Cung ứng dịch vụ số của chính quyền địa phương ở thành phố Kyoto (Nhật Bản) và Thượng Hải (Trung Quốc) – hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Digital service provision by local governments in Kyoto City (Japan) and Shanghai (China): policy implications for Vietnam

ThS. Nguyễn Đình Quý
Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Phân hiệu thành phố Huế
Email: quy.nguyendinh@gmail.com 

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức và cung ứng dịch vụ của chính quyền địa phương. Giá trị của chuyển đổi không nằm ở số lượng thủ tục hành chính được đưa lên mạng mà ở khả năng tái thiết kế quy trình, khai thác và tái sử dụng dữ liệu, tổ chức dịch vụ theo nhu cầu người dùng và duy trì các kênh phục vụ bao trùm. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp so sánh và phân tích tài liệu để khảo sát hai mô hình địa phương có bối cảnh khác biệt là Kyoto (Nhật Bản) và Thượng Hải (Trung Quốc). Kết quả cho thấy, Kyoto nổi bật ở cách tiếp cận có chọn lọc, ưu tiên các dịch vụ có tần suất sử dụng cao và các bài toán đặc thù của đô thị di sản; trong khi Thượng Hải nổi bật ở tích hợp nền tảng, tái cấu trúc liên cơ quan, chia sẻ dữ liệu và cung ứng dịch vụ số chủ động. Từ kinh nghiệm trên, bài viết rút ra các bài học về quản trị nền tảng, dữ liệu, thiết kế dịch vụ, tích hợp trực tuyến – trực tiếp và cải tiến liên tục; đồng thời, đề xuất một số hàm ý chính sách cho chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật và chiến lược chuyển đổi số mới.

Từ khóa: Cung ứng dịch vụ số; chính quyền địa phương; Kyoto (Nhật Bản); Thượng Hải (Trung Quốc); chuyển đổi số.

Abstract: Digital transformation is fundamentally reshaping how local governments organize and deliver public services. The true value of this transformation does not reside in the mere volume of administrative procedures placed online, but rather in the capacity to redesign processes, exploit and reuse data, structure services around user needs, and sustain inclusive multi-channel service provision. Employing comparative case study research and documentary analysis, this article examines two local models operating in distinct contextual settings: Kyoto (Japan) and Shanghai (China). The findings indicate that Kyoto is distinguished by a selective approach that prioritizes high-frequency services and addresses the specific challenges of a heritage city, whereas Shanghai is characterized by platform integration, inter-agency restructuring, data sharing, and proactive digital service delivery. Drawing on these experiences, the article draws lessons on platform and data governance, service design, online–in-person integration, and continuous improvement, and advances several policy implications for provincial-level local governments in Vietnam within the framework of current law and the new digital transformation strategy.

Keywords: Digital service delivery; local government; Kyoto (Japan); Shanghai (China); digital transformation.
1. Đặt vấn đề

Trong quản trị công hiện đại, chuyển đổi số không còn được hiểu đơn giản là ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa thủ tục hành chính hiện hữu. Khung Chính phủ số của OECD (2020) nhấn mạnh 6 chiều chuyển đổi, gồm: thiết kế số ngay từ đầu, khu vực công dựa trên dữ liệu, chính phủ như một nền tảng, mở mặc định, lấy người dùng làm trung tâm và chủ động trong cung ứng dịch vụ (OECD, 2020). Báo cáo Chính phủ điện tử của Liên Hợp quốc năm 2024 cũng cho thấy, năng lực cung ứng dịch vụ số ở cấp địa phương có ý nghĩa đặc biệt vì chính quyền địa phương thường là điểm tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên nhất giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp (United Nations Department of Economic and Social Affairs, 2024). Theo cách tiếp cận này, chất lượng cung ứng dịch vụ số phải được đánh giá bằng khả năng tạo giá trị công, giảm gánh nặng tương tác, tăng khả năng tiếp cận và tạo ra trải nghiệm phục vụ liền mạch, thay vì chỉ bằng số lượng dịch vụ trực tuyến.

