Kiểm soát quyền lực Tổng thống ở Hàn Quốc

Presidential power control in South Korea

                                                                                    TS. Đào Vũ Vũ
TS. Nguyễn Ánh Hồng Minh
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: daovuvu@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Sự kiện Tổng thống Hàn Quốc ban bố thiết quân luật năm 2024 đã đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực Tổng thống tại quốc gia này. Bài viết làm thực trạng quyền lực Tổng thống vẫn giữ vị trí trung tâm và cơ chế kiểm soát chịu tác động mạnh của cạnh tranh đảng phái; chỉ ra nguyên nhân lịch sử bắt nguồn từ quá trình hình thành mô hình Tổng thống mạnh; từ đó, gợi mở cho Việt Nam về hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu quả vận hành các thiết chế kiểm soát và xây dựng môi trường chính trị thuận lợi cho kiểm soát quyền lực.

Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; Tổng thống; Hàn Quốc; gợi mở cho Việt Nam.

Abstract: The South Korean President’s declaration of martial law in 2024 has highlighted the need to re-evaluate the effectiveness of the presidential power control mechanism in the country. This article clarifies the reality that presidential power remains central and the control mechanism is heavily influenced by partisan competition; it points out the historical causes stemming from the formation of a strong presidential model; and from there, offers suggestions for Vietnam on improving institutional design, enhancing the effectiveness of control mechanisms, and building a favorable political environment for power control.

Keywords: Power control, President, South Korea, implications for Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Đầu năm 2024, trong chương trình Kinh tế năm mới Một tương lai mới của Đài Truyền hình KBS Hàn Quốc, các chuyên gia được mời đến trao đổi, đối thoại; phần lớn đều khẳng định hai thành tựu nổi bật của Hàn Quốc kể từ khi lập quốc là trở thành một nước phát triển và dân chủ hóa thành công (KBS, 2024). Thành quả về nền kinh tế và dân chủ tiên tiến của Hàn Quốc cũng được Việt Nam biết đến và công nhận (Nguyễn Thị Thu Phương & Nguyễn Cao Đức, 2021, tr. 153). Tuy nhiên, vào tối ngày 03/12/2024, Tổng thống đương nhiệm của Hàn Quốc, Yoon Seok Yeol, bất ngờ tuyên bố thiết quân luật với lý do bảo vệ trật tự Hiến pháp và an ninh quốc gia. Quyết định này ngay lập tức vấp phải sự phản đối của Quốc hội, các đảng chính trị và đông đảo người dân. Ngay trong đêm, Quốc hội Hàn Quốc đã họp khẩn, thông qua nghị quyết bác bỏ lệnh thiết quân luật; sau đó, Tổng thống Yoon Suk Yeol bị luận tội, bị đình chỉ chức vụ và cuối cùng bị Tòa án Hiến pháp cách chức theo các trình tự hiến định. Sự lựa chọn mô hình tổng thống ngay từ giai đoạn lập quốc, quá trình chuyển đổi giữa các chính quyền dân sự và quân sự, cùng những lần sửa đổi Hiến pháp nhằm điều chỉnh quan hệ quyền lực giữa các thiết chế nhà nước đã góp phần định hình đặc điểm của cơ chế kiểm soát quyền lực của Tổng thống hiện nay.

Việc phân tích thực trạng kiểm soát quyền lực Tổng thống không thể tách rời bối cảnh lịch sử và sự phát triển của thể chế chính trị Hàn Quốc. Trên cơ sở đó, làm rõ thực trạng kiểm soát quyền lực Tổng thống ở Hàn Quốc thông qua các thiết chế hiến định và thực tiễn vận hành, đồng thời, làm rõ những nguyên nhân lịch sử và chính trị tác động tới sự hình thành và hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực ở quốc gia này, từ đó bước đầu đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam trong thực hiện kiểm soát quyền lực.

2. Kiểm soát quyền lực trong chế độ Tổng thống

Quyền lực chính trị luôn có xu hướng mở rộng và tập trung nếu không được giới hạn bởi những cơ chế kiểm soát phù hợp. Vì vậy, trong các nhà nước hiện đại, kiểm soát quyền lực không chỉ nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền của các chủ thể thực thi quyền lực mà còn bảo đảm cho bộ máy nhà nước vận hành đúng chức năng, đúng pháp luật và phục vụ lợi ích công. Trong chế độ Tổng thống, yêu cầu này càng trở nên quan trọng bởi Tổng thống đồng thời là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu nhánh hành pháp, nắm giữ nhiều quyền lực quan trọng trong hoạch định chính sách, tổ chức bộ máy nhà nước, bổ nhiệm nhân sự cấp cao, điều hành lực lượng vũ trang và xử lý các tình trạng khẩn cấp. Do đó, hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực Tổng thống không chỉ phụ thuộc vào việc tồn tại các thiết chế kiểm soát mà còn phụ thuộc vào cách thức các thiết chế đó được thiết kế và vận hành trong thực tiễn.

