Reforming external communications in cyberspace: current situation and a strategic framework
TS. Nguyễn Khánh Vân
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Email: nguyenkhanhvan_vias@yahoo.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới phương thức thông tin đối ngoại của Việt Nam trên không gian mạng trong bối cảnh nhiễu loạn thông tin và gia tăng thao túng thông tin xuyên biên giới hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống thể chế và các sáng kiến số của Việt Nam đã tạo nền tảng đáng kể. Tuy nhiên, hạn chế chủ yếu là khâu triển khai còn phân tán; phản ứng chậm trước thông tin tiêu cực và đầu tư nguồn lực chưa tương xứng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung đổi mới theo hướng truyền thông chiến lược dựa trên hệ sinh thái đa tác nhân, vận hành trên ba trụ cột là thông điệp, năng lực số và cơ chế xử lý khủng hoảng; từ đó, đưa ra các khuyến nghị để nâng cao năng lực thông tin đối ngoại số của Việt Nam.
Từ khoá: Đổi mới; thông tin đối ngoại; không gian mạng; Việt Nam; khung tiếp cận chiến lược.
Abstract: This article analyzes the imperative to reform Vietnam’s external communication methods in cyberspace amid information disorder and increasing cross-border information manipulation in recent years. The research findings indicate that Vietnam’s institutional framework and digital initiatives have established a substantial foundation. However, the primary limitations include fragmented implementation, slow responses to negative information, and insufficient investment in resources. On this basis, the article proposes a reform framework oriented toward strategic communication based on a multi-stakeholder ecosystem. This ecosystem operates on three core pillars: strategic messaging, digital capabilities, and crisis response mechanisms. Consequently, the paper provides policy recommendations to enhance Vietnam’s capacity for digital external communication.
Keywords: Reform; external communication; cyberspace; Vietnam; strategic framework.
1. Đặt vấn đề
Sự bùng nổ của kỷ nguyên số đã biến không gian mạng thành “không gian chiến lược” trong việc định vị uy tín và sức mạnh mềm của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, công tác thông tin đối ngoại đang đứng trước áp lực kép: vừa phải tận dụng không gian này để lan tỏa mạnh mẽ hình ảnh một quốc gia hòa bình, tự chủ, có trách nhiệm; vừa phải thiết lập hệ thống phòng thủ vững chắc trước các chiến dịch thao túng, xuyên tạc thông tin xuyên biên giới. Mặc dù đã có những nền tảng thể chế bước đầu, song quá trình chuyển đổi từ phương thức truyền thông truyền thống sang truyền thông số vẫn còn chậm. Những điểm nghẽn về cơ chế điều phối liên ngành và năng lực xử lý khủng hoảng đang hạn chế đáng kể hiệu quả quảng bá hình ảnh quốc gia. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện công tác thông tin đối ngoại, chuyển từ tư duy truyền tải thông tin đơn thuần sang thiết lập và quản trị một hệ sinh thái truyền thông chiến lược trên môi trường số.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung đổi mới dựa trên việc khai thác dữ liệu số và xây dựng hệ sinh thái đa tác nhân (Nhà nước, báo chí, doanh nghiệp, cộng đồng người Việt ở nước ngoài, giới học thuật và những người sáng tạo nội dung/KOL). Hệ sinh thái này vận hành trên ba trụ cột cốt lõi: (1) Thông điệp chiến lược nhất quán; (2) Năng lực thực thi trên không gian số; (3) Cơ chế phản ứng nhanh và quản trị khủng hoảng. Từ đó, bài viết đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy sự phối hợp liên ngành, chuẩn hóa hạ tầng dữ liệu, nâng cao năng lực nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong quản trị nền tảng số.
2. Đánh giá hoạt động thông tin đối ngoại số của Việt Nam
2.1. Nền tảng thể chế và các công cụ số của Việt Nam hiện nay
Nền tảng thể chế giữ vai trò định hướng và tạo cơ sở pháp lý cho công tác thông tin đối ngoại, từ việc xác lập phạm vi, đối tượng, nội dung đến phương thức tổ chức và triển khai. Trong bối cảnh chuyển đổi số và môi trường truyền thông quốc tế ngày càng thay đổi nhanh chóng, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khung chính sách theo hướng đổi mới phương thức truyền thông, tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ và chủ động hơn trên không gian mạng. Cụ thể, Kết luận số 57-KL/TW ngày 15/6/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức thông tin đối ngoại; mở rộng sử dụng các ngôn ngữ phổ biến; đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời, chú trọng xây dựng lực lượng phản ứng nhanh trên không gian mạng. Kết luận cũng xác định thông tin tích cực phải trở thành dòng chủ đạo, đi đôi với chủ động cung cấp thông tin, kịp thời làm rõ những nội dung chưa chính xác và đấu tranh, phản bác hiệu quả các luận điệu sai trái, xuyên tạc.