Tư duy “chính phủ như một nền tảng” của O’Reilly (2010) coi Nhà nước không phải là chủ thể tự sản xuất toàn bộ dịch vụ mà là bên kiến tạo hạ tầng, quy tắc và điều kiện để nhiều chủ thể cùng tham gia tạo giá trị. Brown & cộng sự (2017) tiếp tục chỉ ra rằng, mô hình nền tảng trong khu vực công không chỉ là kiến trúc công nghệ số mà còn là một mô hình tổ chức và quản trị hệ sinh thái số. Tiếp cận cung ứng dịch vụ công số theo hướng chính quyền như một nền tảng, nhấn mạnh nền tảng dùng chung, khả năng liên thông, sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước và yêu cầu bảo đảm trách nhiệm công (Nguyễn Đình Quý, 2025a). Đây là cơ sở phù hợp để phân tích những mô hình địa phương đã chuyển từ số hóa đơn lẻ sang tổ chức dịch vụ dựa trên nền tảng, dữ liệu và trải nghiệm người dùng.

Bài viết lựa chọn thành phố Kyoto (Nhật Bản) và thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) vì hai trường hợp thể hiện hai quan điểm cải cách bổ sung cho nhau. Kyoto là đô thị di sản, nơi chuyển đổi số phải giải quyết bài toán hành chính, du lịch, quá tải không gian và chất lượng sống của cư dân. Thượng Hải là siêu đô thị có quy mô dân số và hoạt động kinh tế lớn, đòi hỏi tích hợp liên cơ quan, liên kênh và xử lý khối lượng giao dịch cao. Hai địa phương thuộc hai quốc gia có thể chế chính trị – hành chính khác nhau và không tương đồng về quy mô dân số, phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, bài viết không coi hai trường hợp là “mẫu thể chế” để sao chép mà so sánh theo chức năng quản trị và rút ra các nguyên tắc có thể tham khảo cho chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam.
2. Cơ sở phân tích và phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng nghiên cứu trường hợp so sánh và phân tích tài liệu. Tài liệu chủ yếu gồm chính sách, báo cáo và cổng thông tin chính thức của Kyoto và Thượng Hải; tài liệu của OECD, Liên Hợp quốc; cùng các công trình học thuật có liên quan. Các trường hợp được xem xét theo năm chiều: (1) Định hướng chiến lược và mô hình quản trị; (2) Nền tảng số và dữ liệu; (3) Tái thiết kế quy trình và trải nghiệm người dùng; (4) Tích hợp các kênh cung ứng và tính bao trùm; (5) Kết quả, cơ chế cải tiến và các rủi ro cần kiểm soát. Cách tiếp cận này nhằm tách “công nghệ số được sử dụng” ra khỏi “năng lực quản trị được tạo ra”, qua đó, nhận diện yếu tố có khả năng chuyển giao về mặt chính sách.
3. Kinh nghiệm cung ứng dịch vụ số của Kyoto
(1) Từ số hóa thủ tục đến giải quyết các bài toán đặc thù của đô thị di sản

Thành phố Kyoto xác định chuyển đổi số theo hướng “không ai bị bỏ lại phía sau, thân thiện với con người”. Chính sách cơ bản thúc đẩy chuyển đổi số của Kyoto ban hành năm 2022 đặt yêu cầu toàn bộ cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức cùng tham gia; đồng thời, coi cảm nhận của người dân, doanh nghiệp và du khách về sự tiện lợi, an toàn, an tâm và chất lượng sống là thước đo quan trọng. Điểm đáng chú ý là Kyoto không khởi đầu bằng mục tiêu số hóa đồng loạt mọi thủ tục. Năm 2020, Thành phố cung ứng dịch vụ công trực tuyến 118 thủ tục trong tổng số 5.651 thủ tục. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ về số lượng, nhưng 118 thủ tục này phát sinh khoảng 4,31 triệu lượt hồ sơ mỗi năm trên tổng số 10,29 triệu lượt; số hồ sơ trực tuyến đạt khoảng 2,18 triệu, tương ứng tỷ lệ sử dụng trực tuyến 51%. Giai đoạn 2021 – 2024, số thủ tục được cung ứng trên môi trường số tăng từ 118 lên 363, đi kèm tái cấu trúc quy trình (City of Kyoto, 2024). Cách làm này phản ánh thứ tự ưu tiên theo tần suất sử dụng và tác động thực tế, thay vì chạy theo tỷ lệ số hóa hình thức.

