là đầu vào của sản xuất tư nhân làm tăng năng suất biên của vốn, kể cả vốn FDI. Các nghiên cứu về chi ngân sách thu hút FDI có thể chia theo khoản chi gồm chi đầu tư công thông qua đầu tư hạ tầng, chi khoa học và công nghệ thông qua chi cho các dự án nghiên cứu phát triển, chi giáo dục đào tạo thông qua hoạt động giáo dục và dạy nghề.
Chi đầu tư công thông qua chi cho hạ tầng giao thông, năng lượng và khu công nghiệp giảm chi phí vận chuyển, logistics và sản xuất, qua đó tăng lợi thế địa điểm. Phân tích của Asiedu (2002) và Kumar (2006) cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấ hạ tầng là yếu tố quyết định quan trọng của FDI vào các nước đang phát triển.
Trong lý thuyết năng lực hấp thụ cho rằng nghiên cứu và phát triển trong nước vừa tạo ra tri thức mới, vừa giúp doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài (Cohen & Levinthal, 1989); Griffith và cộng sự (2004) cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hai vai trò này. Do đó, chi khoa học và công nghệ vừa thu hút FDI tìm kiếm tài sản chiến lược, vừa giúp nước tiếp nhận hấp thụ lan tỏa công nghệ từ FDI.
Nghiên cứu của Borensztein và cộng sự (1998) chứng minh được rằng FDI chỉ thúc đẩy tăng trưởng khi vốn nhân lực của nước tiếp nhận vượt một ngưỡng nhất định; Noorbakhsh và cộng sự (2001) lại xác định vốn nhân lực là yếu tố quyết định có ý nghĩa thống kê của dòng FDI vào các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, lý thuyết về trợ cấp FDI nhấn mạnh điều kiện hiệu quả của các khoản chi hỗ trợ trực tiếp: hỗ trợ chỉ hợp lý khi lợi ích lan tỏa tới nền kinh tế trong nước lớn hơn chi phí ngân sách (Haaland & Wooton, 1999; Blomström & Kokko, 2003).
Bên cạnh các nghiên cứu nước ngoài, các nghiên cứu trong nước chủ yếu phân tích riêng ưu đãi thuế hoặc riêng tác động của thuế tối thiểu toàn cầu, chưa có nghiên cứu nào đặt chính sách thu và chính sách chi trong một nghiên cứu; đồng thời chưa có đánh giá đối chiếu kinh nghiệm quốc tế với khung pháp lý mới của Việt Nam giai đoạn 2025 – 2030. Bài viết hướng tới bổ sung khoảng trống này.
3. Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài khóa thu hút FDI
3.1. Bối cảnh điều chỉnh chính sách
Chính sách tài khóa thu hút FDI trên thế giới đã trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn 1960 – 1990, chính sách tài khóa chủ yếu thông qua chính sách thu để thu hút FDI bằng hình thức miễn thuế dài hạn đối với khu chế xuất. Giai đoạn 1990 – 2020, chính sách thu chuyển sang ưu đãi thuế có chọn lọc theo ngành và địa bàn, trong khi chính sách chi tập trung chi ngân sách vào hạ tầng khu công nghiệp. Từ năm 2024, thuế tối thiểu toàn cầu thu hẹp đáng kể hiệu quả thu hút FDI của các chính sách thu. Từ năm 2026, theo hướng dẫn mới của OECD, ưu đãi thuế gắn với chi phí đầu tư và sản xuất thực tế sẽ không bị thu lại qua thuế tối thiểu toàn cầu, còn ưu đãi gắn với lợi nhuận như miễn thuế có thời hạn thì vẫn bị thu lại. Hệ quả là các quốc gia vừa thay đổi chính sách thu, vừa mở rộng chính sách chi.
3.2. Kinh nghiệm về chính sách thu nhằm thu hút FDI
Chủ động áp dụng thuế bổ sung tối thiểu nội địa để giữ nguồn thu. Singapore, Thái Lan và Malaysia đều áp dụng thuế bổ sung từ năm 2025, bảo đảm phần thuế chênh lệch được thu tại nước sở tại thay vì tại nước của công ty mẹ. Thái Lan ban hành Sắc lệnh khẩn cấp về thuế bổ sung năm 2024 và yêu cầu ủy ban Đầu tư rà soát ưu đãi đã cấp cho doanh nghiệp thuộc diện áp dụng.