Kiểm soát quyền lực Tổng thống trong chế độ Tổng thống được thực hiện thông qua một số cơ chế chủ yếu: Quốc hội kiểm soát bằng quyền lập pháp, phê chuẩn ngân sách, điều trần, giám sát, phê chuẩn hoặc bác bỏ nhân sự và luận tội; Tòa án và Tòa án Hiến pháp kiểm soát bằng quyền tài phán, xem xét tính hợp hiến của hành vi quyền lực; hệ thống công tố, thanh tra, kiểm toán kiểm soát thông qua điều tra, truy cứu trách nhiệm và giám sát tính hợp pháp của hoạt động công quyền; các đảng chính trị kiểm soát thông qua cạnh tranh bầu cử, tổ chức phe đối lập và tạo sức ép chính trị; còn xã hội, báo chí và công luận kiểm soát bằng giám sát xã hội, phản biện và tạo áp lực minh bạch hóa quyền lực.

Tuy nhiên, hiệu quả của kiểm soát quyền lực Tổng thống không hoàn toàn phụ thuộc vào việc một quốc gia có đầy đủ các thiết chế kiểm soát hay không mà còn phụ thuộc vào cách thức các thiết chế đó vận hành trong thực tiễn. Khi quyền lực bổ nhiệm nhân sự, quyền lãnh đạo hành pháp và ảnh hưởng chính trị của Tổng thống quá lớn, trong khi Quốc hội bị chia rẽ bởi cạnh tranh đảng phái hoặc các thiết chế tư pháp chưa bảo đảm tính độc lập, cơ chế kiểm soát quyền lực có thể bị suy giảm hiệu lực. Ngược lại, nếu sự đối đầu giữa các lực lượng chính trị diễn ra quá gay gắt, các công cụ kiểm soát quyền lực cũng có thể bị sử dụng như phương tiện đấu tranh chính trị thay vì bảo vệ các nguyên tắc hiến định.

3. Kiểm soát quyền lực Tổng thống ở Hàn Quốc

Sau năm 1987, Hàn Quốc đã từng bước hoàn thiện hệ thống các thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, trong đó quyền lực của Tổng thống được đặt dưới sự giám sát của Quốc hội, Tòa án Hiến pháp, hệ thống tư pháp, các đảng chính trị và dư luận xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cho thấy, cơ chế kiểm soát quyền lực Tổng thống vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Quyền lực của Tổng thống trên thực tế vẫn có xu hướng tập trung cao, trong khi hiệu quả của các thiết chế kiểm soát phụ thuộc đáng kể vào tương quan lực lượng chính trị giữa các đảng cũng như sự vận hành của các thiết chế hiến định. Điều này khiến khả năng kiềm chế và đối trọng quyền lực không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách ổn định và hiệu quả.

3.1. Quyền lực Tổng thống giữ vị trí trung tâm trong hệ thống quyền lực nhà nước

Quyền lực của Tổng thống Hàn Quốc khá mạnh trong quyền lực chính trị Hàn Quốc, đặc biệt là quyền bổ nhiệm nhân sự (Sim Gyeong-su, 2017, tr.326). Quyền bổ nhiệm Thủ tướng và các bộ trưởng, nhân sự điều hành chủ chốt trở thành nền tảng để Tổng thống kiểm soát mạnh mẽ toàn bộ nhánh hành pháp. Ngoài ra, các quyền như quyền phủ quyết dự luật, quyền đề xuất trưng cầu dân ý quốc gia và quyền ân xá cũng củng cố vị trí của Tổng thống.

Quyền bổ nhiệm người đứng đầu các thể chế quyền lực lớn, chẳng hạn như: Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án Tối cao, Chủ tịch Tòa án Hiến pháp, và Tổng Giám đốc Cơ quan Cảnh sát Quốc gia, hầu hết đều tập trung vào Tổng thống. Điều này tạo ra một cấu trúc nhà nước trong đó nhánh hành pháp có thể kiểm soát hầu như các thể chế giám sát quyền lực như tư pháp, công tố và cảnh sát, đe dọa sự độc lập và trung lập của họ. Đặc biệt, đặc quyền của Tổng thống trong soạn thảo và thực hiện ngân sách là một trong những lý do chính khiến nhánh hành pháp có ưu thế hơn Quốc hội. Tổng thống là người bổ nhiệm Chủ tịch Ban Thanh tra và Kiểm toán, hai cơ quan có chức năng tự kiểm soát của nhánh hành pháp.