Ở lớp điểm chạm với người dân và doanh nghiệp, Kyoto phát triển “quầy không viết”, đặt lịch trực tuyến, công bố tình trạng đông đúc tại điểm giao dịch, cấp một số giấy tờ tại cửa hàng tiện lợi và hướng dẫn thủ tục theo sự kiện đời sống. Những cải tiến này cho thấy, chuyển đổi số không đồng nghĩa xóa bỏ kênh trực tiếp, mục tiêu là làm cho mọi kênh dùng chung dữ liệu và quy trình, giảm viết tay, giảm chờ đợi và giảm số lần người dân phải tự kết nối giữa các cơ quan.
(2) Dữ liệu số phục vụ quản trị du lịch và hệ sinh thái đổi mới

Đặc thù của Kyoto là áp lực du lịch tập trung tại các khu vực di sản và sự xung đột tiềm tàng giữa nhu cầu của du khách với chất lượng sống của cư dân. Vì vậy, dữ liệu theo thời gian thực của Thành phố được sử dụng để cung cấp thông tin dự báo đông đúc, điều tiết hành vi và hỗ trợ lựa chọn tuyến và thời điểm tham quan. Kyoto Travel Congestion Forecast và Kyoto Smart Navi là hai ứng dụng tiêu biểu. Từ tháng 11/2024 – 3/2025, Kyoto Smart Navi ghi nhận 429.976 lượt xem; khảo sát người dùng cho thấy, khoảng 90% đánh giá bản đồ hữu ích trong việc tránh đông đúc (Kyoto National Road Office, 2025). Tuy nhiên, chỉ số sử dụng không chứng minh được mức giảm quá tải; hiệu quả cuối cùng vẫn cần được đo bằng biến đổi lưu lượng, hành vi và tác động đối với cư dân, hạ tầng di sản.

Kyoto cũng phát triển dữ liệu mở, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, đào tạo nhân lực số trong khu vực công và các hoạt động đổi mới sáng tạo mở. Chương trình phát triển nhân lực DX giai đoạn 2025 – 2029 cho thấy, Thành phố coi năng lực tổ chức và kỹ năng công vụ là điều kiện của chuyển đổi, không chỉ đầu tư vào phần mềm. Từ trường hợp thành phố Kyoto có thể rút ra một kinh nghiệm, đó là: chính quyền địa phương nên ưu tiên các “điểm đau” có giá trị công cao, số hóa có chọn lọc nhưng sâu và sử dụng dữ liệu số theo thời gian thực để xử lý các vấn đề đô thị cụ thể.
4. Kinh nghiệm cung ứng dịch vụ số của Thượng Hải
(1) Nền tảng thống nhất và tái thiết kế quy trình liên cơ quan.

Thành phố Thượng Hải phát triển mô hình Government Online-Offline Shanghai như một cửa ngõ thống nhất cho dịch vụ hành chính công, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và các tiện ích liên quan. Mô hình này gắn với các nguyên tắc “bốn thống nhất” về: định danh, dịch vụ khách hàng, thanh toán công và kho vận. Đồng thời, Thành phố cũng chuyển việc cung ứng dịch vụ số theo quan điểm từ “tìm cơ quan” sang “tìm chính quyền”, từ “người xử lý” sang “dữ liệu xử lý”, từ “người tìm dịch vụ” sang “dịch vụ tìm người”. Điểm cốt lõi với trường hợp triển khai cung ứng dịch vụ số của Thượng Hải không phải gom nhiều liên kết vào một cổng thông tin mà là tái thiết kế nghiệp vụ phía sau để người dùng tương tác với một hệ thống thống nhất và hướng đến cung ứng dịch vụ chủ động.