Cụ thể hóa định hướng trên, Chương trình hành động của Chính phủ đến 2030 thực hiện Kết luận số 57-KL/TW ngày 15/6/2023 của Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới (Chính phủ, 2024), bao gồm: sửa đổi, rà soát các quy định; xây dựng nền tảng thông tin đối ngoại quốc gia phục vụ quảng bá hình ảnh; triển khai chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh trên các nền tảng số và mạng xã hội; ứng dụng công nghệ để thu thập – phân tích – dự báo xu hướng dư luận trên Internet; xây dựng lực lượng phản ứng nhanh; hình thành mạng lưới xử lý tin giả quốc gia; đồng thời, tăng cường đào tạo, phát triển hạ tầng số và cơ sở dữ liệu cho thông tin đối ngoại.
Trong thực tiễn triển khai, Đề án Nâng cao hiệu quả công tác Thông tin đối ngoại của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030 tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động truyền thông đối ngoại. Đề án nhấn mạnh vào hoạt động triển khai chuyển đổi số tạo biến chuyển mạnh mẽ trong nội dung, cách thức truyền thông đối ngoại của các cơ quan đại diện; khai thác nền tảng mạng xã hội và xây dựng “hệ sinh thái mạng xã hội”, quy chế ứng dụng mạng xã hội và tiêu chí đánh giá hoạt động; thúc đẩy lập kế hoạch truyền thông định kỳ theo tháng/quý và đột xuất cho sự kiện đối nội – đối ngoại quan trọng; tăng đầu tư nguồn nhân lực và trang thiết bị phục vụ truyền thông số (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Đây là bước chuyển đáng chú ý từ việc chủ yếu cung cấp thông tin sang chủ động xây dựng chiến lược truyền thông, lựa chọn nền tảng và tổ chức nội dung phù hợp với từng nhóm công chúng quốc tế.
Song song với việc hoàn thiện thể chế, Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển các công cụ, hạ tầng số phục vụ thông tin đối ngoại và quản trị thông tin trên không gian mạng. Một trong những công cụ đáng chú ý là Cổng thông tin điện tử chống tin giả (tingia.gov.vn), cùng với quy trình tiếp nhận phản ánh, xác minh và công khai thông tin giả, thông tin sai lệch trên mạng xã hội. Các công cụ này góp phần nâng cao khả năng nhận diện, cảnh báo và cung cấp thông tin xác thực cho người dân, qua đó hỗ trợ bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng các hạ tầng số như cổng chống tin giả (http://tingia.gov.vn/) và quy trình tiếp nhận phản ánh, xác minh, công khai tin giả hoặc thông tin sai lệch trên mạng xã hội; mục tiêu gắn với cảnh báo người dân và lan tỏa thông tin xác thực. Các sáng kiến về nền tảng quảng bá hình ảnh quốc gia (nền tảng https://vietnam.vn) cũng là dấu mốc quan trọng nhằm tích hợp nguồn tin, tư liệu ảnh, video và huy động sự tham gia của cơ quan báo chí, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sở hữu kênh mạng xã hội (Trang Hưng và Hải Đăng, 13/4/2023).
Nhìn chung, về điểm mạnh, khung thể chế về thông tin đối ngoại đã có sự xác định rõ ràng về nội hàm, cơ chế phân công liên ngành và nguồn lực; định hướng chiến lược dài hạn theo hướng chuyển dịch sang số hóa; năng lực sản xuất các nội dung đa ngôn ngữ của các cơ quan báo chí đối ngoại đã hình thành; có cơ chế ghi nhận và thúc đẩy sản phẩm thông tin đối ngoại, trong đó có Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại, đã góp phần tạo động lực cho hoạt động sáng tạo nội dung và nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại. Tuy nhiên, công tác thông tin đối ngoại trên môi trường số vẫn tồn tại một số điểm nghẽn được nhấn mạnh trong Kết luận số 57-KL/TW ngày 15/6/2023 về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, như: chưa phản ánh đầy đủ thành tựu của đất nước; triển khai còn phân tán; phối hợp chưa chặt chẽ; đấu tranh ngăn chặn thông tin xấu độc, xuyên tạc có lúc chưa hiệu quả; đầu tư nguồn lực chưa ngang tầm.