Chuyển từ ưu đãi dựa trên lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên chi phí. Hàn Quốc mở rộng tín dụng thuế cho nghiên cứu phát triển và đầu tư vào công nghệ chiến lược như bán dẫn; Ireland áp dụng thuế suất 15% cho tập đoàn lớn nhưng giữ 12,5% cho doanh nghiệp còn lại, đồng thời duy trì tín dụng thuế nghiên cứu phát triển. Điểm chung là chính sách thuế ổn định, dễ dự đoán và gắn với hoạt động thực chất.
3.3. Kinh nghiệm về chính sách chi nhằm thu hút FDI
Chi đầu tư công: Để thu hút FDIThái Lan chi đầu tư từ ngân sách rất lớn nhằm đồng bộ cảng biển, sân bay, đường sắt cho hành lang kinh tế phía Đông; Singapore phát triển hạ tầng công nghiệp chuyên biệt như khu hóa dầu Jurong và khu công nghệ sinh học thông qua Tập đoàn JTC.
Chi khoa học và công nghệ: Với bối cảnh mới Singapore ban hành tín dụng đầu tư hoàn lại, hỗ trợ tới 50% chi phí đủ điều kiện, phần chưa sử dụng được hoàn tiền trong vòng 4 năm, phù hợp chuẩn tín dụng thuế hoàn lại của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD); Thái Lan chuyển một phần ưu đãi của Ủy ban đầu tư Thái Lan sang tín dụng thuế theo mô hình tương tự. Hàn Quốc duy trì tỷ lệ chi nghiên cứu phát triển trên GDP thuộc nhóm cao nhất thế giới và có chính sách hỗ trợ các cụm bán dẫn.
Chi giáo dục và đào tạo. Singapore luôn là quốc gia đầu tư mạnh cho giáo dục trong bối cảnh mới Chính phủ quốc gia này còn đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đại học và đào tạo lại lao động, hợp tác đào tạo với doanh nghiệp FDI; Ireland coi lực lượng lao động trẻ, trình độ cao là lợi thế cốt lõi và chi ngân sách nhiều cho các đối tượng này; Malaysia gắn hỗ trợ với tiêu chí việc làm chất lượng cao trong khung ưu đãi dựa trên kết quả.
Bảng 1. Tổng hợp chính sách tài khóa thu hút FDI của một số quốc gia
| Quốc gia | Chính sách thu | Chính sách chi | Điểm đáng chú ý |
| Singapore | Thuế suất 17%; áp dụng thuế bổ sung từ năm 2025; rà soát ưu đãi doanh nghiệp tiên phong, ưu đãi phát triển và mở rộng thuế suất 5% và 10%. | Tín dụng đầu tư hoàn lại lên tới 50% chi phí, hoàn tiền trong 4 năm; hạ tầng nhà nước, khu công nghiệp; chi cho chương trình quốc gia đào tạo kỹ năng suốt đời | Thiết kế công cụ chi tương thích với tín dụng thuế hoàn lại đạt chuẩn OECD rất sớm. |
| Thái Lan | Thuế bổ sung từ năm2025; điều chỉnh miễn thuế. | Tín dụng thuế hoàn lại đạt chuẩn OECD; hạ tầng hang lang kinh tế phía đông | Chủ động chuyển đổi các chính sách ưu đãi phù hợp. |
| Malaysia | Thuế bổ sung từ năm 2025 | Hỗ trợ dựa trên kết quả từ năm 2026 | Chính sách hỗ trợ gắn với kết quả |
| Hàn Quốc | Tín dụng thuế nghiên cứu, đầu tư công nghệ chiến lược. | Chi nghiên cứu phát triển cao; hỗ trợ cụm công nghiệp sản xuất bán dẫn | Chính sách tài khóa gắn với chính sách công nghiệp |
| Ireland | Áp dụng mức thuế 12,5% và 15% cho tập đoàn lớn; tín dụng thuế nghiên cứu phát triển. | Trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu phát triển, đào tạo thông qua cơ quan phát triển Công nghiệp Ireland. | Ổn định chính sách; tập trung vào phát triển nhân lực. |
Hiện nay ở Việt Nam, chính sách tài khóa đang phản ứng nhanh với thay đổi của môi trường thuế quốc tế: áp dụng thuế bổ sung tối thiểu để giữ nguồn thu, ban hành luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới, thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư, đồng thời nâng mức chi cho khoa học công nghệ. Kết quả thu hút FDI giai đoạn 2023 – 2026 cho thấy, niềm tin của nhà đầu tư tại Việt Nam được duy trì. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế tồn tại như sau: Thứ nhất, chính sách thu vẫn chủ yếu dựa trên lợi nhuận thông qua miễn, giảm thuế, thuế suất ưu đãi, chính sách này không còn hiệu quả đối với các doanh nghiệp FDI thuộc diện áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu. Thứ hai, chính sách chi còn mới: điều kiện tiếp cận Quỹ Hỗ trợ đầu tư cao, chủ yếu dành cho dự án quy mô lớn; nguồn vốn của Quỹ phụ thuộc vào số thu thuế bổ sung, thiếu tính ổn định; tỷ lệ chi nghiên cứu trên GDP còn thấp so với các nước trong khu vực. Thứ ba, chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa chính sách thu và chính sách chi, cũng như chưa tận dụng cơ chế an toàn cho ưu đãi dựa trên thực chất trong năm 2026.
