Xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Đồng Tháp hiện nay

Building a grassroots propaganda cadre workforce to meet the requirements of the two-tier local government model in Dong Thap province today

Trần Thị Kim Duyên
Văn phòng Đảng ủy phường Long Thuận tỉnh Đồng Tháp
Email: tuoitrethixa88@gmail.com

(Quanlynhanhuoc.vn) – Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp từ ngày 01/7/2025 tạo ra những thay đổi quan trọng về tổ chức, thẩm quyền và phương thức vận hành của chính quyền cơ sở. Trong bối cảnh đó, công tác tuyên giáo cấp cơ sở đứng trước yêu cầu mới về tham mưu, tuyên truyền chính sách, nắm bắt tư tưởng và dư luận xã hội, xử lý thông tin và truyền thông trên môi trường số. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và thực tiễn tại tỉnh Đồng Tháp, bài viết nhận diện những yêu cầu, vấn đề đặt ra đối với đội ngũ cán bộ tuyên giáo, đồng thời đề xuất giải pháp xây dựng đội ngũ theo hướng bản lĩnh, chuyên nghiệp, am hiểu cơ sở, có năng lực số, truyền thông chính sách và thích ứng với phương thức quản trị mới.

Từ khóa: Cán bộ tuyên giáo; tuyên giáo cơ sở; chính quyền địa phương hai cấp; năng lực số; Đồng Tháp.

Abstract: The organization of local government under the two-tier model, effective from July 1, 2025, has brought significant changes to the organizational structure, authority, and operating methods of grassroots government. In this context, grassroots propaganda and education work faces new requirements in policy advising, policy communication, monitoring political thought and public opinion, information management, and communication in the digital environment. Based on an analysis of current regulations and practical conditions in Dong Thap Province, this article identifies the emerging requirements and challenges for grassroots propaganda cadres and proposes solutions to develop a professional workforce with political capacity, a strong understanding of local conditions, digital competencies, policy communication skills, and the ability to adapt to new governance approaches.

Keywords: Propaganda cadres; grassroots propaganda and education; two-tier local government; digital competencies; Dong Thap Province.

1. Đặt vấn đề

Ngày 16/6/2025, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp; Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 tiếp tục đặt yêu cầu quản lý đội ngũ gắn với vị trí việc làm, tiêu chuẩn và yêu cầu thực thi nhiệm vụ. Đây không chỉ là sự thay đổi về cấu trúc tổ chức mà còn là sự chuyển đổi phương thức phân cấp, phân quyền và thực thi chính sách. Khi không còn cấp huyện, cấp xã trực tiếp đảm nhận nhiều nhiệm vụ hơn, đòi hỏi năng lực của đội ngũ ở cơ sở phải được nâng lên tương ứng. Theo Quỳnh và Khuyên (2026), mô hình hai cấp góp phần giảm tầng nấc trung gian, đồng thời đặt cấp xã vào vị trí trực tiếp hơn trong thực thi chính sách, cung ứng dịch vụ công và giải quyết các vấn đề phát sinh trên địa bàn. Điều này đồng thời làm gia tăng yêu cầu về năng lực nhân sự, chuyển đổi số và khả năng thích ứng của chính quyền cơ sở.

Trong bối cảnh đó, công tác tuyên giáo cũng cần được tiếp cận theo hướng rộng hơn, không chỉ dừng ở tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng mà phải tăng cường năng lực giải thích chính sách, nắm bắt thực tiễn, quản trị thông tin, nhận diện vấn đề xã hội, tham mưu xử lý dư luận và góp phần xây dựng đồng thuận.

