Building a digital culture to safeguard the ideological foundation of the Communist Party of Vietnam in cyberspace
TS. Thành Thu Trang
Học viện Chính trị Khu vực I
Email: thanhthutrangulsa@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong những năm qua, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, không gian mạng ngày càng được mở rộng và phát triển, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, cả ở những khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực. Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đã gia tăng các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Do đó, xây dựng “văn hóa mạng” được xác định là một trong những giải pháp đột phá góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
Từ khóa: Không gian mạng; bảo vệ nền tảng tư tưởng; văn hóa mạng.
Abstract: In recent years, driven by the Fourth Industrial Revolution, cyberspace has continued to expand and develop, impacting every aspect of social life both positively and negatively. Exploiting cyberspace, hostile forces have intensified their activities aimed at undermining the Party’s ideological foundation, employing increasingly sophisticated and dangerous tactics. Therefore, building a “cyber culture” has been identified as one of the breakthrough solutions to help strengthen the protection of the Party’s ideological foundation in cyberspace.
Keywords: Cyberspace; protecting the Party’s ideological foundation in cyberspace, cyber culture.
1. Không gian mạng – môi trường chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và sự cần thiết xây dựng văn hoá mạng ở Việt Nam hiện nay
Thời gian qua, không gian mạng đã trở thành “trận địa tư tưởng” bởi các thế lực thù địch, phản động chính trị ra sức lợi dụng mạng xã hội để gia tăng các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Âm mưu xuyên suốt và nhất quán của các thế lực thù địch, phản động là phủ nhận tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, cũng như hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đang xây dựng. Đáng chú ý, trong bối cảnh thực hiện các quyết sách chiến lược mang tính đột phá, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chống phá hòng làm lung lạc tư tưởng, làm mơ hồ nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; từ đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Trên không gian mạng, thủ đoạn của chúng được triển khai theo chiến dịch bài bản, kết hợp giữa công nghệ hiện đại và tâm lý chiến. Trước hết, đó là chiến thuật “thật giả lẫn lộn” – thủ đoạn dựa trên một sự việc có thật nhưng được cắt xén, nhào nặn và thêm thắt các chi tiết giả mạo. Việc đưa tin theo kiểu “9 thật 1 giả” khiến người tiếp nhận khó lòng phân biệt, dễ dàng tin vào những kết luận sai lệch được cài cắm tinh vi. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tấn công vào đời tư và uy tín lãnh đạo – thủ đoạn lợi dụng tính ẩn danh của Internet để xuyên tạc đời tư, bôi nhọ danh dự các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tạo ra hình ảnh tiêu cực, làm xói mòn lòng tin của quần chúng vào đội ngũ cán bộ chủ chốt. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lợi dụng các vấn đề xã hội “nóng” để kích động, như tham nhũng, môi trường, hay tranh chấp đất đai… để từ một vụ việc đơn lẻ, chúng quy kết thành “lỗi hệ thống”, kích động tâm lý bất mãn, xúi giục người dân tụ tập đông người, gây mất ổn định an ninh trật tự dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”.
Để tuyên truyền, lan tỏa các thông tin xấu độc trên không gian mạng, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng công nghệ cao (Deepfake, AI) để giả mạo giọng nói, hình ảnh lãnh đạo phát ngôn sai sự thật, hoặc lập ra hàng loạt “bot” tự động tán phát thông tin xấu độc với tần suất dày đặc, tạo ra một luồng dư luận ảo nhằm đánh lừa người dùng mạng. Thực tiễn cho thấy đã có không ít người dân bị các thông tin xấu độc chưa được kiểm chứng “dẫn dắt” trên không gian mạng.