Mặc dù Quốc hội có quyền tham gia phê chuẩn đối với một số chức danh theo quy định của Hiến pháp, nhưng trên thực tế quyền kiểm soát này còn tương đối hạn chế. Quyền bổ nhiệm ngày càng mở rộng cùng với sự gia tăng vai trò của hành pháp khiến quyền lực tiếp tục tập trung vào Tổng thống. Điều này cũng được Shim Gyong Su phân tích trong Phân lập quyền lực và quyền bổ nhiệm của Tổng thống, theo đó có một số vấn đề như sau: Một là, quyền của Quốc hội trong việc thông qua các quyết định bổ nhiệm của Tổng thống trên thực tế chưa tương xứng với quy định của Hiến pháp. Khi quyền lực hành chính tăng, quyền bổ nhiệm của Tổng thống cũng tăng và kết quả là quyền lực tập trung vào Tổng thống. Hai là, dựa vào hiện tượng đảng cầm quyền và đảng đối lập ngày một phân cực, đảng cầm quyền ngày càng nhích gần hơn tới quyền lực Tổng thống kể từ năm 2000. Việc “phó thác” nhiệm vụ bổ nhiệm nhân sự cho Tổng thống trong nhánh hành pháp có thể khiến chế độ Tổng thống đang được điều hành theo nguyên tắc phân quyền gặp nhiều rủi ro. Cụ thể, cơ chế phân quyền của thể chế Tổng thống có thể bị chi phối bởi đảng chính trị, tức là chức năng kiểm soát quyền lực của Quốc hội sụt giảm và đảng đối lập khó làm việc với Tổng thống. Do đó, nhất thiết cần thúc đẩy quyền thông qua danh sách bổ nhiệm nhân sự của Quốc hội (Sim Gyeong-su, 2017, tr.326-327).

Như vậy, mặc dù Quốc hội được thiết kế là thiết chế kiểm soát quyền lực quan trọng trong chế độ Tổng thống, song trên thực tế vai trò này chưa được phát huy đầy đủ. Choi Hyong Ik khi phân tích những bất cập của mô hình Tổng thống Hàn Quốc đã chỉ rõ một số vấn đề nổi cộm trong thể chế Tổng thống của Hàn Quốc kể từ khi xây dựng Hiến pháp năm 1948, cụ thể như sau:

Vấn đề thứ nhất, nếu không thực hiện cơ chế phân quyền trong thể chế lấy Tổng thống làm trung tâm thì hiện tượng tập trung quyền lực vào cá nhân Tổng thống là điều không tránh khỏi.

Vấn đề thứ hai, hệ thống chính trị Hàn Quốc có thể rơi vào cám dỗ của nền dân chủ ủy nhiệm, tức là chỉ cần trúng cử là tính chính đáng của tổng thống đã được bảo đảm.

Vấn đề thứ ba, thể chế Tổng thống ngăn trở việc tập trung quyền lực ở Quốc hội và Quốc hội chỉ được xem như một cơ quan đối trọng với quyền lực Tổng thống một cách hình thức, mặc dù vai trò của Quốc hội như một cơ quan kìm hãm sự lạm quyền hay độc quyền của Tổng thống đã được công nhận phần nào.

Vấn đề thứ tư là vị trí của Thủ tướng chưa phát huy được vai trò đối trọng với quyền lực của Tổng thống. Trong thực tiễn vận hành, Thủ tướng chủ yếu thực hiện chức năng hỗ trợ Tổng thống trong điều hành hành pháp, trong khi Nội các chưa trở thành một thiết chế có khả năng kiểm soát hoặc chia sẻ quyền lực với người đứng đầu nhà nước. Hoạt động của các cuộc họp Nội các vì vậy nhiều khi mang tính hình thức; trách nhiệm chính trị không được phân định rõ ràng. Theo Choi Hyong Ik, trong khi Thủ tướng lẽ ra cần được thiết kế như một chủ thể góp phần kiềm chế và cân bằng quyền lực của Tổng thống, Hiến pháp Hàn Quốc hiện hành chưa tạo lập được cơ sở hiến định để thực hiện chức năng này (Choi Hyung-ik, 2017, 28-32). 

