The right to education of youth in the context of digital transformation in Vietnam
Đoàn Quang Hiển
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
Email: hiendqsptn@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, quyền học tập của thanh niên được mở rộng cả về nội hàm và phương thức thực hiện trong môi trường số. Chuyển đổi số đã mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, đa dạng hóa hình thức học tập và thúc đẩy phát triển xã hội học tập. Tuy nhiên, khoảng cách số, hạn chế về hạ tầng công nghệ và sự chênh lệch về năng lực số vẫn cản trở việc bảo đảm quyền học tập. Thực tiễn này đòi hỏi hoàn thiện nền tảng pháp lý và cơ chế bảo đảm quyền học tập của thanh niên, lực lượng giữ vai trò trung tâm trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất giải pháp bảo đảm quyền học tập của thanh niên ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Chuyển đổi số; quyền học tập; thanh niên; giải pháp nâng cao quyền học tập; kỷ nguyên số.
Abstract: Amid the rapid advancement of digital transformation in Vietnam, young people’s right to education has expanded in both its scope and modes of realization within the digital environment. Digital transformation has broadened access to knowledge, diversified learning modalities, and promoted the development of a learning society. However, the digital divide, limitations in digital infrastructure, and disparities in digital competencies continue to hinder the effective realization of this right. These challenges underscore the need to improve the legal framework and institutional mechanisms for safeguarding young people’s right to education, as they constitute the central driving force of Vietnam’s national digital transformation. Based on this context, the article analyzes the theoretical foundations and current situation of young people’s right to education in Vietnam and proposes solutions to ensure this right in the context of digital transformation.
Keywords: Digital transformation; right to education; youth; solutions for ensuring the right to education; digital era.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang tạo ra sự thay đổi toàn diện đối với mô hình phát triển quốc gia và hệ thống giáo dục theo hướng hiện đại, mở và linh hoạt. Quá trình này làm thay đổi phương thức thực hiện quyền học tập khi việc tiếp cận tri thức ngày càng dựa trên hạ tầng số, công nghệ số, dữ liệu số và các nền tảng học tập trực tuyến. Trong bối cảnh đó, bảo đảm quyền học tập của thanh niên trở thành yêu cầu cấp thiết bởi đây là lực lượng giữ vai trò trung tâm trong phát triển nguồn nhân lực số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Mặc dù Việt Nam ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển giáo dục số, cơ chế bảo đảm quyền học tập của thanh niên trong môi trường số vẫn chưa được tiếp cận một cách toàn diện từ góc độ quyền con người. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu làm rõ những nội dung mới của quyền học tập trong bối cảnh chuyển đổi số, đánh giá những hạn chế trong quá trình bảo đảm thực hiện quyền và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền học tập của thanh niên trong bối cảnh chuyển đổi số
Quyền học tập là một trong những quyền con người cơ bản và phổ quát nhất, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng. Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 tại Điều 26 khẳng định: “Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục” (United Nations, 1948, Điều 26). Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 tại Điều 13 tiếp tục cụ thể hóa quyền này thành nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm giáo dục có chất lượng, bình đẳng và dễ tiếp cận cho mọi người (United Nations, 1966, Điều 13). Theo nghĩa rộng, quyền học tập bao gồm quyền tiếp cận giáo dục, quyền được học tập trong điều kiện bình đẳng và không phân biệt đối xử, quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp và quyền được công nhận kết quả học tập. Khung phân tích 4A của Tomasevski, quyền học tập chỉ được bảo đảm đầy đủ khi hệ thống giáo dục đáp ứng đồng thời bốn tiêu chí cốt lõi gồm: tính sẵn có (Availability), khả năng tiếp cận (Accessibility), tính chấp nhận được (Acceptability) và khả năng thích ứng (Adaptability) (Tomasevski, 2001, pp. 13-16).