Những năm qua, trong dòng chảy của kỷ nguyên thông tin, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia có độ phủ sóng Internet hàng đầu trong khu vực. Tuy nhiên, khi những rào cản về hạ tầng kỹ thuật dần được xóa bỏ, chúng ta lại đang đối mặt với một lỗ hổng lớn hơn và nguy hiểm hơn: lỗ hổng về văn hóa ứng xử trong không gian số. Do đó, việc xây dựng văn hóa mạng ngày càng trở nên cấp thiết và mang tính sống còn đối với sự ổn định xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Không gian mạng hiện đang dần thay đổi tính chất, không còn là “thế giới ảo” tách biệt để con người giải trí mà đã trở thành một hệ sinh thái gắn liền với mọi vấn đề của đời sống thực, từ kinh tế, chính trị đến tâm lý và tình cảm cá nhân. Khi một dòng trạng thái có thể phá hủy một sự nghiệp, một bình luận ác ý có thể tước đi một mạng sống văn hóa, mạng không còn là chuyện “phép lịch sự” mà đã trở thành vấn đề đạo đức và trách nhiệm pháp lý. Theo số liệu từ Digital 2025, Việt Nam có gần 80% dân số sử dụng Internet nên bất kỳ một sự lệch chuẩn văn hóa nào trên không gian mạng cũng có thể tạo ra “hiệu ứng domino”, tác động trực tiếp đến an ninh trật tự và đạo đức xã hội ngoài đời thực; nghiêm trọng hơn là tác động đến tình hình chính trị, tư tưởng của nhiều cá nhân, tổ chức.
Tình trạng “ô nhiễm môi trường số” cũng ngày càng phổ biến. Sự lên ngôi của văn hóa chửi bới, xúc phạm nhân phẩm và bạo lực ngôn từ đang dần bình thường hóa cái xấu trong mắt thế hệ trẻ. Khi những “giang hồ mạng” hay những nội dung phản cảm đạt hàng triệu lượt xem, điều đó đã tạo ra một hệ giá trị bị đảo lộn: người ta bất chấp liêm sỉ để đổi lấy sự nổi tiếng ảo. Nếu không có một nền tảng văn hóa mạng vững chắc để định hướng, sẽ vô tình để mặc cho các giá trị nhân văn của dân tộc bị xói mòn bởi những trào lưu độc hại, biến không gian mạng thành một vùng “vô chính phủ” về tư tưởng.
Xây dựng văn hóa mạng còn là yêu cầu tất yếu để bảo vệ quyền con người và sức khỏe tâm thần của cộng đồng. Sự phát triển của các thuật toán mạng xã hội đang vô tình tạo ra những “hố đen” thông tin và những luồng dư luận mang tính định kiến. Nếu thiếu đi phông văn hóa cần thiết, người dùng dễ trở thành nạn nhân hoặc hung thủ của nạn bắt nạt trên mạng. Việc thiết lập văn hóa mạng chính là thiết lập một “hệ miễn dịch” tinh thần, giúp mỗi cá nhân biết cách tự vệ trước những tấn công thông tin độc hại và các hành vi lệch chuẩn.
Trên bình diện quốc gia, tính cấp thiết của việc xây dựng văn hóa mạng còn nằm ở việc giữ gìn hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới. Không gian mạng không có biên giới; cách cư xử của một cá nhân có thể đại diện cho diện mạo của cả một dân tộc. Việt Nam đang hướng tới chuyển đổi số toàn diện, không thể chỉ chú trọng vào công nghệ mà bỏ quên phần “hồn” của nó. Văn hóa mạng chính là “quyền lực mềm”, là thước đo trình độ văn minh của một đất nước trong thời đại số.
Việc xây dựng văn hóa mạng cũng là yêu cầu tất yếu để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh xung đột văn hóa toàn cầu. Trên không gian mạng, sự giao thoa văn hóa diễn ra từng giây, từng phút. Nếu không có một bản sắc văn hóa mạng riêng biệt, dựa trên nền tảng lòng nhân ái, sự tôn trọng và tinh thần trách nhiệm của người Việt, chúng ta rất dễ bị đồng hóa và hòa tan vào những dòng chảy văn hóa xa lạ. Xây dựng văn hóa mạng thực chất là sự tiếp nối các giá trị truyền thống của dân tộc vào một hình thái mới, đảm bảo rằng dù ở môi trường nào, bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức của con người Việt Nam vẫn luôn tỏa sáng.