3.2. Kiểm soát quyền lực chịu tác động mạnh của cạnh tranh đảng phái

Thứ nhất, sự phân cực đảng phái trong Quốc hội. Thông thường, một ứng cử viên tổng thống hoạt động trong một đảng chính trị nên về mặt nguyên tắc, khi trở thành ứng cử viên tổng thống, chính trị gia đó phải rời khỏi đảng. Nhưng thực chất, các đảng vẫn coi đó là “thắng lợi” hay “thất bại” của đảng mình khi ứng cử viên đắc cử hay không. Quốc hội Hàn Quốc vốn có quyền giám sát hành pháp, nhưng do phân cực đảng phái và lợi ích chính trị, chức năng này thường bị tê liệt hoặc biến thành công cụ đấu đá phe phái. Sự đối đầu gay gắt giữa các đảng bảo thủ và tiến bộ khiến cơ chế kiểm soát quyền lực bị biến dạng, thay vì giám sát khách quan, Quốc hội trở thành đấu trường chính trị để ủng hộ hay phản đối các quyết sách của Tổng thống.

Hơn 100 đảng phái chính trị đã xuất hiện ở Hàn Quốc kể từ năm 1945. Đảng chính trị đầu tiên là Đảng Cộng sản Hàn Quốc, do Park Hon Yong tái lập sau khi bị đàn áp và giải tán dưới sự cai trị của thực dân Nhật Bản. Lee Seung Man đã hợp lực với Lee Beom Seok, người từng là Thủ tướng đầu tiên trong nội các đầu tiên vào năm 1951 để thành lập Đảng Tự do. Năm 1955, Đảng Dân chủ được thành lập dưới biểu ngữ chống Lee Seung Man và chống Đảng Tự do, bằng cách sáp nhập các lực lượng bao gồm phe Đảng Dân Hàn trước đây. Cấu trúc này tiếp tục được củng cố, dẫn đến một khuôn khổ đối đầu giữa các đảng phái chính trị: Đảng Cộng hòa Dân chủ (Park Chung Hee) đối đầu với Đảng Dân chủ Mới (Kim Dae Jung, Kim Young Sam), Đảng Công lý Dân chủ (Chun Doo Hwan) đối đầu với Đảng Dân chủ Hàn Quốc mới (Kim Young Sam, Kim Dae Jung).

Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1987 và cuộc tổng tuyển cử năm 1988, được tổ chức sau thay đổi Hiến pháp năm 1987, sự đối kháng giữa các lực lượng dân chủ và chống dân chủ đã giảm nhưng lại tạo ra cục diện đối đầu của các đảng chính trị địa phương. Hệ quả là khi sự đối đầu giữa các đảng chính trị tăng, các vấn đề của quốc gia thường bị trì hoãn, các thể chế tư pháp phải vào cuộc giải quyết các loại kiện tụng và cáo buộc, thay vì các cơ chế hòa giải, kiềm chế, thanh tra, kiểm tra có tính dự phòng. Ngành Tư pháp vốn được hiến định trung lập về chính trị nhưng Tổng thống và Quốc hội lại coi ngành này là cấp dưới của mình và phục vụ cho lợi ích chính trị của họ.

Thứ hai là có sự xung đột giữa Quốc hội và Tổng thống. Nếu Tổng thống kiểm soát quyền lực và được các đảng chính trị hậu thuẫn, quyền lực của Tổng thống sẽ rất lớn. Nhưng nếu Tổng thống và đảng chính trị đối nghịch nhau, quyền lực của Tổng thống sẽ bị hạn chế bằng mọi cách. Các xung đột giữa Tổng thống và Quốc hội bắt đầu xuất hiện sau khi bãi bỏ hệ thống bầu cử không công bằng sau khi dân chủ hóa vào năm 1987. Trong nhiệm kỳ Tổng thống Roh Tae Woo, hiện tượng đảng cầm quyền có số ghế ít, đảng đối lập có số ghế nhiều (Yeo-so-Ya-dae) lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử hiến định. Đây là hệ quả của quá trình cân bằng quyền lực tự nhiên, trong đó số ghế trong Quốc hội quyết định việc thông qua hay không thông qua các điều luật, dự thảo ngân sách… Xung đột giữa nhánh hành pháp mà đại diện là Tổng thống, và nhánh lập pháp, mà đại diện là Quốc hội, bắt đầu xảy ra trong hệ thống tổng thống. Các vụ luận tội Tổng thống Roh Moo Hyun, Park Geun Hye và Yoon Suk Yeol đều diễn ra trong bối cảnh Yeo-so-Ya-dae, phản ánh sự xung đột giữa Tổng thống và Quốc hội.