Quyền học tập của thanh niên là sự cụ thể hóa quyền học tập đối với một nhóm chủ thể đặc thù. Theo Luật Thanh niên năm 2020, thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi (Điều 1). Đây là giai đoạn quyết định trong quá trình phát triển nhân cách, hình thành năng lực nghề nghiệp và tích lũy nguồn nhân lực chất lượng cao cho quốc gia. Vì vậy, quyền học tập của thanh niên không chỉ bao gồm quyền tiếp cận giáo dục mà còn bao hàm quyền học tập suốt đời, quyền tiếp cận các phương thức học tập linh hoạt và quyền được bảo đảm môi trường học tập an toàn, bình đẳng và không bị phân biệt đối xử.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, thanh niên Việt Nam vừa là nhóm có khả năng tiếp cận công nghệ nhanh nhất, vừa là nhóm chịu tác động trực tiếp từ những thay đổi của môi trường học tập số. Khoảng cách số giữa các vùng miền, rủi ro về an toàn thông tin và xu hướng thương mại hóa giáo dục trực tuyến đang đặt ra những yêu cầu mới đối với việc bảo đảm quyền học tập, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được hoàn thiện theo hướng thích ứng với môi trường số (UNESCO, 2023).
Trong nhiều năm qua, Việt Nam xác định chuyển đổi số là một trong những ưu tiên chiến lược của quốc gia. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định giáo dục là một trong tám lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Trong giai đoạn 2022 – 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản về khung năng lực số, đào tạo trực tuyến và đánh giá mức độ chuyển đổi số trong cơ sở giáo dục, đồng thời, triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số theo kế hoạch của ngành giáo dục, tạo nền tảng pháp lý và quản trị quan trọng cho quá trình chuyển đổi số giáo dục (Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ngày 26/02/2026). Tuy nhiên, tốc độ hoàn thiện chính sách vẫn chưa theo kịp sự phát triển nhanh của công nghệ và những yêu cầu mới trong việc bảo đảm quyền học tập của thanh niên.
Thanh niên là lực lượng giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi số quốc gia. Theo Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê), năm 2024, Việt Nam có hơn 20 triệu thanh niên, chiếm khoảng 19,8% dân số cả nước (Tổng cục Thống kê, 2024). Đây là nhóm có nhu cầu học tập và phát triển kỹ năng số lớn nhất. Thanh niên là lực lượng giữ vai trò trung tâm trong phát triển nguồn nhân lực số của Việt Nam. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xác định phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới (Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN ngày 24/4/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ). Thực tiễn này cho thấy, việc bảo đảm quyền học tập của thanh niên có ý nghĩa quyết định đối với phát triển nguồn nhân lực số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo đảm quyền học tập của thanh niên trong bối cảnh chuyển đổi số vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Khoảng cách số giữa các vùng miền, chất lượng học liệu số, an toàn thông tin, thương mại hóa giáo dục trực tuyến và sự thiếu đồng bộ của khung pháp lý về học tập trực tuyến đang tạo ra những khoảng trống trong bảo đảm quyền học tập. Mặc dù quyền học tập đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Thanh niên năm 2020, các quy định hiện hành chủ yếu được xây dựng trên nền tảng giáo dục truyền thống và chưa phản ánh đầy đủ những yêu cầu phát sinh từ môi trường giáo dục số.
3. Thực trạng quyền học tập của thanh niên trong bối cảnh chuyển đổi số
Việc thực hiện quyền học tập của thanh niên trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực trên cả phương diện tiếp cận giáo dục, học liệu số, kỹ năng số, bình đẳng trong môi trường số, an toàn học tập và công nhận kết quả học tập. Những kết quả này cho thấy, chuyển đổi số không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ vào quản lý giáo dục mà còn tạo ra những điều kiện mới để thanh niên thực hiện quyền học tập một cách linh hoạt hơn. Trên thực tế, quyền học tập của thanh niên đã từng bước vượt ra khỏi giới hạn của lớp học truyền thống, mở rộng sang học trực tuyến, học qua nền tảng số, học liệu điện tử, văn bằng số và các khóa học kỹ năng số phục vụ học tập suốt đời.
Kết quả rõ nét nhất trong thực hiện quyền tiếp cận giáo dục số của thanh niên là hạ tầng internet và môi trường kết nối số ở Việt Nam đã được mở rộng nhanh chóng. Theo DataReportal, đến cuối năm 2025 Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, tương đương 84,2% dân số; đồng thời có khoảng 137 triệu kết nối di động, trong đó 100% kết nối di động được xem là băng rộng qua 3G, 4G hoặc 5G (DataReportal, 2026).
Quyền tiếp cận tri thức và học liệu số của thanh niên cũng đã có những chuyển biến tích cực thông qua việc ngành giáo dục từng bước xây dựng hệ thống học liệu số, cơ sở dữ liệu học tập và các nền tảng hỗ trợ dạy học trực tuyến.