Văn hóa mạng không phải là một khẩu hiệu xa vời mà là tấm lá chắn bảo vệ con người trước những mặt trái của công nghệ. Sự cấp thiết của nó nằm ở việc giữ gìn những giá trị đạo đức đang bị đe dọa, bảo vệ tương lai của thế hệ trẻ và khẳng định nhân cách của mỗi con người trong thế giới phẳng. Xây dựng văn hóa mạng còn góp phần nâng cao khả năng “miễn dịch” trước các luồng thông tin xấu độc lan truyền trên không gian mạng.
2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng văn hóa mạng ở Việt Nam
Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW “về phát triển văn hóa Việt Nam” xác định: văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là nguồn lực nội sinh quan trọng, hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh của người Việt Nam. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã thiết lập một tầm nhìn chiến lược đột phá, khẳng định văn hóa là nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Trong kỷ nguyên số vươn mình của dân tộc, tinh thần của Nghị quyết chính là ngọn hải đăng định hướng cho việc xây dựng một văn hóa mạng lành mạnh, văn minh, biến không gian ảo thành môi trường nuôi dưỡng những giá trị chân – thiện – mỹ.
Bằng việc nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới, Nghị quyết đã đặt nền móng cho sự hình thành một “bộ lọc” tự nhiên trong tư duy của mỗi cư dân mạng. Khi những giá trị cốt lõi này thấm sâu vào nhận thức, chúng sẽ chuyển hóa thành “hệ miễn dịch” tự thân, giúp người dùng có đủ tỉnh táo để chủ động đào thải thông tin tiêu cực, tin giả, bạo lực ngôn từ và các trào lưu lệch chuẩn trên không gian số. Bên cạnh đó, Nghị quyết 80-NQ/TW cũng mở đường cho các ngành công nghiệp văn hóa và không gian sáng tạo số phát triển mạnh mẽ; trong đó, một môi trường mạng văn minh là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh Việt Nam hiện đại, có bản sắc và thân thiện với thế giới.
Xây dựng văn hóa mạng theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW không phải là việc hạn chế quyền tự do mà là kiến tạo một không gian an toàn, lành mạnh để mỗi cá nhân có thể phát triển toàn diện. Khi mỗi dòng trạng thái, mỗi bình luận hay mỗi lượt chia sẻ trực tuyến đều mang tinh thần trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc, không gian mạng sẽ thực sự trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới. Như vậy, theo Nghị quyết số 80-NQ/TW, xây dựng văn hóa mạng tại Việt Nam không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật hay quản lý thông tin mà còn là một nỗ lực kiến tạo hệ sinh thái nhân văn trên không gian số nhằm bảo vệ bản sắc dân tộc và thúc đẩy sức mạnh nội sinh của đất nước trong thời đại mới.
Kế thừa tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng cũng rất quan tâm đến việc xây dựng văn hóa mạng. Đại hội XIV đã nâng tầm tư duy chiến lược khi khẳng định văn hóa, con người không chỉ là mục tiêu mà còn là trụ cột cốt lõi cho sự phát triển bền vững; trong đó, việc quản lý, định hình và xây dựng văn hóa không gian mạng đã trở thành yêu cầu cấp bách, không thể tách rời khỏi tiến trình giữ gìn chủ quyền quốc gia.
Theo tinh thần của Văn kiện Đại hội XIV, không gian mạng được xác định là hệ sinh thái nối dài của đời sống thực, là nơi phản chiếu rõ nét nhất phong cách văn hóa và bản lĩnh tư tưởng của mỗi công dân. Việc phát triển mạnh mẽ các loại hình truyền thông, thông tin trên nền tảng số đòi hỏi một tư duy quản lý chuyển từ trạng thái thụ động ứng phó sang chủ động kiến tạo môi trường lành mạnh. Đảng xác định xây dựng văn hóa mạng thực chất là việc chuyển hóa hệ giá trị con người Việt Nam từ đời thực vào thế giới ảo, biến những chuẩn mực đạo đức truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần thượng tôn pháp luật, sự tử tế và tính trung thực thành dòng chủ lưu, làm hạt nhân định hướng cho hành vi của cư dân mạng. Từ góc nhìn chiến lược, văn hóa mạng chính là một “phòng tuyến mềm” bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa.