Các đảng thường có chức năng như một phương tiện duy trì quyền lực Tổng thống, hơn là độc lập trong việc xây dựng chính sách. Kết quả là quyền lực Tổng thống “ngự trị” tối cao còn đảng chính trị thường bị lợi dụng như một công cụ để duy trì quyền lực. Đảng Tự do của Lee Seung Man, Đảng Cộng hòa của Park Chung Hee, Đảng Công lý Dân chủ của Chun Doo Hwan và Đảng Tự do Dân chủ, xuất hiện sau sự kiện sáp nhập ba đảng vào năm 1990, đều là những ví dụ về việc tổ chức lại đảng nhằm củng cố quyền lực Tổng thống. Sự mong manh này của hệ thống đảng là một điều kiện để hiện tượng tập trung quyền lực vẫn diễn ra ngay cả sau dân chủ hóa (Yang Jae-jin, 2025).

4. Nguyên nhân lịch sử của thực trạng kiểm soát quyền lực Tổng thống ở Hàn Quốc

Một là, quá trình kiến tạo Nhà nước ở Hàn Quốc đã góp phần đặt nền tảng cho mô hình quyền lực Tổng thống mạnh.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh năm 1945, bán đảo Triều Tiên bước vào giai đoạn chuyển tiếp với sự tồn tại đồng thời của nhiều lực lượng chính trị và nhiều mô hình tổ chức nhà nước khác nhau. Chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân Quốc được thành lập từ năm 1919 từng lựa chọn mô hình nghị viện và sau đó nhiều lần điều chỉnh cơ cấu tổ chức. Tuy nhiên, dưới tác động của bối cảnh Chiến tranh lạnh, sự hiện diện của Chính phủ Quân sự Hoa Kỳ và vai trò chính trị của Lee Seung Man, phương án tổ chức quyền lực theo chế độ Tổng thống đã được lựa chọn thay cho mô hình nội các được đề xuất ban đầu.

Hiến pháp xác định mục tiêu xây dựng một Nhà nước dân chủ tự do dựa trên các giá trị chính nghĩa, nhân đạo, đoàn kết dân tộc, bình đẳng, thượng tôn pháp luật và tôn trọng quyền con người; hướng tới thống nhất hòa bình đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, đóng góp cho hòa bình thế giới và bảo đảm tự do, an toàn, hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai (Tòa án Hiến pháp, 2025, tr.171). Tuy nhiên, với thực tế lịch sử nói trên, sự can dự và thay đổi của Lee Seung Man cùng các thế lực thân Nhật và sau này là thân Mỹ đã đưa Lee Seung Man trở thành Tổng thống đầu tiên của nước này và hình thành thể chế có Tổng thống nắm giữ quyền lực tối cao. Việc lựa chọn này không chỉ quyết định hình thức chính thể của Đại Hàn Dân quốc mà còn xác lập vị trí trung tâm của Tổng thống trong cấu trúc quyền lực nhà nước. Ngay từ khi lập quốc, Tổng thống đã được trao những thẩm quyền rộng trong tổ chức và điều hành hành pháp, tạo tiền đề cho xu hướng tập trung quyền lực về sau. Vì vậy, quyền lực mạnh của Tổng thống hiện nay không phải là hiện tượng phát sinh sau dân chủ hóa năm 1987 mà là kết quả của quá trình kiến tạo nhà nước và lựa chọn mô hình tổ chức quyền lực ngay từ giai đoạn đầu hình thành quốc gia.

Hai là, các lần sửa đổi Hiến pháp đã duy trì và củng cố mô hình quyền lực Tổng thống mạnh.

Nền tảng quyền lực được thiết lập từ năm 1948 tiếp tục được duy trì và củng cố qua các lần sửa đổi Hiến pháp. Xét về hình thức, lịch sử lập hiến Hàn Quốc ghi nhận sự thay đổi liên tục giữa bầu cử tổng thống trực tiếp và gián tiếp, giữa chế độ tổng thống và chế độ nội các nghị viện, cũng như các quy định khác nhau về nhiệm kỳ và khả năng tái cử. Tuy nhiên, đằng sau những thay đổi đó là cuộc đấu tranh kéo dài nhằm xác định chủ thể nắm giữ quyền lực tối cao và phương thức duy trì quyền lực của người đứng đầu nhà nước. Các lần sửa đổi Hiến pháp năm 1952 và năm 1954 dưới thời Lee Seung Man đã thay đổi phương thức bầu cử và giới hạn nhiệm kỳ nhằm tạo điều kiện cho Tổng thống tiếp tục nắm quyền. Sau Cách mạng ngày 19/4/1960, mô hình nội các nghị viện được thiết lập trong một thời gian ngắn nhưng nhanh chóng chấm dứt sau cuộc đảo chính quân sự năm 1961. Hiến pháp năm 1962 khôi phục chế độ tổng thống, mở đường cho việc tập trung quyền lực dưới thời Park Chung Hee. Những sửa đổi tiếp theo, đặc biệt là Hiến pháp Yusin năm 1972, tiếp tục kéo dài nhiệm kỳ và khả năng tái cử, đồng thời hợp thức hóa một cơ chế quyền lực mang tính độc đoán cao.