Tỉnh Đồng Tháp là địa bàn có ý nghĩa thực tiễn rõ nét khi sau khi vận hành mô hình hai cấp có 102 xã, phường và triển khai nhiều hoạt động chỉ đạo, điều hành kết nối trực tuyến đến cơ sở. Tỉnh cũng tổ chức tập huấn nghiệp vụ tuyên giáo, dân vận năm 2026 với 320 học viên, tập trung vào tuyên truyền, nắm bắt tư tưởng và xử lý tình huống ở cơ sở (Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp, 2026). Từ đó, đặt ra vấn đề: cần xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp cơ sở như thế nào để không chỉ thích ứng với mô hình mới mà còn trở thành một bộ phận của năng lực quản trị địa phương? Đây là vấn đề cần được tiếp cận đồng thời từ tổ chức cán bộ, năng lực thực thi và đổi mới phương thức tuyên giáo trong môi trường số.

2. Chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu mới đối với công tác tuyên giáo cơ sở

Thứ nhất, cấp xã trở thành địa bàn trực tiếp của thực thi chính sách và là nơi kiểm nghiệm hiệu quả quản trị công.

Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp làm thay đổi đáng kể vị trí của cấp xã trong cấu trúc quản trị địa phương. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 xác lập mô hình chính quyền địa phương gồm cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phân định rõ thẩm quyền, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp và gắn nhiệm vụ, quyền hạn với trách nhiệm về kết quả thực hiện (Quốc hội, 2025). Điểm cốt lõi không chỉ là giảm một tầng nấc trung gian mà là đưa hoạt động thực thi chính sách đến gần người dân hơn. Khi cấp xã trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề về đời sống, dịch vụ công và quản lý địa bàn, năng lực của chính quyền cơ sở trở thành yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng quản trị.

Trong điều kiện đó, hiệu quả chính sách không chỉ được đánh giá qua việc văn bản có được ban hành đầy đủ hay không mà qua việc người dân có hiểu, tiếp cận và thực hiện được chính sách hay không; đồng thời, phản ánh của người dân có được tiếp nhận và xử lý hay không. Nghị định số 49/2024/NĐ-CP về hoạt động thông tin cơ sở yêu cầu thông tin phải kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch và phù hợp với nhu cầu của người dân, đồng thời gắn hoạt động thông tin với truyền thông chính sách và tiếp nhận phản ánh từ cơ sở (Chính phủ, 2024). Do đó, công tác tuyên giáo cơ sở cần được đặt trong toàn bộ chu trình thực thi chính sách. Yêu cầu mới không đơn thuần là tuyên truyền nhiều hơn mà là tuyên truyền đúng hơn, nhanh hơn, sát thực tiễn hơn và có khả năng phản hồi tốt hơn. Cán bộ tuyên giáo phải nhận diện được người dân đang cần biết gì, nội dung nào dễ phát sinh cách hiểu khác nhau và phản ánh nào cần được chuyển hóa thành thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý. Khi đó, tuyên giáo không chỉ truyền đạt chủ trương mà còn trở thành một kênh kết nối chính sách, chính quyền và xã hội.

Thứ hai, cán bộ tuyên giáo phải hiểu chính sách trước khi truyền thông chính sách.

Sự đa dạng của môi trường thông tin khiến người dân có thể tiếp cận đồng thời văn bản pháp luật, báo chí, thông tin chính thức của cơ quan nhà nước và các nền tảng mạng xã hội. Vì vậy, cán bộ tuyên giáo không thể chỉ đóng vai trò “nhận thông tin từ cấp trên rồi truyền đạt xuống dưới” mà phải có năng lực đọc, hiểu, phân tích và giải thích chính sách. Đặc biệt, khi cấp xã trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ hơn, người làm công tác tuyên giáo cần hiểu chính sách trong mối quan hệ giữa mục tiêu, đối tượng tác động, quyền và nghĩa vụ của người dân, phương thức thực hiện và những vấn đề có thể phát sinh.