4. Một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Một là, chủ động áp dụng thuế bổ sung tối thiểu để giữ nguồn thu, đồng thời rà soát và chuyển đổi ưu đãi đã cấp. Khi thuế tối thiểu toàn cầu có hiệu lực, phần ưu đãi khiến thuế suất thực tế của tập đoàn đa quốc gia xuống dưới 15% sẽ bị thu bổ sung, hoặc tại nước sở tại, hoặc tại nước của công ty mẹ. Vì vậy, một quốc gia không áp dụng thuế bổ sung nội địa thực chất đang “nhường” nguồn thu cho nước khác mà nhà đầu tư không được lợi thêm. Thái Lan, Singapore và Malaysia đều áp dụng thuế bổ sung từ năm 2025. Thái Lan còn yêu cầu Ủy ban Đầu tư rà soát ưu đãi đã cấp cho doanh nghiệp thuộc diện áp dụng để chuyển sang hình thức hỗ trợ phù hợp. Việt Nam đã đi đúng hướng khi áp dụng từ năm 2024 theo Nghị quyết số 107/2023/QH15 (Quốc hội, 2023). Tuy nhiên, việc rà soát, chuyển đổi các cam kết ưu đãi đã cấp cho nhà đầu tư hiện hữu cần được thực hiện có lộ trình và đối thoại rõ ràng, tránh làm suy giảm niềm tin.
Hai là, chuyển đổi chính sách thu từ ưu đãi dựa trên lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên chi phí, gắn với nghiên cứu phát triển và đầu tư thực chất. Miễn thuế có thời hạn và thuế suất ưu đãi chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp đã có lãi, nên không khuyến khích trực tiếp việc mở rộng đầu tư. Ngược lại, khấu hao nhanh hay khấu trừ tăng thêm chi phí nghiên cứu, đào tạo gắn trực tiếp với số tiền doanh nghiệp bỏ ra. Theo hướng dẫn mới của OECD năm 2026, nhóm ưu đãi này cũng ít bị thu hẹp lại hơn. Hàn Quốc và Ireland là ví dụ điển hình cho kinh nghiệm này khi duy trì tín dụng thuế cho nghiên cứu phát triển và đầu tư công nghệ chiến lược, trong khi giữ thuế suất ổn định, dễ dự đoán.
Ba là, thiết kế công cụ hỗ trợ trực tiếp tương thích chuẩn tín dụng thuế hoàn lại ngay từ sớm. Singapore là quốc gia đi đầu ở châu Á với Tín dụng đầu tư hoàn lại, hỗ trợ tới 50% chi phí đủ điều kiện, phần không dùng hết để trừ thuế được hoàn bằng tiền trong vòng 4 năm. Nhờ thiết kế theo đúng chuẩn của OECD, khoản hỗ trợ này không bị coi là giảm thuế và không bị thu bổ sung. Bài học cho Việt Nam là các quy định về Quỹ Hỗ trợ đầu tư cần bảo đảm thời hạn chi trả, điều kiện và cách hạch toán phù hợp chuẩn quốc tế, để khoản hỗ trợ thực sự đến được với nhà đầu tư.