Trong những lần thể chế độc tài nắm quyền, sự gắn kết giữa quyền lực Tổng thống, cơ quan thông tin tình báo, cơ quan thông tin quân đội cùng cảnh sát có quan hệ mật thiết với nhau. Đây là lý do vì sao trong lịch sử hiện đại của Đại Hàn Dân Quốc, đã có tới 17 lần Tổng thống ban bố Lệnh giới nghiêm, trong đó 13 lần là Giới nghiêm bất thường/khẩn cấp (trường hợp có gián điệp hay nguy cơ ngoại xâm) và Giới nghiêm thiết quân luật (nội loạn, quân loạn) tính từ năm 1948 (Han Sang-jin, 2026). Chính điều này đã tạo nên một đặc điểm đáng chú ý của thể chế chính trị Hàn Quốc, đó là các thiết chế kiểm soát quyền lực được bổ sung và hoàn thiện theo thời gian nhưng đồng thời vẫn phải vận hành trong khuôn khổ của một mô hình Tổng thống có quyền lực rất lớn. Điều này giải thích vì sao, mặc dù Quốc hội, Tòa án Hiến pháp, cơ quan kiểm toán và các thiết chế giám sát khác ngày càng được tăng cường về mặt pháp lý, quyền lực của Tổng thống vẫn giữ vai trò chi phối trong hệ thống quyền lực nhà nước.

Ba là, cạnh tranh chính trị kéo dài làm cho cơ chế kiểm soát quyền lực mang nặng tính đối đầu.

Trong suốt quá trình phát triển của nền chính trị Hàn Quốc, sự thay thế lẫn nhau giữa các lực lượng bảo thủ và tiến bộ đã tạo nên trạng thái đối đầu kéo dài trong đời sống chính trị. Sau khi lực lượng theo chủ nghĩa xã hội bị loại bỏ khỏi đời sống chính trị, sự cạnh tranh giữa các lực lượng bảo thủ và dân chủ dần trở thành trục đối kháng chủ yếu của chính trị Hàn Quốc. Trong bối cảnh đó, các thiết chế kiểm soát quyền lực nhiều khi không chỉ thực hiện chức năng kiểm soát theo đúng tinh thần hiến định mà còn trở thành công cụ của cạnh tranh chính trị. Quốc hội, cơ quan công tố, tư pháp và các thiết chế giám sát khác thường xuyên bị cuốn vào những cuộc đấu tranh giữa các lực lượng chính trị. Việc điều tra, luận tội hoặc truy cứu trách nhiệm đối với các Tổng thống, như: Roh Moo Hyun, Lee Myung Bak, Park Geun Hye hay Yoon Suk Yeol phản ánh quyết tâm xử lý trách nhiệm của người đứng đầu nhà nước khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng đồng thời cũng cho thấy, các thiết chế kiểm soát quyền lực luôn chịu tác động mạnh của môi trường cạnh tranh chính trị.

Với sự tồn tại song song của hai thể chế trong thế cạnh tranh sống còn này, những thủ đoạn chính trị như bắt bớ, sử dụng các công cụ quân đội, cảnh sát, pháp luật và tài chính để hạ bệ, gây khó dễ cho đối phương, thậm chí gây chia rẽ xã hội cũng đã không ít lần được sử dụng như một công cụ tranh cử. Trong lịch sử bầu cử Tổng thống Hàn Quốc, các ứng cử viên thuộc phe tiến bộ như Kim Dae Jung (nhiệm kỳ 1998-2003) từng bị truy sát phải chạy ra nước ngoài, Noh Mu Hyon (nhiệm kỳ 2003-2008) phải tự sát vì áp lực cáo buộc nhận hối lộ sau khi đã hết nhiệm kỳ, Tổng thống đương nhiệm Lee Jae Myong thì từng bị người khác dùng dao tấn công và bị thương ở cổ, bị điều trần vì cáo buộc tham nhũng, lạm dụng chức quyền và “nói dối” trong thời gian làm lãnh đạo ở địa phương (Lee Bo-bae & Lee Do-heun, 2023). Các tổng thống thuộc phe bảo thủ của Hàn Quốc, như Lee Myong Park, bị kết án vì tham nhũng, hối lộ, biển thủ. Năm 2020, Tòa án Tối cao Hàn Quốc giữ nguyên bản án, nâng mức án lên 17 năm tù, phạt tiền 13 tỷ won (khoảng 10,9 triệu USD) và tịch thu thêm 5,7 tỷ won. Tổng thống  Park Geun Hye bị Quốc hội luận tội và Tòa án Hiến pháp phế truất chức Tổng thống năm 2017 và năm 2018, bị Tòa án Seoul kết án 24 năm tù và phạt tiền 18 tỷ won. Năm 2020, Tòa án Tối cao giữ nguyên bản án và nâng mức án lên 25 năm tù.