Trước khi truyền thông một chính sách, cán bộ tuyên giáo cần trả lời được những câu hỏi cơ bản: chính sách giải quyết vấn đề gì; ai chịu tác động; người dân cần biết điều gì; nội dung nào dễ bị hiểu sai; và cơ chế giải đáp, phản hồi được tổ chức như thế nào. Đây cũng phù hợp với tinh thần của Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 về tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022–2027, trong đó nhấn mạnh việc truyền thông chính sách ngay từ quá trình xây dựng nhằm góp phần tạo đồng thuận xã hội và nâng cao chất lượng chính sách (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “có văn bản thì tuyên truyền văn bản” sang tư duy “có chính sách thì tổ chức quá trình giúp xã hội hiểu, phản hồi và thực hiện chính sách”. Năng lực của cán bộ tuyên giáo vì thế không chỉ nằm ở khả năng nói hay, viết tốt mà trước hết ở khả năng hiểu đúng, giải thích đúng và phản ánh đúng những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Thứ ba, môi trường số đòi hỏi hình thành đội ngũ tuyên giáo có tư duy số.

Chuyển đổi số đang làm thay đổi cả phương thức quản trị nhà nước và môi trường hình thành nhận thức xã hội. Người dân ngày càng tiếp nhận thông tin, trao đổi, phản ánh và hình thành quan điểm trên các nền tảng số. Thực tiễn Đồng Tháp cho thấy, chuyển đổi số đang được triển khai trực tiếp đến cơ sở. Ngày 11/6/2026, tỉnh tổ chức hội nghị triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số và Bộ chỉ số phục vụ chỉ đạo, điều hành trên môi trường điện tử, kết nối trực tuyến đến 102 xã, phường; tỉnh đồng thời xác định mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt 14,5% GRDP năm 2026 (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2026).

Trong bối cảnh đó, công tác tuyên giáo không thể chỉ dựa vào phương thức truyền thông một chiều, chậm và đồng nhất cho mọi đối tượng. Nghị định số 49/2024/NĐ-CP đặt ra yêu cầu bồi dưỡng kỹ năng sử dụng công nghệ và chuyển đổi số cho người tham gia hoạt động thông tin cơ sở (Chính phủ, 2024). Năng lực số vì vậy không còn là kỹ năng bổ trợ mà trở thành một bộ phận của năng lực thực thi công tác tuyên giáo.

Suy cho cùng, xây dựng đội ngũ tuyên giáo cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp là xây dựng một đội ngũ hiểu chính trị, am hiểu chính sách, nắm chắc địa bàn, biết lắng nghe, có năng lực truyền thông và có tư duy số. Nếu cấp xã là nơi chính sách trực tiếp chạm vào đời sống thì cán bộ tuyên giáo cơ sở phải góp phần làm cho chính sách được hiểu đúng, phản hồi đúng và thực hiện đúng. Đây không còn chỉ là yêu cầu về phương pháp tuyên truyền, mà đã trở thành một yêu cầu về năng lực quản trị ở cơ sở trong điều kiện xã hội số.

3. Thực tiễn và những vấn đề đặt ra trong xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở tại tỉnh Đồng Tháp

Thực tiễn tại Đồng Tháp cho thấy, xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở đang từng bước chuyển từ yêu cầu định hướng sang những hoạt động cụ thể, gắn với quá trình vận hành chính quyền địa phương hai cấp và sự thay đổi nhanh chóng của môi trường thông tin. Vấn đề hiện nay không chỉ là có đội ngũ làm công tác tuyên giáo ở cơ sở, mà quan trọng hơn là đội ngũ đó có đủ năng lực để thực hiện chức năng trong một phương thức quản trị mới hay không. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy “có người làm” sang “người làm có năng lực và tạo ra kết quả”.

Một minh chứng đáng chú ý là năm 2026, Trường Chính trị tỉnh phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo và dân vận cơ sở với 02 lớp, 320 học viên. Thành phần tham dự gồm đại diện thường trực các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, lãnh đạo Ban Xây dựng Đảng cấp xã, phường và cán bộ làm công tác tuyên giáo, dân vận ở cơ sở. Chương trình gồm 06 chuyên đề, tập trung vào tuyên truyền, nắm bắt tình hình tư tưởng và xử lý các tình huống phát sinh tại cơ sở; kết thúc khóa học, 320/320 học viên được cấp giấy chứng nhận (Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp, 2026). Những con số này cho thấy tỉnh đã có sự quan tâm tương đối cụ thể đến việc chuẩn hóa, cập nhật kiến thức và nghiệp vụ cho đội ngũ trong điều kiện tổ chức bộ máy mới.

Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng số lớp, số học viên hoặc tỷ lệ hoàn thành khóa học làm thước đo thì chưa phản ánh đầy đủ chất lượng xây dựng đội ngũ. 320/320 học viên được cấp giấy chứng nhận là một kết quả về đào tạo, nhưng chưa phải là bằng chứng về năng lực thực thi. Khoảng cách giữa “đã được học” và “có khả năng vận dụng” chính là một trong những vấn đề cần được quan tâm. Một cán bộ tuyên giáo chỉ thực sự có năng lực khi có thể vận dụng kiến thức để giải thích một chính sách phức tạp, nhận diện vấn đề tư tưởng, kiểm chứng thông tin, xử lý tình huống truyền thông, đối thoại với người dân và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trước những vấn đề phát sinh trên địa bàn.

Từ đó đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ đào tạo theo chương trình sang phát triển năng lực theo vị trí việc làm. Mỗi vị trí cần được xác định rõ những năng lực cốt lõi, mức độ thành thạo và sản phẩm đầu ra. Trước đào tạo cần xác định khoảng trống năng lực; trong đào tạo chú trọng tình huống thực tế; sau đào tạo cần đánh giá khả năng vận dụng và theo dõi kết quả trong công việc. Chỉ khi hình thành được chu trình “đánh giá – đào tạo – thực hành – đánh giá lại – điều chỉnh”, hoạt động bồi dưỡng mới thực sự trở thành công cụ phát triển nguồn nhân lực thay vì chủ yếu hoàn thành một chương trình học tập.

Một thiết chế có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình này là trung tâm chính trị cấp xã. Quy định số 360-QĐ/TW ngày 29/8/2025 của Ban Bí thư xác định trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu là đơn vị sự nghiệp trực thuộc đảng ủy cấp xã, có chức năng bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị; đồng thời tổ chức thông tin thời sự, chính sách và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở (Ban Bí thư, 2025). Với chức năng này, trung tâm chính trị cấp xã không nên chỉ được nhìn nhận như một nơi tổ chức lớp học, mà cần được phát triển thành hạ tầng phát triển năng lực tại chỗ, nơi tri thức chính trị, kiến thức chính sách và kinh nghiệm thực tiễn được kết nối thường xuyên.

Tại Đồng Tháp, ngày 18/3/2026, Trường Chính trị tỉnh tổ chức hội nghị, tọa đàm trao đổi, hướng dẫn chuyên môn với các trung tâm chính trị xã, phường trên địa bàn. Nội dung tập trung vào những điểm mới của Quy định số 360-QĐ/TW, mô hình tổ chức, cơ chế vận hành, chương trình bồi dưỡng, đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm, quản lý học viên và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong đào tạo (Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp, 2026). Đây là tiền đề để hình thành mối liên kết chuyên môn giữa cấp tỉnh và cấp xã. Mối liên kết này cần được vận hành theo hướng: cấp tỉnh cung cấp chuẩn năng lực, chương trình, phương pháp và hỗ trợ chuyên môn; cấp xã xác định nhu cầu, cung cấp tình huống thực tiễn và phản hồi về hiệu quả áp dụng. Khi đó, đào tạo sẽ không còn là quá trình truyền đạt một chiều mà trở thành hệ sinh thái học tập gắn với thực tiễn quản trị địa phương.

Một vấn đề khác ngày càng nổi bật là năng lực số của đội ngũ tuyên giáo cơ sở. Ngày 11/6/2026, Đồng Tháp tổ chức hội nghị triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số và Bộ chỉ số phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành trên môi trường điện tử, kết nối trực tuyến đến 102 xã, phường; tỉnh đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt 14,5% GRDP năm 2026 (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2026). Những dữ liệu này cho thấy môi trường quản trị đang được số hóa sâu hơn, đồng thời không gian tiếp nhận, trao đổi và phản hồi thông tin của người dân cũng chuyển dịch mạnh lên môi trường số.