Quyền phát triển năng lực số để học tập của thanh niên đã đạt được kết quả quan trọng khi kỹ năng số được đưa vào định hướng chính sách quốc gia và từng bước triển khai qua các nền tảng học trực tuyến. Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, qua đó xác định phổ cập kỹ năng số là nhiệm vụ quan trọng để xây dựng xã hội số và phát triển nguồn nhân lực số.
Việc bảo đảm bình đẳng trong môi trường số thông qua quá trình chuẩn hóa dữ liệu giáo dục, triển khai học bạ số, văn bằng số và mở rộng các nguồn học tập miễn phí. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, phát triển học bạ số, văn bằng số, cơ sở dữ liệu văn bằng và các nền tảng quản trị giáo dục số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chia sẻ dữ liệu và xác thực kết quả học tập trong quá trình chuyển đổi số của ngành giáo dục. Đây là kết quả quan trọng đối với quyền học tập của thanh niên vì dữ liệu học tập được số hóa, giúp người học thuận lợi hơn khi chuyển trường, chuyển cấp, tham gia tuyển sinh, xác minh kết quả học tập hoặc thực hiện các thủ tục hành chính.
Quyền được học tập trong môi trường số an toàn cũng từng bước được quan tâm thông qua việc lồng ghép nội dung bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và kỹ năng sử dụng Internet vào các chương trình giáo dục và phổ cập kỹ năng số. Quyền được công nhận kết quả học tập trên môi trường số cũng có những bước tiến đáng kể. Việc triển khai học bạ số, văn bằng số, chứng chỉ số và cơ sở dữ liệu văn bằng dùng chung đã từng bước nâng cao tính minh bạch và khả năng xác thực kết quả học tập.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn thực hiện quyền học tập của thanh niên trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.
Một là, quyền tiếp cận hạ tầng số và thiết bị học tập chưa được bảo đảm đồng đều. Mặc dù Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người sử dụng Internet, đạt tỷ lệ thâm nhập 84,2% dân số, vẫn còn khoảng 15,8% dân số chưa có điều kiện tiếp cận internet. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về chất lượng đường truyền, thiết bị học tập và điều kiện kết nối giữa khu vực đô thị với nông thôn, miền núi làm gia tăng khoảng cách trong tiếp cận giáo dục số của thanh niên (DataReportal, 2026).
Hai là, quyền tiếp cận tri thức và học liệu số vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống học liệu số và cơ sở dữ liệu giáo dục nhằm phục vụ chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục; tuy nhiên, việc khai thác và phổ cập học liệu số giữa các cơ sở giáo dục vẫn chưa đồng đều. Điều đó khiến nhiều thanh niên vẫn phụ thuộc vào các nguồn học liệu phân tán trên internet với chất lượng không đồng đều, trong khi nhóm thanh niên ở vùng khó khăn còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận học liệu số chất lượng cao.
Ba là, năng lực số của thanh niên phát triển chưa đồng đều. Việc phổ cập kỹ năng số vẫn còn khoảng cách giữa các nhóm đối tượng, nhất là thanh niên không tham gia học tập hoặc đào tạo. Thống kê quý IV/2025 cho thấy, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên; tỷ lệ thất nghiệp của nhóm tuổi 15 – 24 là 9,04%, cao hơn đáng kể so với mức thất nghiệp chung (Tổng cục Thống kê, 2025). Thực trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận và khai thác hiệu quả các cơ hội học tập trong môi trường số.
Bốn là, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục số chưa được bảo đảm đầy đủ. Khoảng cách số vẫn tồn tại giữa các nhóm thanh niên theo nơi cư trú, điều kiện kinh tế – xã hội và dân tộc. Thanh niên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc gia đình có thu nhập thấp thường gặp nhiều bất lợi về thiết bị, kết nối Internet và điều kiện học tập, làm hạn chế khả năng tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực giáo dục số.