Bốn là, chi đầu tư công, khoa học công nghệ và đào tạo phải tập trung, gắn với ngành và vùng mục tiêu, đồng bộ với chính sách công nghiệp trọng tâm. Thái Lan không đầu tư dàn trải mà tập trung vào Hành lang kinh tế phía Đông, kết nối đồng bộ sân bay, cảng biển, đường sắt và khu đổi mới sáng tạo. Hàn Quốc gắn chi nghiên cứu và đào tạo với các cụm bán dẫn. Kinh nghiệm này cho thấy hiệu quả của chi ngân sách phụ thuộc vào mức độ tập trung và tính đồng bộ, nhất là khi nguồn lực ngân sách của Việt Nam còn hạn chế.
Năm là, mọi khoản hỗ trợ cần gắn với kết quả đo lường được và có cơ chế thu hồi. Malaysia chuyển sang khung ưu đãi dựa trên kết quả, trong đó mức hỗ trợ phụ thuộc vào các chỉ tiêu như việc làm chất lượng cao, chi nghiên cứu và liên kết với nhà cung cấp trong nước. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng ưu đãi quá nhiều không cần thiết, tức trao ưu đãi cho những dự án vẫn sẽ đầu tư dù không có ưu đãi. Đối với Việt Nam, các điều kiện như cam kết sử dụng kỹ sư người Việt Nam trong Nghị định số 182/2024/NĐ-CP là bước khởi đầu tích cực (Chính phủ, 2024). Cần tiếp tục mở rộng sang các chỉ tiêu về chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, kèm cơ chế giám sát và thu hồi khi nhà đầu tư không đáp ứng cam kết.
5. Một số giải pháp
5.1. Giải pháp đối với chính sách thu
Thứ nhất, chính sách tài khóa có sự phân tầng đối tượng ưu đãi. Với tập đoàn thuộc diện thuế tối thiểu toàn cầu, chuyển dần từ miễn, giảm thuế sang các hình thức hỗ trợ khác; với doanh nghiệp ngoài diện, gồm doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhà cung cấp trong chuỗi giá trị, tiếp tục duy trì ưu đãi thuế có chọn lọc. Thứ hai, khi hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 và Luật Đầu tư năm 2025, tăng tỷ trọng ưu đãi dựa trên chi phí, như khấu hao nhanh, khấu trừ tăng thêm chi phí nghiên cứu và đào tạo, để đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế gắn với hoạt động thực chất của OECD. Thứ ba, xây dựng và công bố báo cáo chi tiêu thuế hằng năm, đánh giá chi phí – lợi ích của từng loại ưu đãi trước và sau khi áp dụng.
5.2. Giải pháp đối với chính sách chi
Đối với chi đầu tư công, ưu tiên các điểm nghẽn nhà đầu tư phản ánh nhiều nhất là điện, năng lượng sạch, logistics và hạ tầng số; tập trung nguồn lực cho các vùng, cụm ngành có khả năng thu hút FDI công nghệ cao thay vì dàn trải; đẩy nhanh giải ngân và nâng cao hiệu quả đầu tư công.
Đối với chi khoa học và công nghệ, thực hiện nghiêm mục tiêu chi tối thiểu 3% tổng chi ngân sách theo Nghị quyết 57-NQ/TW, ưu tiên các chương trình hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp FDI với viện, trường trong nước (Bộ Chính trị, 2024). Hoàn thiện Quỹ Hỗ trợ đầu tư theo hướng: nguồn vốn ổn định và dự báo được; tiêu chí xét duyệt minh bạch; thời hạn chi trả không quá 4 năm phù hợp chuẩn QRTC; mở rộng đối tượng sang dự án có liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Đối với chi giáo dục và đào tạo, tăng chi cho cho đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên ở các ngành mục tiêu như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng; xây dựng cơ chế đồng tài trợ đào tạo giữa Nhà nước và doanh nghiệp FDI; gắn hỗ trợ với cam kết sử dụng và đào tạo lao động Việt Nam.
5.3. Phối hợp giữa chính sách thu và chính sách chi
Nguồn thu tăng thêm từ thuế bổ sung tối thiểu cần được sử dụng làm nguồn tài trợ cho chính sách chi theo nguyên tắc thu từ FDI thì hỗ trợ có điều kiện cho FDI chất lượng cao. Cần có một đầu mối điều phối gói ưu đãi tổng thể như thuế, hỗ trợ trực tiếp, hạ tầng, nhân lực cho các dự án chiến lược, tránh chồng chéo giữa các bộ, ngành và địa phương. Đồng thời, Việt Nam nên tham gia đối thoại khu vực ASEAN để hạn chế nguy cơ “cuộc đua trợ cấp” bảo đảm tuân thủ cam kết của WTO về trợ cấp.