Trong điều kiện đó, cán bộ tuyên giáo không thể chỉ sử dụng phương thức truyền thông một chiều. Năng lực nghề nghiệp mới phải bao gồm khả năng khai thác và kiểm chứng thông tin trên mạng, sử dụng các nền tảng số, xây dựng nội dung trực quan và phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhận diện thông tin sai lệch, theo dõi các vấn đề xã hội đang hình thành trên không gian mạng và khai thác dữ liệu phục vụ tham mưu. Nghị định số 49/2024/NĐ-CP cũng đặt ra yêu cầu bồi dưỡng năng lực chuyên môn, kỹ năng sử dụng thiết bị kỹ thuật, công nghệ và kỹ năng chuyển đổi số cho người tham gia hoạt động thông tin cơ sở (Chính phủ, 2024). Vì vậy, năng lực số phải được xem là một thành tố của năng lực nghề nghiệp, chứ không còn là kỹ năng bổ trợ.

Tuy nhiên, vấn đề không phải là cán bộ tuyên giáo phải “biết tất cả” các công nghệ mới. Điều quan trọng hơn là phải biết công nghệ nào phục vụ công việc, thông tin nào cần kiểm chứng và dữ liệu nào có giá trị tham mưu. Một cán bộ có tư duy số phải nhận diện được sự khác biệt giữa thông tin và dữ liệu, giữa tương tác trên mạng và vấn đề xã hội thực tế, giữa một nội dung có nhiều lượt tương tác và một vấn đề thực sự cần chính quyền xử lý. Đặc biệt, việc sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo cũng phải đi cùng khả năng kiểm chứng, bảo đảm trách nhiệm và không thay thế phán đoán chuyên môn của cán bộ.

Từ thực tiễn trên, một khoảng trống đáng chú ý là thiếu dữ liệu thực chứng để đánh giá toàn diện chất lượng đội ngũ tuyên giáo cơ sở. Hiện nay, số lượng lớp bồi dưỡng, số người tham dự và số giấy chứng nhận mới phản ánh một phần hoạt động đào tạo. Những câu hỏi quan trọng hơn vẫn cần được trả lời: đội ngũ hiện có quy mô và cơ cấu như thế nào; mức độ đáp ứng về trình độ và kinh nghiệm ra sao; năng lực phân tích chính sách, truyền thông, xử lý thông tin và kỹ năng số ở mức nào; nhóm cán bộ nào cần bồi dưỡng nội dung gì; sau đào tạo năng lực có thực sự cải thiện hay không? Do đó, Đồng Tháp cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu và bộ công cụ đánh giá năng lực cán bộ tuyên giáo cấp cơ sở, làm nền tảng cho việc đào tạo và sử dụng nhân lực dựa trên bằng chứng.

Đặc biệt, cần phân biệt rõ truyền thông tốt với thực thi chính sách tốt. Không phải mọi phản ánh của người dân đều có thể giải quyết bằng việc “tăng cường tuyên truyền”. Nếu người dân thiếu thông tin, cần cung cấp thông tin; nếu hiểu chưa đúng, cần giải thích và đối thoại; nhưng nếu vấn đề xuất phát từ quy trình, thủ tục, nguồn lực hoặc cách thức tổ chức thực hiện thì phải chuyển phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý. Vì vậy, cán bộ tuyên giáo cơ sở không chỉ cần biết “nói gì với người dân” mà còn phải biết “nghe gì từ người dân” và chuyển hóa điều nghe được thành thông tin có giá trị tham mưu.

Đây chính là sự chuyển đổi từ “tuyên truyền để người dân biết” sang “truyền thông để người dân hiểu, phản hồi và tham gia vào quá trình thực thi chính sách”. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chất lượng đội ngũ tuyên giáo cơ sở vì thế không nên chỉ được đo bằng số cuộc tuyên truyền, số tin, bài hay số người được tập huấn, mà phải được nhìn nhận qua năng lực kết nối chính sách – chính quyền – người dân.

4. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp cơ sở tỉnh Đồng Tháp

Một là, xây dựng khung năng lực cán bộ tuyên giáo cấp cơ sở gắn với yêu cầu của chính quyền địa phương hai cấp.

Đồng Tháp cần xây dựng khung năng lực riêng đối với cán bộ làm công tác tuyên giáo ở cơ sở, bảo đảm có thể sử dụng trong tuyển chọn, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá. Khung năng lực không nên nặng về bằng cấp, chứng chỉ mà phải tập trung vào những gì cán bộ thực sự làm được và tạo ra được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Có thể cấu trúc khung năng lực thành các nhóm chủ yếu: năng lực chính trị và đạo đức công vụ; năng lực hiểu và phân tích chính sách; năng lực nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội; năng lực tuyên truyền, truyền thông và đối thoại; năng lực số và quản trị thông tin; năng lực tham mưu, phối hợp và xử lý tình huống. Mỗi nhóm cần được cụ thể hóa thành các chỉ báo hành vi và sản phẩm đầu ra. Chẳng hạn, năng lực truyền thông chính sách phải được thể hiện qua khả năng xây dựng kế hoạch truyền thông, nội dung hỏi – đáp, sản phẩm số hoặc phương án giải thích một chính sách cụ thể; năng lực phân tích dư luận phải được chứng minh bằng khả năng nhận diện vấn đề, kiểm chứng nguồn tin, đánh giá mức độ tác động và đề xuất phương án tham mưu.

Cách tiếp cận này giúp trả lời ba câu hỏi căn bản: cán bộ phải làm được gì, tạo ra sản phẩm gì và sản phẩm đó đóng góp như thế nào vào nhiệm vụ chung. Đây là nền tảng để chuyển công tác quản lý đội ngũ từ quản lý “hồ sơ, bằng cấp” sang quản lý “năng lực và kết quả”.

Hai là, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng theo hướng phát triển năng lực thực hành và học tập suốt quá trình công tác.

Hoạt động bồi dưỡng năm 2026 với 320 học viên cho thấy Đồng Tháp đã quan tâm đến việc cập nhật nghiệp vụ cho đội ngũ tuyên giáo, dân vận cơ sở (Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp, 2026). Tuy nhiên, cần tránh đồng nhất việc hoàn thành khóa học với việc đã hình thành năng lực. Đào tạo phải được thiết kế dựa trên khoảng trống năng lực và những vấn đề thực tế mà cán bộ đang phải xử lý.

Theo đó, cần chuyển mạnh từ truyền đạt chuyên đề sang đào tạo dựa trên tình huống, mô phỏng và giải quyết vấn đề. Học viên có thể được đặt trước những tình huống cụ thể như chính sách mới có nhiều cách hiểu; thông tin chưa được kiểm chứng lan truyền trên mạng xã hội; người dân phản ánh chính sách khó tiếp cận; hoặc một vấn đề tại địa bàn xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau. Học viên phải thực hiện chu trình: nhận diện vấn đề – kiểm chứng thông tin – phân tích nguyên nhân – xác định đối tượng – xây dựng thông điệp – lựa chọn kênh – tổ chức phản hồi – đánh giá kết quả.

Trung tâm chính trị cấp xã cần trở thành không gian quan trọng của quá trình này. Quy định số 360-QĐ/TW xác định trung tâm chính trị cấp xã có chức năng bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và bồi dưỡng nghiệp vụ cho báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở (Ban Bí thư, 2025). Vì vậy, Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm chính trị cấp xã cần xây dựng “ngân hàng tình huống” từ chính thực tiễn Đồng Tháp, tạo thành chu trình đào tạo liên tục: xác định nhu cầu – đào tạo – thực hành – đánh giá – phản hồi – điều chỉnh.

Ba là, coi năng lực truyền thông chính sách và đối thoại với Nhân dân là năng lực chuyên môn cốt lõi.