Theo mô hình “One Service”, các thủ tục hành chính thuộc nhiều cơ quan nhà nước được tổ chức lại quanh một việc, một sự kiện đời sống hoặc vòng đời doanh nghiệp. Dữ liệu sẵn có được chia sẻ, giấy tờ có thể kiểm tra qua mạng hoặc giấy phép điện tử thì không yêu cầu nộp lại. Nền tảng Suishenban là kênh di động quan trọng. Bên cạnh đó, “vòng dịch vụ 15 phút”, cửa sổ ảo và các điểm hỗ trợ trực tiếp giúp duy trì khả năng tiếp cận cho nhóm chưa thể tự thực hiện hoàn toàn trên môi trường số.
(2) Từ dịch vụ phản ứng sang dịch vụ chủ động, dựa trên dữ liệu

Một bước phát triển cao hơn của Thượng Hải là mô hình “miễn nộp đơn, đủ điều kiện thì hưởng”, trong đó chính quyền sử dụng dữ liệu để xác định đối tượng, đối chiếu điều kiện và chủ động cung cấp chính sách. Thành phố cũng triển khai tiền điền thông tin, hỗ trợ bằng AI và liên kết dịch vụ hành chính với nền tảng quản trị đô thị. Năm 2024, chương trình tối ưu hóa môi trường kinh doanh triển khai 150 biện pháp cải cách; khảo sát được chính quyền công bố ghi nhận mức hài lòng của doanh nghiệp 96%. Hệ thống hỗ trợ trực tuyến có người phục vụ xử lý khoảng 719.000 lượt với mức hài lòng 98,42%; cơ chế cam kết/thông báo được áp dụng cho khoảng 430.000 trường hợp và ước tính giảm khoảng 860.000 lượt đi xin giấy chứng nhận (Shanghai Municipal People’s Government, 2025). Từ năm 2026, Thượng Hải tiếp tục mở rộng dịch vụ một cửa, trợ lý thông minh và cơ chế chính sách chủ động tìm đến doanh nghiệp.

Mô hình Thượng Hải cho thấy, dữ liệu chỉ tạo ra giá trị khi được gắn với chuẩn hóa điều kiện, tái cấu trúc quy trình và trách nhiệm của cơ quan sở hữu dịch vụ. Đồng thời, việc chính quyền địa phương và doanh nghiệp cùng tham gia phát triển nền tảng cũng đặt ra yêu cầu về niềm tin, quyền riêng tư và kiểm soát dữ liệu. Nghiên cứu của Li & Kostka (2026) về các nền tảng chính quyền di động ở Trung Quốc cho thấy, sự tiện lợi và chất lượng dịch vụ thúc đẩy mức độ sử dụng, nhưng lo ngại về an toàn thông tin và quyền riêng tư vẫn ảnh hưởng đáng kể đến thái độ của người dùng. Vì vậy, quy mô tích hợp lớn không thể thay thế yêu cầu bảo đảm trách nhiệm giải trình và niềm tin số.
5. Bài học kinh nghiệm từ Kyoto và Thượng Hải

Thứ nhất, chuyển đổi số phải bắt đầu từ vấn đề cần giải quyết và giá trị công cần tạo ra. Kyoto ưu tiên thủ tục có tần suất sử dụng lớn và bài toán quá tải du lịch; Thượng Hải ưu tiên giảm phân mảnh trong một siêu đô thị có khối lượng giao dịch lớn. Điểm chung là không coi số lượng dịch vụ trực tuyến là mục tiêu cuối cùng.

Thứ hai, nền tảng số chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng tái thiết kế quy trình. Một cổng duy nhất nhưng quy trình phía sau vẫn chia cắt sẽ chỉ tạo ra “điểm chạm mặt tiền số”. Kyoto đơn giản hóa điểm tiếp xúc và giảm thao tác; Thượng Hải tổ chức lại dịch vụ theo “một việc”, xuyên qua ranh giới giữa các cơ quan nhà nước.