Năm là, quyền học tập an toàn trên không gian số còn đối mặt với nhiều rủi ro. Quá trình học tập trực tuyến làm gia tăng nguy cơ lộ lọt dữ liệu cá nhân và xâm phạm quyền riêng tư của người học. Mặc dù Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ đã thiết lập khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhưng dữ liệu học tập vẫn chưa có cơ chế bảo vệ chuyên biệt, khiến mức độ an toàn của người học còn phụ thuộc vào năng lực quản trị dữ liệu của từng cơ sở giáo dục và nhà cung cấp nền tảng.
Sáu là, cơ chế công nhận kết quả học tập trong môi trường số vẫn chưa hoàn thiện. Việc triển khai văn bằng, chứng chỉ số theo Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc số hóa kết quả học tập trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, cơ chế công nhận kết quả học tập từ các khóa học trực tuyến mở, nền tảng quốc tế hoặc các chương trình đào tạo do doanh nghiệp cung cấp vẫn chưa thống nhất, làm hạn chế khả năng ghi nhận đầy đủ kết quả học tập của thanh niên trong môi trường số.
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền học tập của thanh niên hiện nay
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền học tập trong môi trường số.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định hiệu quả thực hiện quyền học tập trong bối cảnh chuyển đổi số. Trong những năm qua, nhiều quy định liên quan đến giáo dục số đã được ban hành, tuy nhiên các quy định này còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau và chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất về quyền học tập trong môi trường số. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật về giáo dục theo hướng ghi nhận đầy đủ các phương thức học tập trên môi trường số như học trực tuyến, học kết hợp, học tập mở và học tập suốt đời; đồng thời, quy định rõ quyền và trách nhiệm của người học, cơ sở giáo dục và doanh nghiệp cung cấp nền tảng số.
Xây dựng các quy định thống nhất về học liệu số, dữ liệu học tập, văn bằng số, kiểm định chất lượng đào tạo trực tuyến và cơ chế công nhận kết quả học tập được hình thành trên môi trường số. Hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu học tập và quyền riêng tư của người học, bảo đảm việc thu thập, lưu trữ, khai thác và chia sẻ dữ liệu phục vụ đúng mục đích giáo dục, phù hợp với các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thể chế hóa các chính sách hỗ trợ thanh niên thuộc nhóm yếu thế, thanh niên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và thanh niên khuyết tật nhằm bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục số bình đẳng, góp phần thu hẹp khoảng cách số trong giáo dục.
Thứ hai, phát triển đồng bộ hạ tầng và hệ sinh thái giáo dục số.
Hạ tầng số là điều kiện vật chất bảo đảm quyền học tập của thanh niên được thực hiện trên thực tế. Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng, mạng di động thế hệ mới, trung tâm dữ liệu, nền tảng học tập quốc gia, hệ thống học liệu số và cơ sở dữ liệu giáo dục theo hướng đồng bộ, liên thông và an toàn. Việc đầu tư cần được thực hiện có trọng tâm, ưu tiên các địa bàn còn nhiều khó khăn nhằm bảo đảm thanh niên ở mọi vùng, miền đều có điều kiện tiếp cận Internet, thiết bị học tập và các nguồn học liệu số chất lượng.
Nhà nước đẩy nhanh việc hoàn thiện Hệ thống học liệu số quốc gia, phát triển các kho học liệu mở, thư viện số và tài nguyên giáo dục dùng chung để giảm sự phụ thuộc của người học vào các nguồn tài liệu phân tán trên Internet. Ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất về nền tảng học tập, chuẩn dữ liệu, khả năng kết nối và chia sẻ thông tin nhằm bảo đảm tính liên thông giữa các cơ sở giáo dục, đồng thời nâng cao mức độ an toàn và bảo mật của hệ thống. Việc phát triển hạ tầng số cần được gắn với yêu cầu quản trị giáo dục hiện đại, lấy người học làm trung tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập mọi lúc, mọi nơi.
Thứ ba, nâng cao năng lực số của các chủ thể tham gia giáo dục.
Chuyển đổi số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người học và người dạy có đủ năng lực khai thác công nghệ phục vụ hoạt động giáo dục. Đưa kỹ năng số trở thành một nội dung cơ bản trong chương trình giáo dục ở tất cả các cấp học, không chỉ dừng lại ở kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn bao gồm năng lực tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin, kỹ năng học tập trực tuyến, khai thác trí tuệ nhân tạo, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin và ứng xử có trách nhiệm trên không gian mạng. Đối với thanh niên ngoài nhà trường, cần phát triển các chương trình đào tạo kỹ năng số linh hoạt, phù hợp với nhu cầu học tập suốt đời và yêu cầu của thị trường lao động trong nền kinh tế số.