Trong chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã ngày càng trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách. Vì vậy, cán bộ tuyên giáo phải chuyển từ vai trò truyền đạt thông tin sang vai trò kết nối chính sách với đời sống xã hội. Muốn làm được điều đó, cán bộ phải hiểu chính sách trước khi truyền thông chính sách.

Mỗi chính sách khi đưa đến cơ sở cần được chuyển hóa thành những thông tin mà người dân có thể tiếp cận và sử dụng: chính sách giải quyết vấn đề gì, ai chịu tác động, người dân có quyền và nghĩa vụ gì, thực hiện ở đâu, bằng cách nào và khi gặp khó khăn thì phản ánh với cơ quan nào. Đây cũng phù hợp với định hướng truyền thông chính sách được xác lập tại Quyết định số 407/QĐ-TTg, trong đó nhấn mạnh việc tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội ngay trong quá trình xây dựng văn bản (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Do đó, cần đào tạo cán bộ theo quy trình đọc chính sách – phân tích đối tượng – xác định vấn đề – xây dựng thông điệp – lựa chọn phương thức – tổ chức đối thoại – tiếp nhận phản hồi – điều chỉnh truyền thông. Cán bộ tuyên giáo giỏi không phải là người nói nhiều, mà là người có khả năng làm cho vấn đề phức tạp trở nên dễ hiểu nhưng không làm sai lệch bản chất chính sách.

Đặc biệt, phải hình thành năng lực lắng nghe. Nếu người dân chưa biết thì cần cung cấp thông tin; nếu hiểu sai thì cần giải thích, đối thoại; nhưng nếu khó khăn xuất phát từ quy trình hoặc tổ chức thực hiện thì phải chuyển phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền. Tuyên giáo vì vậy không chỉ “nói với dân” mà còn phải nghe từ dân.

Bốn là, xây dựng năng lực số gắn với kiểm chứng thông tin, trách nhiệm và sử dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát.

Môi trường số đang làm thay đổi căn bản cách người dân tiếp nhận thông tin. Tại Đồng Tháp, hoạt động chỉ đạo, điều hành trên môi trường điện tử đã được kết nối đến 102 xã, phường; tỉnh đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số đạt 14,5% GRDP năm 2026 (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2026). Điều này đặt ra yêu cầu cán bộ tuyên giáo phải có khả năng hoạt động trong một hệ sinh thái thông tin đa nền tảng.

Năng lực số cần bao gồm khả năng tìm kiếm, kiểm chứng, phân loại và phân tích thông tin; sử dụng các nền tảng truyền thông; xây dựng nội dung trực quan; theo dõi phản hồi và nhận diện thông tin chưa được xác thực. Nghị định số 49/2024/NĐ-CP cũng đặt ra yêu cầu về kỹ năng sử dụng công nghệ và chuyển đổi số đối với người tham gia hoạt động thông tin cơ sở (Chính phủ, 2024). Đồng thời, cần từng bước trang bị năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo cho cán bộ tuyên giáo, nhưng theo nguyên tắc AI hỗ trợ công việc, con người chịu trách nhiệm về thông tin. AI có thể hỗ trợ tổng hợp tài liệu, phân loại dữ liệu, gợi ý cấu trúc hoặc biên tập nội dung; nhưng mọi thông tin do AI hỗ trợ tạo ra phải được kiểm tra, đối chiếu với nguồn chính thức và thẩm định trước khi sử dụng. Cần hình thành văn hóa nghề nghiệp “kiểm chứng trước khi chia sẻ”, bởi trong công tác tuyên giáo, tốc độ truyền thông quan trọng nhưng độ chính xác và trách nhiệm còn quan trọng hơn.

Năm là, đổi mới cơ chế phối hợp và đánh giá theo kết quả, tạo thành hệ sinh thái phát triển năng lực từ tỉnh đến cơ sở.