Thứ ba, dữ liệu là điều kiện để chuyển từ cung ứng phản ứng sang cung ứng chủ động. Tái sử dụng dữ liệu cho phép tiền điền thông tin, kiểm tra tự động, giảm nộp lại giấy tờ và xác định đối tượng đủ điều kiện hưởng chính sách. Đây cũng là nền tảng của nguyên tắc một lần khai báo nhưng phải đi kèm quản trị chất lượng, phân quyền, ghi vết và bảo vệ quyền riêng tư.

Thứ tư, lấy người dùng làm trung tâm không đồng nghĩa “chỉ trực tuyến”. Kyoto duy trì các điểm phục vụ được số hóa; Thượng Hải tích hợp trực tuyến – trực tiếp và hình thành vòng dịch vụ gần dân. Bao trùm số đòi hỏi nhiều kênh có cùng chuẩn dữ liệu, cùng trạng thái hồ sơ và cùng mức độ trách nhiệm.

Thứ năm, chính quyền địa phương cần đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái và cải tiến liên tục. Doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và cộng đồng có thể tham gia cung cấp công nghệ, dữ liệu hoặc dịch vụ, nhưng chính quyền phải giữ vai trò thiết lập tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng và bảo vệ lợi ích người dùng (Nguyễn Đình Quý & Nguyễn Thị Thu Hương, 2024; Nguyễn Đình Quý; Phan Tiến Ngọc & Nguyễn Diễm Hương, 2025).
6. Hàm ý chính sách cho chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam

Khung chính sách của Việt Nam đã thay đổi nhanh trong giai đoạn 2024 – 2026. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng đối với đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập nền tảng pháp lý mới cho tổ chức hoạt động nhà nước trên môi trường số; Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 của Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa cung cấp dịch vụ số và các hoạt động chuyển đổi số. Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Trên nền pháp lý khung mới này, có thể đề xuất một số hàm ý chính sách cho các chính quyền địa phương cấp tỉnh tại Việt Nam như sau:

Một là, mỗi tỉnh, thành phố cần xây dựng danh mục dịch vụ số ưu tiên theo giá trị công, thay cho cách đầu tư dàn đều. Tiêu chí ưu tiên bao gồm: tần suất sử dụng, mức chi phí tuân thủ, số cơ quan phải phối hợp, khả năng tái sử dụng dữ liệu và mức độ tác động đến các vấn đề đặc thù của địa phương. Bài học Kyoto cho thấy, số hóa ít nhưng đúng điểm nghẽn có thể tạo hiệu quả sử dụng cao hơn số hóa hình thức trên diện rộng.

Hai là, chính quyền địa phương cấp tỉnh cần tổ chức quản trị dịch vụ theo định hướng “một việc – một hành trình người dùng”, không theo ranh giới hành chính giữa các sở, ngành và địa phương. Chính quyền địa phương cấp tỉnh cần chỉ định cơ quan “chủ sở hữu dịch vụ”, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành và quy trình đầu-cuối; cấp xã là điểm tiếp xúc, hỗ trợ và phản hồi gần dân. Với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, việc phân định trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã phải đi cùng chuẩn hóa quy trình, nền tảng số và cơ chế giải trình. Các quy định mới về cơ chế một cửa và thủ tục hành chính điện tử tại Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 và Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 tạo cơ sở để tiếp tục tái cấu trúc theo hướng này.

Ba là, coi dữ liệu là tài sản chiến lược của dịch vụ số và triển khai thực chất nguyên tắc một lần khai báo. Luật Dữ liệu năm 2024, Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22/10/2025 về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc và Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ tạo hành lang để chính quyền địa phương chuyển từ “xin lại dữ liệu” sang “khai thác dữ liệu có thẩm quyền”. Các tỉnh, thành phố cần lập danh mục dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa siêu dữ liệu, xác định chủ dữ liệu, kiểm soát chất lượng và xây dựng cơ chế truy cập qua nền tảng tích hợp/API; chỉ khi dữ liệu đủ tin cậy mới nên mở rộng tiền điền và dịch vụ chủ động.