Đồng thời, quan điểm của Đại hội XIV cũng gắn liền văn hóa mạng với sự bứt phá của ngành công nghiệp văn hóa và ngoại giao số. Xây dựng môi trường mạng văn minh là bệ đỡ tiên quyết để Việt Nam có thể kiến tạo, phát triển và lan tỏa các sản phẩm văn hóa số đậm đà bản sắc dân tộc ra khu vực và thế giới, qua đó định vị hình ảnh một đất nước Việt Nam tự cường, đổi mới, hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo vệ giống nòi và tương lai của dân tộc (Bùi Hoài Sơn, 2025).
Quán triệt và cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng, ngày 05/3/2026, Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch ban hành “Bộ quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số”. Đây không chỉ là một giải pháp quản lý hành chính kịp thời mà còn mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, là nền tảng cốt lõi trong hành trình kiến tạo một nền văn hóa mạng Việt Nam văn minh, nhân văn và bền vững.
Bộ quy tắc ứng xử trên môi trường số mang ý nghĩa định hình và chuẩn hóa các hành vi đạo đức của con người trong thế giới ảo. Nhiều người thường lầm tưởng rằng không gian mạng là thế giới của sự “vô danh”, nơi họ có thể ẩn mình sau những tài khoản ảo để tự do phát ngôn, phán xét mà không phải chịu trách nhiệm. Sự ngộ nhận này đã dẫn đến những hành vi lệch chuẩn, đi ngược lại các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khi Bộ quy tắc ứng xử được định hình, đóng vai trò như một “tấm gương soi”, giúp mỗi cư dân mạng tự điều chỉnh hành vi của mình. Những giá trị cốt lõi như lòng nhân ái, sự tôn trọng, tính trung thực và tinh thần trách nhiệm vốn là nền tảng của văn hóa Việt Nam ngoài đời thực, được cụ thể hóa thành các tiêu chí ứng xử trong không gian số. Bộ quy tắc giúp người dùng hiểu rõ ranh giới mong manh giữa tự do ngôn luận và sự xúc phạm danh dự người khác, giữa phản biện xã hội lành mạnh và hành vi lan truyền thông tin độc hại, kích động thù hận. Nhờ đó, một hệ thống chuẩn mực đạo đức mới được thiết lập, giúp không gian mạng giữ được sự trong sạch và tính nhân văn vốn có.
“Bộ quy tắc ứng xử mạng” đã xác lập các nội dung của văn hóa mạng dưới 3 góc độ. Đối với cá nhân, việc đánh thức trách nhiệm số giúp người dùng tự ý thức về hậu quả của từng lượt “like”, “share” và bình luận; đồng thời, hình thành thói quen kiểm chứng thông tin trước khi tiếp nhận. Đối với cộng đồng, cần xây dựng mạng lưới an toàn để bảo vệ các nhóm đối tượng yếu thế (trẻ em, thanh thiếu niên) trước nạn bạo lực mạng, ngôn từ thù ghét và các xu hướng độc hại. Đối với quốc gia, bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng, định vị hình ảnh một đất nước Việt Nam văn minh, thân thiện và phát triển tích cực trong mắt bạn bè quốc tế.