Xây dựng đội ngũ tuyên giáo không thể tách khỏi chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và hệ thống đào tạo, bồi dưỡng. Đồng Tháp cần phát huy mối liên kết giữa Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, Trường Chính trị tỉnh, trung tâm chính trị cấp xã, chính quyền cơ sở, Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội để hình thành cơ chế chia sẻ thông tin – xác định vấn đề – đào tạo – thực hành – phản hồi – đánh giá. Theo Quy định số 360-QĐ/TW, trung tâm chính trị cấp xã chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của trường chính trị tỉnh, tạo cơ sở để thiết lập hệ thống phát triển năng lực liên thông (Ban Bí thư, 2025).

Cùng với đó, phải đổi mới tiêu chí đánh giá. Không nên chỉ đánh giá cán bộ bằng số cuộc tuyên truyền, số tin bài hay số người tham dự, mà cần quan tâm đến chất lượng và tác động: chính sách có được giải thích dễ hiểu không; vấn đề nào được phát hiện từ cơ sở; phản ánh của người dân có được chuyển đến đúng nơi không; cán bộ xử lý tình huống như thế nào; năng lực có được cải thiện sau đào tạo hay không.

Về lâu dài, Đồng Tháp có thể xây dựng hồ sơ năng lực điện tử cho cán bộ tuyên giáo cơ sở, ghi nhận quá trình đào tạo, sản phẩm công việc, kết quả đánh giá và nhu cầu bồi dưỡng tiếp theo. Khi đó, công tác đào tạo sẽ không còn là những khóa học rời rạc mà trở thành một quá trình phát triển nghề nghiệp liên tục.

5. Kết luận

Chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là thay đổi cấu trúc tổ chức, mà sâu xa hơn là đổi mới phương thức quản trị và yêu cầu đối với đội ngũ trực tiếp thực thi công vụ. Khi cấp xã trở thành nơi chính sách được triển khai và người dân trực tiếp tương tác với chính quyền, năng lực nắm bắt thực tiễn, truyền thông và phản hồi ở cơ sở càng có ý nghĩa quyết định.

Trong bối cảnh đó, cán bộ tuyên giáo cơ sở không chỉ là người truyền đạt thông tin, mà phải là cầu nối giữa chính sách với đời sống, giữa chính quyền với Nhân dân. Điều này đòi hỏi năng lực hiểu chính sách, phân tích tình hình, lắng nghe dư luận, kiểm chứng thông tin, đối thoại và tham mưu. Thực tiễn Đồng Tháp cho thấy đã hình thành những tiền đề về đào tạo, bồi dưỡng và phối hợp chuyên môn; song cần chuyển mạnh từ bồi dưỡng theo khóa học sang phát triển năng lực liên tục, từ chú trọng chứng chỉ sang năng lực thực thi, từ truyền đạt sang đối thoại. Suy cho cùng, tuyên giáo không thể thay thế thực thi chính sách và truyền thông không thể bù đắp cho những bất cập trong quản trị. Một đội ngũ tuyên giáo cơ sở đủ năng lực sẽ góp phần giúp chính quyền hiểu dân hơn, phản ứng sớm hơn và phục vụ Nhân dân tốt hơn.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2025). Quy định số 360-QĐ/TW ngày 29/8/2025 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu.
Bộ Nội vụ (2026). Những thách thức trong đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã trong bối cảnh tổ chức chính quyền 2 cấp ở Việt Nam. Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động. https://isol.moha.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/nhung-thach-thuc-trong-doi-moi-to-chuc-va-hoat-dong-cua-chinh-quyen-cap-xa-trong-boi-canh-to-chuc-chinh-quyen-2-cap-o-viet-nam-44011.html
Nguyễn Thị Quỳnh & Trần Thị Ngọc Khuyên (2026). Xây dựng mô hình chính quyền hai cấp đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới của đất nước. Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động. https://isos.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/xay-dung-mo-hinh-chinh-quyen-hai-cap-dap-ung-yeu-cau-ky-nguyen-moi-cua-dat-nuoc-43959.html
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
Quốc hội (2025a). Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 ngày 24/6/2025.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 1589/QĐ-TTg ngày 24/7/2025 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.