6. Kết luận
Chính sách tài khóa thu hút FDI cần được nhìn nhận đồng thời qua chính sách thu và chính sách chi. Tổng quan nghiên cứu cho thấy ưu đãi thuế có tác động tới FDI nhưng hiệu quả còn hạn chế và tốn kém, trong khi chi đầu tư công, chi khoa học công nghệ và chi giáo dục đào tạo có vai trò ngày càng quan trọng trong thu hút FDI chất lượng cao. Thuế tối thiểu toàn cầu được đưa ra càng củng cố xu hướng này. Kinh nghiệm của Singapore, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc và Ireland cho thấy các nước đang thu hẹp ưu đãi dựa trên lợi nhuận, chuyển sang ưu đãi dựa trên chi phí và mở rộng hỗ trợ có điều kiện. Giai đoạn 2015 – 2026, Việt Nam đạt kết quả thu hút FDI ấn tượng và đã xây dựng nền tảng pháp lý mới cho cả hai mảng chính sách. Thách thức tiếp theo là hoàn thiện chính sách tài khóa, bảo đảm nguồn lực thúc đẩy thu hút FDI bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chính phủ (2024). Nghị định số 182/2024/NĐ-CP về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư.
Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính (2026). Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2025.
Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026a). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026b). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng năm 2026.
Nguyễn An Huy (2025). Pháp luật Việt Nam về thuế tối thiểu toàn cầu: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện chính sách thu hút FDI. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, (số 178/2025).
Quốc hội (2023). Nghị quyết số 107/2023/QH15 về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu.
Quốc hội (2025). Luật Đầu tư năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025.
Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám thống kê Việt Nam 2024.
Asiedu, E. (2002). On the determinants of foreign direct investment to developing countries: Is Africa different? World Development, 30(1), 107-119.
Barro, R. J. (1990). Government spending in a simple model of endogenous growth. Journal of Political Economy, 98(5), S103–S125.
Bénassy-Quéré, A., Gobalraja, N., & Trannoy, A. (2007). Tax and public input competition. Economic Policy, 22(50), 385-430.
Blomström, M., & Kokko, A. (2003). The economics of foreign direct investment incentives (NBER Working Paper No. 9489). National Bureau of Economic Research.
Borensztein, E., De Gregorio, J., & Lee, J.-W. (1998). How does foreign direct investment affect economic growth? Journal of International Economics, 45(1), 115-135.
Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1989). Innovation and learning: The two faces of R&D. The Economic Journal, 99(397), 569-596.
De Mooij, R. A., & Ederveen, S. (2008). Corporate tax elasticities: A reader’s guide to empirical findings. Oxford Review of Economic Policy, 24(4), 680-697.
Devereux, M. P., & Griffith, R. (2003). Evaluating tax policy for location decisions. International Tax and Public Finance, 10(2), 107-126.
Dunning, J. H. (1993). Multinational enterprises and the global economy. Addison-Wesley.
Hao, V. T. (2019). The effectiveness of corporate tax incentives in attracting foreign direct investment: The case of Vietnam. Advances in Economics, Business and Management Research, 83, 289–293.
James, S. (2013). Effectiveness of tax and non-tax incentives and investments: Evidence and policy implications. World Bank Group.
Klemm, A., & Van Parys, S. (2012). Empirical evidence on the effects of tax incentives. International Tax and Public Finance, 19(3), 393–423.
Nguyen, T. L. A., Saleh, A. S., & Safari, A. (2018). The impact of government policies on FDI decisions of multinational corporations: An application to the Vietnamese service industry. International Journal of Economics and Business Research, 15(2), 204-222.
Noorbakhsh, F., Paloni, A., & Youssef, A. (2001). Human capital and FDI inflows to developing countries: New empirical evidence. World Development, 29(9), 1593-1610.
OECD. (2022). Tax incentives and the global minimum corporate tax: Reconsidering tax incentives after the GloBE rules. OECD Publishing.
OECD. (2026). Tax challenges arising from the digitalization of the economy – Global anti-base erosion model rules (Pillar Two), side-by-side package. OECD/G20 Inclusive Framework on BEPS.
UNCTAD. (2026). World investment report 2026: International investment in a turbulent era. United Nations.
Wilson, J. D. (1999). Theories of tax competition. National Tax Journal, 52(2), 269-304.