Bên cạnh chức năng định hình chuẩn mực, Bộ quy tắc ứng xử còn là “lá chắn” bảo vệ an toàn cho cộng đồng và nâng cao năng lực “đề kháng số” của người dân. Trong môi trường số, thông tin tiêu cực, giật gân thường có xu hướng lan truyền nhanh gấp nhiều lần so với thông tin tích cực. Một lời bình luận ác ý, một chiến dịch “tẩy chay” vô căn cứ có thể hủy hoại danh dự, sự nghiệp, thậm chí tước đi mạng sống của một con người trong thế giới thực. Bộ quy tắc ứng xử xuất hiện như một lời cảnh tỉnh, một bộ lọc tự nhiên hướng người dùng đến việc “gạn đục khơi trong”. Nó khuyến khích việc lan tỏa các thông tin tích cực, những câu chuyện nhân văn theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Khi mỗi cá nhân được trang bị năng lực tự đề kháng, họ sẽ không còn là những nạn nhân thụ động của thuật toán hay tin giả mà trở thành những màng lọc thông minh, biết từ chối tiếp cận và phát tán các nội dung độc hại, góp phần giảm thiểu vấn nạn bạo lực ngôn từ và ô nhiễm thông tin trên mạng xã hội.
Đặc biệt, Bộ quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số có ý nghĩa quyết định đối với việc định hình nhân cách và tư duy số của thế hệ trẻ – những “công dân số” tương lai của đất nước. Học sinh, sinh viên hiện nay là thế hệ sinh ra và lớn lên cùng công nghệ, dành phần lớn thời gian tương tác trên môi trường mạng. Nếu không có một hệ thống hướng dẫn hành vi cụ thể, các em rất dễ bị dẫn dắt bởi các trào lưu lệch lạc, các nội dung “rác” trên mạng xã hội, từ đó hình thành lối sống thực dụng, bạo lực hoặc thờ ơ trước nỗi đau của người khác. Bộ quy tắc ứng xử đóng vai trò như một giáo trình giáo dục kỹ năng số mềm mại nhưng sâu sắc, định hướng cho thế hệ trẻ cách sử dụng Internet một cách thông minh, có trách nhiệm và văn minh, dạy cách tôn trọng sự khác biệt, biết cách bảo vệ quyền riêng tư của bản thân và người khác và biết cách sử dụng công nghệ để phục vụ cho việc học tập và cống hiến, thay vì sa đà vào những cuộc tranh cãi vô ích trên mạng.
“Bộ quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số” không phải là một chiếc vòng kim cô kìm hãm sự tự do mà là bệ đỡ, là hành lang an toàn để quyền tự do cá nhân được thực thi một cách đúng đắn và nhân văn nhất. Xây dựng văn hóa mạng ở Việt Nam là một cuộc hành trình dài hạn, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội, từ sự nghiêm minh của pháp luật, sự định hướng của nhà trường, gia đình cho đến nỗ lực tự rèn luyện của mỗi cá nhân. Mỗi dòng trạng thái được viết, mỗi bình luận để lại, mỗi nút bấm đều là một viên gạch góp phần xây dựng nên diện mạo văn hóa của quốc gia trên không gian số.
Như vậy, hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng văn hóa mạng tại Việt Nam phản ánh một tầm nhìn chiến lược, chủ động và mang tính thời đại sâu sắc. Không gian mạng không còn đơn thuần là môi trường kỹ thuật số mà đã được định vị rõ ràng là một bộ phận cấu thành hữu cơ của không gian văn hóa quốc gia, nơi diễn ra cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ gìn bản sắc dân tộc.
Sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy “quản lý, thắt chặt” sang “định hướng, kiến tạo” thông qua các văn bản pháp lý đã minh chứng cho một phương thức tiếp cận văn minh, nhân văn. Chính sách hiện tại không chỉ xây dựng những “hàng rào kỹ thuật” và pháp lý để răn đe, loại bỏ các hành vi lệch chuẩn, tin giả hay văn hóa độc hại mà quan trọng hơn, còn khơi dậy sức mạnh nội sinh của cộng đồng thông qua phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Việc khuyến khích mỗi công dân trở thành một đại sứ văn hóa trong không gian ảo chính là chìa khóa để xây dựng một môi trường mạng bền vững.