Bốn là, phát triển chính quyền như một nền tảng số, ưu tiên dùng chung trước khi đầu tư mới. Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nền tảng số dùng chung quốc gia đặt ra định hướng quan trọng để hạn chế đầu tư trùng lặp. Chính quyền địa phương cấp tỉnh cần tập trung vào kiến trúc, chuẩn liên thông, định danh, tích hợp dữ liệu, thanh toán, phản ánh – tương tác và các API dùng chung; các sở, ngành phát triển dịch vụ trên lớp nền đó thay vì tạo thêm ứng dụng biệt lập (Nguyễn Đình Quý, 2025b).

Năm là, thiết kế dịch vụ số theo sự kiện đời sống, vòng đời doanh nghiệp và duy trì hỗ trợ đa kênh. Người dân không có nhu cầu “đến đúng cơ quan” mà có nhu cầu hoàn thành một việc như sinh con, chuyển nơi cư trú, khởi nghiệp, xây dựng, tiếp cận an sinh. Vì vậy, quy trình cần được đóng gói theo hành trình, có tiền điền dữ liệu, một trạng thái theo dõi và một đầu mối hỗ trợ. Đồng thời, các tỉnh, thành phố không được loại bỏ kênh trực tiếp trước khi nhóm người cao tuổi, người khuyết tật, người có kỹ năng số thấp có khả năng tự sử dụng; các điểm một cửa và tổ hỗ trợ cộng đồng cần trở thành “kênh số có trợ giúp”.

Sáu là, mở nền tảng để hình thành hệ sinh thái dịch vụ công – tư nhưng phải giữ trách nhiệm công. Dữ liệu mở, API và tiêu chuẩn tích hợp có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ, trường đại học, bệnh viện, doanh nghiệp du lịch, vận tải, giáo dục và các tổ chức xã hội phát triển dịch vụ bổ sung (Nguyễn Đình Quý, 2021). Tuy nhiên, chính quyền địa phương cấp tỉnh phải xác định rõ tiêu chuẩn chất lượng, quyền truy cập, nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu, cơ chế xử lý sự cố và trách nhiệm của từng bên; không chuyển trách nhiệm công sang nhà cung cấp công nghệ số.

Bảy là, đổi mới hệ thống đo lường theo kết quả sử dụng và cải tiến liên tục. Các chỉ tiêu về tỷ lệ dịch vụ trực tuyến cần được bổ sung bằng tỷ lệ phát sinh thực tế, tỷ lệ hoàn thành đầu-cuối, thời gian và chi phí tiết kiệm, số lần dữ liệu được tái sử dụng, mức hài lòng, khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế, số sự cố và thời gian phục hồi. Mô hình Kyoto nhắc rằng lượt truy cập chưa đồng nghĩa hiệu quả chính sách; mô hình Thượng Hải cho thấy, quy mô tích hợp cần được kiểm chứng bằng trải nghiệm và niềm tin. Vì vậy, mỗi dịch vụ số phải được xem như một sản phẩm công cần đo lường, phản hồi và cải tiến trong toàn bộ vòng đời.
7. Kết luận

Kinh nghiệm Kyoto và Thượng Hải cho thấy, cung ứng dịch vụ số của chính quyền địa phương là một quá trình đổi mới quản trị hơn là triển khai một dự án công nghệ số. Trường hợp thành phố Kyoto của Nhật Bản minh họa cách tiếp cận có chọn lọc, xuất phát từ dịch vụ có nhu cầu cao và bài toán cụ thể của đô thị di sản. Đối với thành phố Thượng Hải của Trung Quốc minh họa năng lực tích hợp quy mô lớn, tái cấu trúc liên cơ quan, khai thác dữ liệu và chủ động cung ứng chính sách. Điểm gặp nhau của hai mô hình là nền tảng số dùng chung, dữ liệu có khả năng tái sử dụng, thiết kế lấy người dùng làm trung tâm, tích hợp đa kênh, huy động nhiều chủ thể và cải tiến liên tục.