Nhìn chung, có bốn hạn chế thường gặp trong ngoại giao số quốc tế: (1) Thông điệp còn dàn trải; (2) Thiếu hệ chỉ số đo lường chuẩn hóa; (3) Thiếu sự điều phối tập trung; (4) Rủi ro tin giả và thao túng thuật toán gia tăng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong giai đoạn tới không chỉ là mở rộng sự hiện diện trên không gian số mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị, điều phối và đo lường hiệu quả truyền thông đối ngoại; đồng thời, xây dựng hệ sinh thái truyền thông số có khả năng tạo thông điệp nhất quán, phản ứng nhanh và chủ động định hình dư luận quốc tế.
2.2. Thực tiễn trong hoạt động thông tin đối ngoại số của Việt Nam
Thực tiễn trong hoạt động thông tin đối ngoại của Việt Nam thời gian qua cho thấy, sự đa dạng về bối cảnh triển khai, đồng thời phản ánh rõ những cơ hội và thách thức trong việc định hình và lan tỏa hình ảnh quốc gia trên không gian số.
Thứ nhất, truyền thông số gắn với các sự kiện đa phương quy mô lớn ngày càng trở thành một kênh quan trọng để thu hút sự chú ý quốc tế và lan tỏa thông điệp quốc gia trong thời gian ngắn. Trong đại dịch Covid – 19, Việt Nam chủ động tổ chức và tham gia nhiều hội nghị khu vực, quốc tế theo hình thức trực tuyến, qua đó vừa duy trì các tiến trình hợp tác, vừa thể hiện năng lực thích ứng thể chế và đổi mới phương thức đối ngoại. Các sự kiện, như: Hội nghị Cấp cao ASEAN và nhiều diễn đàn hợp tác đa phương trực tuyến được triển khai với sự kết hợp giữa hạ tầng kỹ thuật, nội dung truyền thông và cơ chế điều phối đa bên.
Thực tiễn này cho thấy, các sự kiện đa phương không chỉ là không gian thực hiện hoạt động đối ngoại mà còn là “điểm hội tụ truyền thông”, tạo cơ hội để Việt Nam gia tăng mức độ hiện diện và nhận diện trên môi trường quốc tế. Tuy nhiên, để khai thác tốt hơn hiệu ứng truyền thông của các sự kiện này, cần xây dựng chiến lược nội dung tích hợp, kết hợp thông điệp chính thức với các sản phẩm truyền thông số đa dạng, như: video, infographic, nội dung ngắn trên mạng xã hội và các sản phẩm đa phương tiện. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, báo chí và các nền tảng số nhằm duy trì hiệu ứng truyền thông sau sự kiện, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm hội nghị diễn ra.
Thứ hai, hoạt động của Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hợp quốc tạo ra nguồn “chất liệu” quan trọng cho truyền thông đối ngoại số, qua đó, góp phần nâng cao tính chính danh và sức thuyết phục của hình ảnh quốc gia. Việc Việt Nam tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, trong đó có triển khai lực lượng tại các phái bộ và xây dựng Bệnh viện dã chiến cấp 2 (Mỹ Hạnh và Tuấn Huy, 27/5/2026), không chỉ thể hiện đóng góp thực chất đối với hòa bình và an ninh quốc tế mà còn tạo ra những câu chuyện giàu tính nhân văn cho truyền thông đối ngoại. Hình ảnh đội ngũ quân y, hoạt động chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ cộng đồng địa phương và các sáng kiến nhân đạo có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm kể chuyện số, qua đó góp phần củng cố hình ảnh Việt Nam là một quốc gia “hòa bình, trách nhiệm và đáng tin cậy”.
Bên cạnh đó, vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc tạo thêm cơ hội để quảng bá quan điểm, sáng kiến và đóng góp của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế, qua đó, góp phần định vị Việt Nam là một thành viên tích cực và có trách nhiệm trong quản trị toàn cầu. Từ góc độ thông tin đối ngoại số, những hoạt động này cung cấp nguồn nội dung có giá trị biểu tượng cao, có khả năng được phát triển thành các câu chuyện truyền thông đa phương tiện và tiếp cận nhiều nhóm công chúng quốc tế. Điều đó cho thấy, hiệu quả của thông tin đối ngoại không chỉ phụ thuộc vào việc truyền tải thông điệp mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo dựng những câu chuyện có sức thuyết phục từ chính thực tiễn hoạt động đối ngoại của quốc gia.