5. Một số gợi mở đối với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực.

Đối với Việt Nam, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực cần được đặt trong tổng thể quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo đó, cần tiếp tục thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đồng thời, các quy định về phân định thẩm quyền, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm soát quyền lực trong từng lĩnh vực quản lý, nhất là trong công tác cán bộ, quản lý tài chính công và thực hiện quyền lực hành chính cần được chú trọng hoàn thiện. Việc thiết kế thể chế theo hướng minh bạch, rõ trách nhiệm và có khả năng kiểm soát lẫn nhau sẽ góp phần phòng ngừa nguy cơ lạm quyền; đồng thời, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích và đúng giới hạn pháp luật.

Hai là, nâng cao hiệu quả vận hành của các thiết chế kiểm soát quyền lực.

Trong thực tiễn chính trị Hàn Quốc, Quốc hội, các cơ quan tư pháp, công tố và nhiều thiết chế giám sát khác không chỉ thực hiện chức năng kiểm soát theo tinh thần hiến định mà còn chịu tác động đáng kể của cạnh tranh đảng phái. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc bổ sung hoặc sửa đổi các quy định pháp luật mà còn cần quan tâm đến hiệu quả vận hành của các thiết chế kiểm soát. Điều này đòi hỏi mỗi cơ quan, tổ chức và cá nhân được giao thực hiện quyền lực phải hoạt động đúng chức năng, đúng thẩm quyền, đề cao trách nhiệm giải trình và chịu sự giám sát theo quy định của pháp luật; đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và kiểm soát quyền lực, bảo đảm mỗi thiết chế phát huy đúng vai trò của mình nhưng không làm phát sinh sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm hoặc cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan khác. Kiểm soát quyền lực vì vậy không chỉ nhằm phát hiện và xử lý vi phạm mà còn hướng tới phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ tha hóa quyền lực, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Ba là, xây dựng môi trường chính trị thuận lợi cho kiểm soát quyền lực.

Đối với Việt Nam, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực cần gắn với việc xây dựng môi trường chính trị ổn định, đoàn kết và thượng tôn pháp luật. Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm phải được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc của Đảng, quy định của pháp luật và yêu cầu bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích của Nhân dân; đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát quyền lực với xây dựng đạo đức công vụ, văn hóa liêm chính và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và truyền thông cần tiếp tục phát huy theo đúng quy định của pháp luật, qua đó tạo điều kiện để quyền lực nhà nước luôn được đặt dưới sự giám sát của xã hội, góp phần phòng ngừa sự tha hóa quyền lực và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước.