Đối với chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam, ý nghĩa của kinh nghiệm quốc tế không nằm ở sao chép cấu trúc hay công nghệ cụ thể trong cung ứng dịch vụ số. Các chính quyền địa phương cấp tỉnh ở Việt Nam cần chuyển đổi việc cung ứng dịch vụ số theo định hướng quản trị như sau: ưu tiên chuyển đổi các dịch vụ tạo ra giá trị công lớn, tác động đến nhiều người dân và doanh nghiệp; tổ chức dịch vụ số theo hành trình; cung ứng dịch vụ số trên nền tảng dùng chung và dựa trên dữ liệu; phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan; bảo đảm bao trùm, an toàn và niềm tin số. Khung pháp luật và chiến lược mới của Việt Nam giai đoạn 2025 – 2026 đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hướng chuyển đổi này. Vấn đề trọng tâm trong giai đoạn tới là năng lực thực thi ở cấp địa phương và khả năng biến các quy định về dữ liệu, nền tảng và dịch vụ số thành trải nghiệm thực tế tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Brown, A.; Fishenden, J.; Thompson, M.; Venters, W. (2017). Appraising the impact and role of platform models and Government as a Platform (GaaP) in UK Government public service reform: towards a Platform Assessment Framework (PAF). Government Information Quarterly, 34(2), pp. 167-182, https://doi.org/10.1016/j.giq.2017
.03.003.
Chính phủ (2025). Nghị định số 278/2025/NĐ-CP ngày 22/10/2025 quy định về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
Chính phủ (2026). Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số.
Chính phủ (2026). Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
Chính phủ (2026). Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
City of Kyoto (2024). Administrative and Fiscal Reform: Implementation Results and Evaluation. Kyoto City.
Kyoto National Road Office (2025). Kyoto Tourism Digital Map (Kyoto Smart Navi): Usage Status and User Survey Results, Ministry of Land, Infrastructure, Transport and Tourism, Japan.
Li, H. & Kostka, G. (2026). Chinese citizens’ digital engagement with local mobile government platforms. Global Media and China, 11(1), pp. 3-23, https://doi.org/10.1177/20594364241265977.
Nguyễn Đình Quý (2021). Xây dựng và phát triển dữ liệu mở tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 308 (9/2021), tr. 113-116.
Nguyễn Đình Quý (2025a). Digital public service delivery oriented toward the government as a digital platform. Journal of State Management, 32(15), pp. 22-28, https://doi.org/10.59394/JSM.54.
Nguyễn Đình Quý (2025b). Cung ứng dịch vụ hành chính công số – Giải pháp xây dựng, phát triển chính quyền địa phương số. Tổ chức Nhà nước và Lao động, Kỳ 1, tháng 8/2025, tr. 30-33.
Nguyễn Đình Quý & Nguyễn Thị Thu Hương (2024). Cung ứng dịch vụ công kỹ thuật số tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 343 (8/2024), tr. 99-103, https://doi.org/10.59394/qlnn.343.2024.937.
Nguyễn Đình Quý, Phan Tiến Ngọc & Nguyễn Diễm Hương (2025). Digital transformation toward local government as the digital platform in public service delivery: The case study of Hue City. Proceedings of the International Scientific Conference “Local Governance in the Context of Digital Transformation: International Experience and Policy Implications for Vietnam”. Nxb Lý luận chính trị, tr. 437-444, ISBN 978-604-366-874-2.
OECD (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six Dimensions of a Digital Government. OECD Public Governance Policy Papers, No. 2, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/f64fed2a-en.
O’Reilly, T. (2010). Government as a Platform. Innovations: Technology, Governance, Globalization, 6(1), pp. 13-40.
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Shanghai Municipal People’s Government (2025). Shanghai’s Achievements in Optimizing Business Environment in 2024. Shanghai Government Portal.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 về việc ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
United Nations Department of Economic and Social Affairs (2024). United Nations E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development, United Nations. New York.