Thứ ba, những thách thức đối với quản trị thông tin đối ngoại trong môi trường truyền thông số. Đặc điểm lan truyền nhanh, phi tập trung và khó kiểm soát của mạng xã hội khiến khoảng trống thông tin hoặc sự chậm trễ trong cung cấp thông tin chính thức có thể nhanh chóng bị lấp đầy bởi suy diễn, tin đồn và thông tin sai lệch. Khi đó, tác động của khủng hoảng không chỉ giới hạn ở phạm vi trong nước mà còn có khả năng lan sang truyền thông quốc tế, ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín quốc gia.
Thực tiễn chứng minh là xử lý khủng hoảng thông tin đối ngoại trong môi trường số không thể chỉ dựa vào các biện pháp hành chính hoặc kỹ thuật mà phải gắn với chiến lược truyền thông dựa trên bằng chứng và minh bạch thông tin. Trong đó, cần ưu tiên cung cấp dữ liệu kịp thời; làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp khắc phục; duy trì thông điệp nhất quán giữa các cơ quan chức năng; đồng thời, chủ động cung cấp thông tin và tăng cường tương tác với báo chí quốc tế. Đây là những yếu tố quan trọng để thu hẹp khoảng trống thông tin, hạn chế sự lan truyền của thông tin sai lệch và từng bước khôi phục niềm tin của công chúng.
Thứ tư, xây dựng hạ tầng và năng lực phòng ngừa, xử lý tin giả. Thực tế cho thấy, bước chuyển từ tư duy “phản ứng” sang “phòng ngừa chủ động” trong hoạt động thông tin đối ngoại số. Việc thiết lập các cổng thông tin chống tin giả, xây dựng quy trình tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân, đồng thời, phổ biến các cẩm nang và hướng dẫn kỹ năng nhận diện, ứng phó với thông tin sai lệch cho thấy cách tiếp cận kết hợp giữa quản lý nhà nước và nâng cao năng lực xã hội. Những hoạt động này không chỉ góp phần bảo vệ môi trường thông tin trong nước mà còn tăng cường khả năng thích ứng của xã hội trước các chiến dịch thông tin sai lệch có nguồn gốc hoặc phạm vi lan truyền xuyên biên giới. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data) và các công nghệ tạo nội dung tổng hợp, yêu cầu phòng ngừa và xử lý tin giả ngày càng phức tạp. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao năng lực phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng AI trong phát hiện và xác minh thông tin sai lệch; đồng thời tăng cường hợp tác với các nền tảng công nghệ, tổ chức kiểm chứng thông tin và mạng lưới quốc tế. Quan trọng hơn, việc xử lý tin giả cần được kết hợp với cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và có khả năng lan tỏa, bởi phản bác thông tin sai lệch chỉ hiệu quả bền vững khi đi cùng với việc chủ động tạo lập và phổ biến các nguồn thông tin đáng tin cậy.
3. Khung đổi mới phương thức thông tin đối ngoại trên không gian mạng
Đổi mới phương thức thông tin đối ngoại trên không gian mạng là đổi mới mô hình vận hành: từ “sản xuất – phát hành” sang “lắng nghe – đồng sáng tạo – phản hồi – đo lường – học hỏi”. Khung đề xuất dưới đây nhằm tạo khả năng “lấn át” các luồng thông tin tiêu cực bằng sự thật, sự hấp dẫn và tính thuyết phục bền vững, đồng thời hạn chế việc chạy theo đính chính các thông tin sai lệch.