Dù thực tiễn vẫn còn những khoảng trống pháp lý trước tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ và các nền tảng xuyên biên giới, nhưng có thể khẳng định các chủ trương hiện nay là hoàn toàn đúng đắn và kịp thời. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, sự thành công của các chính sách này sẽ không chỉ phụ thuộc vào chế tài xử phạt của cơ quan quản lý mà còn nằm ở khả năng hợp tác giữa Nhà nước, nhà phát triển nền tảng và ý thức tự giác của từng người dùng. Xây dựng một không gian mạng lành mạnh, an toàn và đậm đà tính nhân văn chính là nền tảng vững chắc để Việt Nam tự tin hội nhập và phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.
3. Giải pháp xây dựng “văn hóa mạng” góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trước sức ép của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, không gian mạng đã không còn là một khái niệm trừu tượng hay thế giới ảo bên lề, mà đã trở thành vùng “lãnh thổ thứ năm”, một thực thể hữu cơ gắn kết chặt chẽ với an ninh quốc gia và sự ổn định của hệ tư tưởng. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết, mang tính đột phá chiến lược: xây dựng văn hóa mạng lành mạnh để tạo lập “thế trận lòng dân” trên không gian số, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây không chỉ là một nhiệm vụ cấp bách để ứng phó với các thách thức nhất thời, mà còn là một cuộc kiến tạo văn hóa sâu rộng, đòi hỏi sự chuyển đổi từ tư duy quản lý hành chính đơn thuần sang quản trị kiến tạo, đồng thời phát huy ý thức tự giác của toàn xã hội.
Một là, hoàn thiện thể chế văn hóa số ở Việt Nam. Thể chế không chỉ là những quy định khô khan mà còn phải là một bộ khung giá trị, định hình hành vi và bảo vệ lợi ích của con người trong môi trường mạng. Cần luật hóa các chuẩn mực văn hóa mạng, không để tồn tại những khoảng trống pháp lý trước các hiện tượng mới như trí tuệ nhân tạo (AI) hay thực tế ảo. Việc xác lập chủ quyền văn hóa số cần được coi là một nội hàm cốt lõi của an ninh mạng. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải rà soát, bổ sung Luật An ninh mạng và các nghị định liên quan để có những chế tài đủ mạnh, minh bạch, nhằm xử lý nghiêm các hành vi nhục mạ, bạo lực ngôn từ và tin giả, vốn là những “độc tố” đang làm vẩn đục môi trường tinh thần của nhân dân. Thể chế mới phải thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của các doanh nghiệp cung cấp nền tảng, buộc họ tuân thủ các giá trị đạo đức và thuần phong mỹ tục của Việt Nam, thay vì chỉ chạy theo lợi nhuận thuần túy.
Hai là, đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý mạng xã hội theo hướng hiện đại. Cần thay đổi tư duy từ “tiền kiểm” vốn đã lạc hậu sang cơ chế “hậu kiểm” gắn liền với quản trị kỹ thuật số thông minh. Nhà nước cần xây dựng những “màng lọc tinh vi” thông qua việc ứng dụng công nghệ Big Data và AI để nhận diện, cảnh báo sớm các trào lưu văn hóa lệch chuẩn hoặc các luồng thông tin xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, quản lý không có nghĩa là kìm hãm, mà phải là kiến tạo. Các chính sách ưu tiên phát triển nội dung “sạch” cần được thực thi mạnh mẽ thông qua các ưu đãi về thuế, phí và tài nguyên số dành cho các nền tảng nội địa hoặc các kênh truyền thông chính thống. Việc thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ với các tập đoàn công nghệ xuyên biên giới, như: Meta, TikTok, Google là điều bắt buộc để tạo ra một không gian sinh tồn số công bằng, nơi các giá trị văn hóa bản địa được bảo vệ và tôn trọng, đồng thời ngăn chặn kịp thời sự xâm lăng văn hóa từ các yếu tố ngoại lai độc hại.
Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục văn hóa mạng cho các tầng lớp nhân dân. Giáo dục văn hóa mạng phải được xác định là một bộ phận của giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện. Cần đưa nội dung năng lực số và đạo đức số vào chương trình chính khóa của các cấp học, giúp thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – không chỉ thành thạo về kỹ năng công nghệ mà còn có bản lĩnh để nhận diện đúng sai, có sự thấu cảm để hành xử văn minh và có tư duy phản biện trước những cạm bẫy của thông tin xấu độc. Tuyên truyền phải đổi mới theo hướng “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, không chỉ dùng các văn bản hành chính mà còn phải sử dụng các phương thức hiện đại trên không gian mạng như video ngắn, đồ họa tương tác, podcast để lan tỏa những câu chuyện tử tế, những giá trị nhân văn. Đặc biệt, cần phát huy tối đa vai trò của các nghệ sĩ, trí thức và những người có ảnh hưởng (KOLs) chính thống để họ trở thành những hạt nhân định hướng thẩm mỹ và tư tưởng, biến mỗi dòng trạng thái tích cực thành một viên gạch xây dựng thành trì văn hóa số.
Bốn là, phát huy ý thức và trách nhiệm của cộng đồng mạng. Sức mạnh của không gian mạng nằm ở sự kết nối và lan tỏa; do đó, việc xây dựng “hệ miễn dịch cộng đồng” là yếu tố then chốt. Mỗi người dùng Internet cần được trang bị ý thức rằng hành vi của họ trên mạng không phải là vô danh và vô hại mà là sự phản chiếu nhân cách thực sự và có tác động trực tiếp đến cộng đồng. Cần khuyến khích sự hình thành của các nhóm tự quản, các diễn đàn tranh luận văn minh, nơi cái đúng được bảo vệ và cái sai bị đào thải bởi chính áp lực tích cực của số đông. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng là yêu cầu tối thượng; mỗi đảng viên phải là một chiến sĩ văn hóa, biết sử dụng mạng xã hội như một công cụ để bảo vệ lẽ phải, đấu tranh với những quan điểm thù địch một cách khoa học và thuyết phục. Khi mỗi cá nhân biết thượng tôn pháp luật và hành xử bằng lòng tự trọng, văn hóa mạng sẽ tự nhiên trở thành bộ điều tiết mềm cho sự phát triển xã hội.
4. Kết luận
Xây dựng văn hóa mạng không phải là công việc của riêng một ngành hay một tổ chức, mà là sự nghiệp chung của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Đây là giải pháp đột phá để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ gốc, từ nhận thức và tình cảm của Nhân dân. Trong kỷ nguyên mới, khi sức mạnh của một dân tộc không chỉ được đo bằng vũ khí hay kinh tế mà còn ở bản lĩnh văn hóa và chủ quyền số, thì việc kiến tạo một môi trường mạng nhân văn, đậm đà bản sắc Việt chính là con đường ngắn nhất để đưa đất nước vươn mình, khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Thông tin và Truyền thông (17/12/2022). Giải pháp phát triển văn hóa, hành vi ứng xử trên mạng xã hội tại Việt Nam. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn/giai-phap-phat-trien-van-hoa-hanh-vi-ung-xu-tren-mang-xa-hoi-tai-viet-nam-post730324.html
Nguyễn Duy Hạnh, Đinh Thị Thu Nga (2026). Văn hóa mạng ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp quản lý. Tạp chí Lý luận Chính trị, tháng 6/2026.
Bùi Hoài Sơn (2025). Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Văn hóa và Phát triển, số 4 (tháng 12/2025), tr.14.
Nguyễn Bá Thanh (2018). Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên không gian mạng ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/972902/xay-dung-moi-truong-van-hoa-lanh-manh-tren-khong-gian-mang–o-nuoc-ta-hien-nay.aspx
Nguyễn Văn Tỵ (2024). Xây dựng văn hóa ứng xử trên mạng xã hội. Tạp chí Lý luận Chính trị, số 3/2024.