Tăng cường bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục nhằm nâng cao khả năng thiết kế học liệu số, tổ chức dạy học trực tuyến, kiểm tra đánh giá trên nền tảng số và hỗ trợ người học trong môi trường số. Các cơ sở giáo dục cần coi phát triển năng lực số là một tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ, đồng thời có cơ chế khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động giáo dục. Khi năng lực số của cả người học và người dạy được nâng cao, quyền học tập của thanh niên sẽ được bảo đảm không chỉ về khả năng tiếp cận mà còn về chất lượng và hiệu quả thực hiện.
Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các tổ chức thanh niên trong bảo đảm quyền học tập.
Quyền học tập trong bối cảnh chuyển đổi số không thể được bảo đảm chỉ bằng nỗ lực của Nhà nước mà cần có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế hợp tác công – tư trong phát triển nền tảng giáo dục số, học liệu số, dịch vụ hỗ trợ học tập và hệ thống xác thực văn bằng số; đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm chất lượng dịch vụ, an toàn dữ liệu và quyền lợi của người học.
Các cơ sở giáo dục cần chủ động đổi mới mô hình quản trị, tăng cường liên kết với doanh nghiệp để phát triển chương trình đào tạo, học liệu số và kỹ năng nghề phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế số. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam và các tổ chức xã hội trong tuyên truyền, phổ cập kỹ năng số, hỗ trợ thanh niên yếu thế tiếp cận giáo dục số, phản ánh nhu cầu của người học và tham gia giám sát việc thực hiện chính sách. Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục số thông qua trao đổi kinh nghiệm quản trị, phát triển học liệu mở, chuyển giao công nghệ giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực số và từng bước thúc đẩy công nhận kết quả học tập số theo các chuẩn mực quốc tế. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái giáo dục số toàn diện, tạo điều kiện để thanh niên thực hiện quyền học tập một cách bình đẳng, an toàn và hiệu quả.
5. Kết luận
Quyền học tập của thanh niên trong bối cảnh chuyển đổi số đã mở rộng cả về nội hàm và phương thức bảo đảm thực hiện. Quyền này không chỉ bao gồm quyền tiếp cận giáo dục mà còn bao hàm quyền tiếp cận hạ tầng số, học liệu số, phát triển năng lực số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm chất lượng học tập trực tuyến và thụ hưởng bình đẳng các cơ hội giáo dục trong môi trường số. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, quá trình chuyển đổi số đã tạo điều kiện mở rộng cơ hội học tập cho thanh niên, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức về khoảng cách số, chất lượng học liệu, năng lực số, an toàn dữ liệu và cơ chế công nhận kết quả học tập. Việc bảo đảm quyền học tập của thanh niên cần được thực hiện trên cơ sở hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và hệ sinh thái giáo dục số, nâng cao năng lực số của các chủ thể tham gia giáo dục và tăng cường sự phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo nền tảng để bảo đảm quyền học tập của thanh niên được thực hiện đầy đủ, bình đẳng và hiệu quả, góp phần xây dựng xã hội học tập, phát triển nguồn nhân lực số và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Báo cáo tổng kết năm học 2024 – 2025 và triển khai nhiệm vụ năm học 2025 – 2026.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT ngày 26/02/2026 ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026), Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN ngày 24/4/2026 ban hành Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 – 2030.
Chính phủ (2023), Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
DataReportal (2026). Digital 2026: Vietnam. https://datareportal.com/reports/digital-2026-vietnam
Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2020). Luật Thanh niên số 57/2020/QH14.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Tomasevski, K. (2001), Human rights obligations: Making education available, accessible, acceptable and adaptable. Raoul Wallenberg Institute of Human Rights and Humanitarian Law.
Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê Việt Nam 2024. Nxb Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí tình hình lao động và việc làm quý IV năm 2025.
UNESCO (2023). Global Education Monitoring Report 2023: Technology in education -A tool on whose terms? UNESCO.
United Nations (1948). Universal Declaration of Human Rights. https://www.un.org/en/about-us/universal-declaration-of-human-rights
United Nations (1966). International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights. https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/international-covenant-economic-social-and-cultural-rights