3.1. Kể “câu chuyện chiến lược” về hình ảnh Việt Nam hòa bình, tự chủ, có trách nhiệm
Các câu chuyện chiến lược (strategic narrative) là những câu chuyện hấp dẫn cho phép chia sẻ với thế giới bản sắc, lợi ích và tầm nhìn của quốc gia đối với trật tự quốc tế. Những câu chuyện này thường chứa đựng các yếu tố quan trọng, như: bối cảnh lịch sử, giá trị cốt lõi, khát vọng và cách tiếp cận quan hệ quốc tế của một quốc gia; đồng thời, cung cấp một khuôn khổ giải thích quá khứ của một quốc gia, biện minh cho các hành động hiện tại và vạch ra những khát vọng tương lai của quốc gia đó (Vu Le Thai Hoang & Ngo Di Lan, 12/10/2024). Câu chuyện chiến lược trong truyền thông đối ngoại cần có ít nhất ba lớp: (1) Bản sắc và giá trị (hoà bình, độc lập, trách nhiệm); (2) Bằng chứng và thành tựu (đóng góp đa phương, đối tác rộng mở, năng lực điều phối); (3) Lời mời gọi hợp tác (đầu tư, du lịch, đổi mới, trao đổi). Cách tiếp cận từ độc thoại sang đối thoại và hợp tác là tiếp cận từ ba lớp của ngoại giao công chúng, giúp giảm rủi ro tuyên truyền khô cứng và tăng tính đáng tin cậy (Cowan & Arsenault, 2008).
3.2. Tổ chức hệ sinh thái đa tác nhân theo nguyên tắc phân vai rõ ràng và chia sẻ dữ liệu
Sơ đồ 1 khái quát các nhóm tác nhân cùng vai trò, chức năng và yêu cầu đổi mới trong hệ sinh thái đa tác nhân về thông tin đối ngoại.
Sơ đồ 1: Hệ sinh thái đa tác nhân và vai trò vận hành trong hoạt động thông tin đối ngoại số
| Nhóm tác nhân | Vai trò cốt lõi, chức năng cụ thể | Năng lực cốt lõi và yêu cầu đổi mới quản trị |
| Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông/Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục thông tin Cơ sở và Thông tin đối ngoại | Kiến tạo thể chế, điều phối trung tâm. – Ban hành chiến lược, chính sách và bộ chuẩn về nội dung, dữ liệu, quy trình thông tin đối ngoại số – Vận hành nền tảng dữ liệu thông tin đối ngoại quốc gia – Điều phối chiến dịch thông tin đối ngoại liên bộ/ngành, điều phối hệ thống chống tin giả – Thiết lập cơ chế phản ứng nhanh trước khủng hoảng | – Năng lực phân tích dữ liệu lớn – Năng lực quản trị nền tảng số liên ngành – Thiết kế Hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả đối với hoạt động thông tin đối ngoại. – Bảo đảm sự nhất quán trong thông điệp chiến lược quốc gia |
| Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện | Triển khai theo địa bàn – Bản địa hóa thông điệp theo quốc gia/khu vực – Kết nối báo chí, think tank, đối tác quốc tế – Kích hoạt mạng lưới kiều bào – Theo dõi dư luận quốc tế | – Kỹ năng ngoại giao số – Năng lực phân tích truyền thông theo thị trường – Kho nội dung số dùng chung |
| Thông tấn xã Việt Nam | Trung tâm sản xuất và phân phối thông tin chính thống đa ngôn ngữ – Sản xuất tin/bài đa ngôn ngữ – Phân phối qua mạng lưới đối tác quốc tế – Trung tâm dữ liệu nội dung, cung cấp nguồn thông tin chuẩn hóa, có kiểm chứng và có thể tái sử dụng cho toàn bộ hệ sinh thái thông tin đối ngoại. | – Thu thập – phân tích – khai thác dữ liệu hành vi và đặc điểm của độc giả quốc tế – AI hỗ trợ sản xuất nội dung – Chuẩn hóa siêu dữ liệu (Metadata), tối ưu hóa công cụ tìm kiếm quốc tế (International SEO). |
| Đài Phát tiếng nói Việt Nam (VOV) | Sản xuất nội dung đa phương tiện – Sản xuất nội dung đối ngoại đa định dạng (TV, podcast, video ngắn…) – Xây dựng các chuỗi nội dung chuyên đề và chiến dịch truyền thông số – Kể chuyện quốc gia thông qua dữ liệu – Phát hành đa nền tảng (mạng xã hội, OTT…) | – Năng lực sản xuất nội dung số nhanh – Kỹ thuật kể chuyện số – Năng lực khai thác AI trong sản xuất, biên tập, dịch thuật – Hợp tác với nền tảng truyền thông toàn cầu, xây dựng mạng lưới phân phối nội dung quốc tế. |