6. Kết luận

Sự kiện Tổng thống Yoon Seok Yeol ban bố thiết quân luật cuối năm 2024 cho thấy việc một quốc gia có hệ thống thiết chế kiểm soát quyền lực tương đối hoàn chỉnh không đồng nghĩa với việc cơ chế kiểm soát đó luôn vận hành hiệu quả trong thực tiễn. Việc lựa chọn mô hình Tổng thống ngay từ giai đoạn lập quốc đã xác lập vị trí trung tâm của Tổng thống trong cấu trúc quyền lực nhà nước; các lần sửa đổi Hiến pháp sau đó tuy từng bước mở rộng các thiết chế dân chủ nhưng chưa làm thay đổi căn bản mô hình Tổng thống mạnh; đồng thời, sự cạnh tranh kéo dài giữa các lực lượng chính trị tiếp tục tác động đến cách thức vận hành của các cơ chế kiểm soát quyền lực. Đối với Việt Nam, nghiên cứu trường hợp Hàn Quốc cho thấy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cần được tiếp cận đồng thời từ ba phương diện nêu trên. Mặc dù điều kiện lịch sử, chế độ chính trị và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước giữa Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều khác biệt, kinh nghiệm của Hàn Quốc vẫn cung cấp những gợi mở có giá trị về mối quan hệ giữa việc thiết kế và hoàn thiện thể chế, quá trình vận hành quyền lực và bối cảnh chính trị trong bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:
Ahn Hee-soo (2024). Lịch sử chính trị hiện đại của Đại Hàn Dân Quốc [안희수]. 대한민국 현대정치사 . 서울: 박영사]. Seoul: Park Youngsa.
Choi, Hyung-ik (2017). Kỷ nguyên chủ quyền nhân dân, thể chế hóa phân quyền và cải cách hệ thống tổng thống Hàn Quốc [최형익]. “국민주권 시대, 권력 분산의 제도화와 한국 대통령제 개혁”. 민주주의와 인권. Tạp chí Dân chủ và Nhân quyền, Số 4, Tập 17, tr.28-32.
Han Sang-jin (4/12/2024). Tuyên bố thiết quân luật kiểu triệt hạ lặp lại … So sánh với các tuyên bố thiết quân luật trước đây [한상진]. “처단 반복한 역대급 포고문… 과거 계엄 포고문과 비교”. 뉴스타파]. Newstapa.https://www.newstapa.org/article/DVt5a
KBS (2024). (Tuyển tập Kinh tế 2024) Chương trình đặc biệt về kinh tế nhân dịp năm mới – Một tương lai khác biệt: Bộ ba NEXT KOREA https://www.youtube.com/watch?v=bvETCmcJK80&t=8353s
Kim Young-dong, Uhm Ji-won (3/1/2024). Kẻ tấn công Lee Jae-myung là thành viên của Đảng Sức mạnh Nhân dân… Hắn mới gia nhập Đảng Dân chủ cách đây 10 tháng [김영동, 엄지원]. “이재명 습격범, 국민의힘 당원이었다… 민주당엔 10개월 전 입당”. 한겨례]. Báo Hankyoreh.https://www.hani.co.kr/arti/politics/politics_general/1122829.html
Kim Young-soo (27/9/2023). Bộ Tư pháp: Giơ tay ủng hộ chính trị chống đạn với nhóm chính trị: bên Công tố chứ không phải Bộ Tư pháp [김영수]. “사법부 – 방탄 정치 손들어줘 vs 정치적 집단, 사법부 아닌 검찰 YTN https://www.ytn.co.kr/_ln/0101_202309271517565208
Lee Bo-bae & Lee Do-heun (18/9/2023). Viện kiểm sát – Lee Jae-myung bị bắt giữ… Cáo buộc tham ô 20 tỷ won và nhận hối lộ 8 triệu đô la (Tổng hợp) [이보배 & 이도흔]. “검찰 – 이재명 구속 성명… 200억 배임. 800만 달러 뇌물 혐의(종합). 연합뉴스]. Yonhap News. https://www.yna.co.kr/view/AKR20230918029151004
Lee Hyo-jin (19/1/2025). Chaos at court: Mob violence by Yoon’s supporters sparks outrage. The Korea Times.https://www.koreatimes.co.kr/southkorea/politics/20250119/chaos-at-court-mob-violence-by-yoons-supporters-sparks-outrage
Park, Sung-joon (2024). Nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc của hệ thống tổng thống kiểu Hàn Quốc [박성준, “한국형 대통령제의 구조적 특징에 관한 연구”, 법학연구 (인하대학교), 제27집 제2호]. Tạp chí Nghiên cứu Luật học (Đại học Inha), Số 2, Tập 27.
Nguyễn Thị Thu Phương & Nguyễn Cao Đức (đồng chủ biên) (2021). Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Sim, Gyeong-su (2017). Cơ chế phân quyền và quyền bổ nhiệm của Tổng thống (tập trung vào cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực của Quốc hội) [심경수]. “권력분립과 대통령의 임명권 (국회의 견제 기능을 중심으로)”. 헌법학연구]. Tạp chí Luật Hiến pháp, Số 3, Tập 23.
Tòa án Hiến pháp (2025). Quyết định luận tội Tổng thống Yoon Suk-youl [헌법재판소]. 대통령 윤석열 탄핵 사건 선고 결정문. 서울: 미르북컴퍼니. Seoul: Nhà xuất bản Mir Book Company.
Yang Jae-jin (2025). Nguyên tắc của Chính phủ [양재진]. 정부의 원리. 서울: 마름모. Seoul: Hình thoi
Bài viết là sản phẩm của Nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp Bộ 2025-2026: “Kiểm soát quyền lực chính trị ở một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Mã số: KHXH/NV/2025-59, do TS. Nguyễn Ánh Hồng Minh làm chủ nhiệm; tổ chức chủ trì: Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.