| Trung tâm Xử lý tin giả (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) | Xác minh, cảnh báo và điều phối ứng phó với thông tin sai lệch trên không gian số – Tiếp nhận và xác minh thông tin – Công bố/đính chính nhanh – Phối hợp liên ngành – Xây dựng cơ sở dữ liệu tin giả – Giáo dục kỹ năng cộng đồng | – Ứng dụng AI và Big Data trong xử lý tin giả và các chiến dịch thao túng thông tin – Năng lực phân tích dữ liệu truyền thông, truy vết nguồn phát tán và đánh giá mức độ lan truyền – Hệ thống giám sát, cảnh báo sớm |
| Doanh nghiệp công nghệ và viễn thông | Hỗ trợ hạ tầng và công nghệ – Cung cấp hạ tầng mạng – Phát triển công cụ phân tích dữ liệu – Hỗ trợ chiến dịch thông tin đối ngoại – Bảo đảm an ninh mạng | – Năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển các nền tảng số phục vụ thông tin đối ngoại. – Chuẩn an toàn, an ninh dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư theo thông lệ quốc tế. – Cơ chế hợp tác công- tư |
| KOL/nhà sáng tạo nội dung, cộng đồng người Việt ở nước ngoài, giới học thuật, chuyên gia và các tổ chức xã hội. | Tác nhân lan toả phi nhà nước – Đồng sáng tạo và lan toả nội dung đối ngoại trên các nền tảng số. – Tham gia phản biện/giải thích chính sách – Huy động mạng lưới tri thức, kiều bào và các chuyên gia quốc tế tham gia bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao uy tín của Việt Nam. | – Bộ quy tắc ứng xử số cho các tác nhân phi nhà nước – Chương trình “Đại sứ hình ảnh quốc gia trên không gian số” dành cho KOL, nhà sáng tạo nội dung và kiều bào tiêu biểu. – Đào tạo truyền thông số, ngoại giao công chúng, kỹ năng xử lý khủng hoảng và phản bác thông tin sai lệch. |
3.3. Chuyển đổi mô hình truyền thông
Trong bối cảnh không gian mạng vận hành theo logic thuật toán và dữ liệu, hiệu quả của thông tin đối ngoại không chỉ phụ thuộc chủ yếu vào nội dung đúng mà còn phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng nắm bắt, dự báo và can thiệp vào dòng chảy thông tin theo thời gian thực. Vì vậy, đổi mới cốt lõi là chuyển từ mô hình truyền thông tuyến tính sang mô hình vòng lặp động “dữ liệu – nội dung – phân phối – phản hồi” mang tính liên tục và thích ứng. Các khâu của chu trình này có thể được cụ thể hoá như sau:
(1) Lắng nghe số (social listening), bao gồm: các bước thu thập dữ liệu (từ mạng xã hội, báo chí quốc tế, diễn đàn, blog, nền tảng thảo luận; theo dõi các chủ đề đang nổi, mức độ cảm xúc và từ khóa liên quan đến Việt Nam. Các công cụ có thể sử dụng trong bước này, bao gồm: AI phân tích cảm xúc, công cụ lắng nghe số, như: Brandwatch, Meltwater, Talkwalker. Phân tích dữ liệu: phân loại các câu chuyện theo nội dung tích cực hay tiêu cực, xác định ai là tác nhân lan truyền chính, câu chuyện nào đang chiếm ưu thế và khoảng trống thông tin. Thiết kế nội dung để định hướng nhận thức: phản bác và tái tạo lại nội dung dựa trên sự kết hợp của các thông tin chính thức/thực, câu chuyện, hình ảnh/biểu tượng.
(2) Phân phối theo nền tảng và địa bàn: phân phối nội dung trong truyền thông đối ngoại số tùy biến theo nền tảng và địa bàn, nguyên tắc là “Một thông điệp – đa định dạng/Nền tảng khác nhau – chiến lược khác nhau”. Ví dụ, theo nền tảng: Twitter/X thông tin nhanh, mang tính chính trị; YouTube thường thích hợp cho câu chuyện dài, TikTok nội dung ngắn, dễ lan truyền, báo chí quốc tế mang tính chính thống cao. Theo địa bàn: Mỹ/châu Âu thường nhấn mạnh sự minh bạch, chuẩn mực, giá trị; ASEAN đề cao hợp tác, ổn định, …
(3) Đo lường hiệu quả: chỉ số đo lường, bao gồm: độ phủ, tương tác, chuyển biến cảm xúc, tỷ lệ chia sẻ, tán đồng. Công cụ có thể khai thác sử dụng trong bước này là dashboard dữ liệu, phân tích AI và theo dõi truyền thông quốc tế.
(4) Tối ưu hóa: dựa trên dữ liệu đo lường, chiến dịch được điều chỉnh trên thực tế về nội dung, nền tảng phân phối, tăng/giảm cường độ truyền thông, tái thiết kế câu chuyện để tăng tính thích ứng.
3.4. Cơ chế phản ứng nhanh và quản trị khủng hoảng minh bạch
Thiết lập cơ chế phản ứng nhanh không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là một năng lực thể chế cốt lõi trong quản trị thông tin đối ngoại hiện đại, khi mà một cuộc khủng hoảng thông tin có thể bùng phát và leo thang trên môi trường số trong vài giờ. Chúng ta đã xây dựng được lực lượng phản ứng nhanh trên không gian mạng và hình thành mạng lưới xử lý tin giả quốc gia. Tuy nhiên, việc chuẩn hóa toàn bộ quy trình quản trị khủng hoảng theo các nguyên tắc minh bạch, nhất quán và dựa trên dữ liệu cũng rất quan trọng. Một hệ thống phản ứng hiệu quả cần: phân loại khủng hoảng theo cấp độ để có phản ứng tương thích; có quy trình xác minh nhanh chóng và dựa trên bằng chứng; phát ngôn thống nhất với một đầu mối chính và có bộ thông điệp chuẩn; phối hợp đa kênh và đa tác nhân vì khủng hoảng không chỉ diễn ra trên một kênh; nguyên tắc minh bạch, chủ động, không né tránh thông tin về vấn đề mới phát sinh, thừa nhận vấn đề (nếu có) và cung cấp lộ trình xử lý và cam kết chính sách.
3.5. Ứng dụng AI và Big Data có kiểm soát đạo đức
AI/Big Data trở thành một trụ cột quan trọng trong đổi mới phương thức thông tin đối ngoại. Các chức năng nổi trội của AI/Big Data trong thông tin đối ngoại, bao gồm: thu thập, phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn đa ngôn ngữ và xác định dư luận, cảm xúc quốc tế; phát hiện bất thường lan truyền; hỗ trợ tổng hợp nhanh thông tin; tối ưu hóa nội dung theo khu vực dựa trên dữ liệu người dùng. Tuy nhiên, việc triển khai các công cụ này phải được đặt trong một khung khổ kiểm soát về đạo đức và tính minh bạch, trách nhiệm rõ ràng.
4. Một số hàm ý chính sách
Một là, nhóm khuyến nghị về đổi mới thể chế và điều phối thông tin đối ngoại trên không gian mạng. Theo đó, cần nâng cấp cơ chế điều phối thông tin đối ngoại theo hướng tập trung, liên ngành. Trên cơ sở đầu mối hiện có, cần tăng cường thẩm quyền và năng lực điều phối ở cấp quốc gia, tập trung vào bốn chức năng: điều phối thông điệp, phân tích dữ liệu, vận hành chiến dịch và phản ứng nhanh. Cơ chế này cần bảo đảm thống nhất câu chuyện quốc gia, phối hợp các chiến dịch truyền thông số liên ngành và xử lý kịp thời các vấn đề thông tin phát sinh.
Bên cạnh đó, cần xây dựng các “câu chuyện quốc gia” và tích hợp vào kho nội dung số đa ngôn ngữ; ban hành quy chế phối hợp liên ngành thống nhất, bảo đảm chia sẻ thông tin theo thời gian thực, thống nhất phát ngôn, phản ứng nhanh và phối hợp hiệu quả với các chủ thể ngoài nhà nước; xây dựng và chuẩn hóa bộ thông điệp quốc gia theo ba trục: (1) Hòa bình – Tự chủ – Trách nhiệm, khẳng định Việt Nam ổn định, tự chủ và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; (2) Đổi mới – Hội nhập, thể hiện hình ảnh một nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập sâu rộng; (3) Văn hóa – Con người, lan tỏa bản sắc văn hóa và hình ảnh con người Việt Nam thân thiện, cởi mở. Các thông điệp cần ngắn gọn, nhất quán, dễ chuyển thể thành nhiều định dạng số và ngôn ngữ, phù hợp với diễn ngôn quốc tế.
Hai là, nhóm khuyến nghị về pháp lý và chuẩn mực. Cần rà soát và đồng bộ hóa khung pháp lý về thông tin đối ngoại số, từng bước chuyển tư duy từ “quản lý nội dung” sang “quản trị hệ sinh thái thông tin” nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa tự do thông tin, an ninh và uy tín quốc gia. Trọng tâm cập nhật cần hướng vào ba lĩnh vực ưu tiên: pháp luật về báo chí và truyền thông số; quản trị nền tảng và dữ liệu; cơ chế phối hợp xử lý thông tin sai lệch xuyên biên giới. Song song với việc hoàn thiện pháp luật, cần ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng dành cho cán bộ, doanh nghiệp và các cá nhân có ảnh hưởng. Việc này nhằm thiết lập các chuẩn mực về tính xác thực, văn hóa đối thoại mang tính xây dựng, cũng như bảo đảm kỷ luật phát ngôn, bám sát thông điệp chính thức trong các cuộc khủng hoảng truyền thông. Bên cạnh đó, cần thiết lập các cơ chế hỗ trợ, ghi nhận và khuyến khích nhằm huy động tối đa các nguồn lực xã hội – đặc biệt là lồng ghép vào hoạt động của các doanh nghiệp để cùng tham gia quảng bá, nâng tầm hình ảnh và thương hiệu quốc gia.
Ba là, nhóm khuyến nghị nâng cao năng lực. Quá trình chuyển đổi sang truyền thông chiến lược số đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ thông tin đối ngoại có năng lực liên ngành, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức ngoại giao – quan hệ quốc tế với tư duy dữ liệu và truyền thông số. Để đáp ứng yêu cầu này, cần triển khai các chương trình đào tạo chuẩn, mang tính thực tiễn cao. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các nghiệp vụ và kỹ năng cốt lõi, bao gồm: ngoại giao số, quản trị hình ảnh quốc gia và tài khoản chính thức; tương tác hiệu quả với báo chí quốc tế, các học giả (think tank) và người có ảnh hưởng (KOL). Đồng thời, cần nâng cao nghệ thuật xây dựng câu chuyện quốc gia, định khung thông tin (framing/reframing), thiết kế chiến dịch truyền thông bám sát mục tiêu chính sách, xử lý khủng hoảng, cũng như thành thạo việc sản xuất nội dung đa ngôn ngữ, đa định dạng và khai thác các công cụ phân tích dữ liệu.
Bốn là, nhóm khuyến nghị về hợp tác quốc tế. Việt Nam cần chủ động tiếp thu và vận dụng có chọn lọc các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm toàn vẹn thông tin, chống tin giả và quản trị nền tảng số, bảo đảm phù hợp với điều kiện thể chế và hệ sinh thái truyền thông trong nước. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác công nghệ và chia sẻ dữ liệu với các nền tảng toàn cầu, trọng tâm là ứng dụng AI và thiết lập hệ thống cảnh báo sớm. Việc tích cực tham gia các cơ chế quản trị thông tin đa phương và chủ động chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi số sẽ góp phần khẳng định vai trò thành viên có trách nhiệm của Việt Nam. Mọi hoạt động hợp tác phải bảo đảm sự hài hòa giữa an ninh thông tin và quyền con người, tuân thủ nghiêm luật pháp quốc tế, đề cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm củng cố vững chắc tính chính danh và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ (2024). Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 15/4/2024 về Chương trình hành động của Chính phủ đến năm 2030 thực hiện Kết luận số 57-KL/TW ngày 15/6/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới.
Cowan, G., & Arsenault, A. (2008). Moving from monologue to dialogue to collaboration: The three layers of public diplomacy. The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science, 616(1), 10 – 30. https://doi.org/10.1177/0002716207311863Geoffrey.
Mỹ Hạnh, Tuấn Huy (27/5/2026). Việt Nam đăng ký thành công nhiều loại hình đơn vị mới tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình. Báo Quân đội nhân dân. https://www.qdnd.vn/quoc-te/doi-ngoai-quoc-phong/viet-nam-dang-ky-thanh-cong-nhieu-loai-hinh-don-vi-moi-tham-gia-hoat-dong-gin-giu-hoa-binh-1041590
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 837/QĐ-TTg ngày 14/7/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030”.
Trang Hưng, Hải Đăng (13/04/2023). Ra mắt nền tảng quảng bá hình ảnh Việt Nam. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/ra-mat-nen-tang-quang-ba-hinh-anh-viet-nam-post747529.html
Vu Le Thai Hoang & Ngo Di Lan (12/10/2024). What is Vietnam’s strategic narrative? The Diplomat. https://thediplomat.com/2024/10/what-is-vietnams-strategic-narrative/



