Pioneering thinking: 40 years of reform in Vietnam
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
E-mail: ngochoaajc1005@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – 40 năm trước, Đổi mới bắt đầu từ một đòi hỏi có tính sống còn: phải nhìn đúng thực trạng của đất nước, thay đổi cách nghĩ và giải phóng sức sản xuất. 40 năm sau, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế thiếu thốn, khép kín thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng và có vị thế ngày càng quan trọng. Nhưng giá trị sâu xa nhất của chặng đường ấy không chỉ nằm ở những con số tăng trưởng. Đó là bản lĩnh tự nhận thức, tự điều chỉnh và không ngừng đổi mới vì lợi ích của Nhân dân.
Từ khóa: Việt Nam; 40 năm đổi mới; tư duy mở đường; con đường phát triển.
Abstract: Forty years ago, the Doi Moi reform began with a vital imperative: to accurately assess the country’s reality, change the way of thinking, and unleash productive forces. Forty years later, Vietnam has transformed from a resource-scarce, closed economy into a high-middle-income country that is deeply integrated into the global economy and holds an increasingly important position. But the deepest value of that journey lies not only in the growth figures. It is the resilience to self-reflect, self-adjust, and continuously innovate for the benefit of the people.
Keywords: Vietnam; 40 years of Doi Moi; pioneering thinking; path to development.
1. Bước ngoặt bắt đầu từ việc nhìn đúng sự thật
Cuối năm 1986, đất nước đứng trước những thử thách đặc biệt nghiêm trọng. Sản xuất trì trệ, hàng hóa khan hiếm, cơ chế phân phối bao cấp làm suy giảm động lực lao động; thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 125-200 USD mỗi năm và lạm phát tháng 12/1986 lên tới 774,7%. Những khó khăn do hậu quả chiến tranh, bao vây, cấm vận rất nặng nề, nhưng nguyên nhân chủ quan cũng được nhận diện: tư duy duy ý chí, cơ chế quản lý tập trung quan liêu và những sai lầm kéo dài trong hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).
Trong hoàn cảnh ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng không né tránh khuyết điểm, không dùng thành tích để che lấp khó khăn. Báo cáo chính trị xác định rõ thái độ đánh giá tình hình là: “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 12/1986). Quan điểm định hướng ngắn gọn ấy trở thành điểm khởi đầu về phương pháp: muốn thay đổi hiện thực, trước hết phải nhận thức đúng hiện thực; muốn kiến tạo tương lai, phải đủ dũng khí sửa những điều không còn phù hợp.
Đổi mới vì thế không phải là một sự đoạn tuyệt với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà là quá trình tìm ra phương thức phù hợp hơn để hiện thực hóa mục tiêu đó trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Từ chỗ tuyệt đối hóa một mô hình quản lý, tư duy phát triển từng bước chuyển sang tôn trọng quy luật khách quan; từ đồng nhất chủ nghĩa xã hội với cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và sau này được hoàn thiện thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Điều đáng chú ý là đường lối đổi mới không hình thành trong phòng làm việc khép kín. Trước Đại hội VI của Đảng đã có những tìm tòi, khảo nghiệm, những cách làm “phá rào” từ cơ sở trong nông nghiệp, công nghiệp và lưu thông phân phối. Trung ương lắng nghe thực tiễn, tổng kết những nhân tố mới, từ đó nâng thành chủ trương chung. Mối quan hệ hai chiều giữa lý luận và thực tiễn – thực tiễn kiểm nghiệm chính sách, chính sách mở đường cho thực tiễn – trở thành một đặc trưng của tiến trình đổi mới.
2. Khi sức dân được giải phóng
Một trong những minh chứng sớm và thuyết phục nhất là sự đổi mới trong quản lý nông nghiệp. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, mở rộng quyền chủ động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của nông dân. Chính sách ấy không tạo thêm đất đai, không làm xuất hiện ngay máy móc hiện đại, nhưng thay đổi quan hệ giữa người lao động với tư liệu sản xuất và thành quả lao động. Khi lợi ích gắn với trách nhiệm, tiềm năng vốn bị kìm nén được chuyển hóa thành năng suất, sản lượng và niềm tin.
Kết quả đến rất nhanh và có sức thuyết phục hơn mọi lập luận. Năm 1988 Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 199,5 nghìn tấn lương thực; năm 1989 đã xuất khẩu khoảng 1,42 triệu tấn gạo (Báo Nhân Dân, ngày 02/3/2006). Từ chỗ thường xuyên thiếu lương thực, Việt Nam vươn lên bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu. Phía sau bước chuyển ấy là một chân lý giản dị: người dân không thiếu năng lực sáng tạo; vấn đề là thể chế có công nhận, bảo đảm và khuyến khích quyền chủ động chính đáng của họ hay không.
Từ nông nghiệp, tinh thần giải phóng sức sản xuất lan rộng sang công nghiệp, thương mại, dịch vụ và hoạt động đối ngoại. Việc thừa nhận lâu dài nền kinh tế nhiều thành phần, từng bước bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cải cách doanh nghiệp nhà nước, hình thành các loại thị trường và mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho hàng triệu người dân làm kinh tế. Kinh tế tư nhân từ chỗ bị nhìn nhận dè dặt đã dần được khẳng định là một động lực quan trọng; đến năm 2025 có khoảng 940.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh, đóng góp khoảng 51% GDP (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).
Thành quả kinh tế phản ánh quy mô của sự chuyển đổi. Theo Cục Thống kê, GDP năm 2025 tăng 8,02%; quy mô nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (Cục Thống kê, 05/01/2026). Đặt cạnh điểm xuất phát năm 1986, các con số ấy cho thấy, một sự thay đổi căn bản về năng lực sản xuất và mức sống. Tuy nhiên, ý nghĩa của Đổi mới không chỉ là tạo ra nhiều của cải hơn mà còn là tạo lập một cơ chế để sáng kiến cá nhân, lợi ích chính đáng và trách nhiệm xã hội có thể gặp nhau trong phát triển.
3. Từ thế bị bao vây đến vị thế của một đối tác tin cậy
Đổi mới tư duy kinh tế mở đường cho đổi mới tư duy đối ngoại. Việt Nam từng bước chuyển từ thế bị bao vây, cấm vận sang đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; từ mở cửa kinh tế đến chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện. Gia nhập ASEAN năm 1995 và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới ngày 11/01/2007 là hai dấu mốc tiêu biểu, đưa cải cách trong nước gắn chặt hơn với các chuẩn mực và không gian phát triển toàn cầu (WTO News, 11/01/2007).
Đến tháng 10/2024, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 quốc gia, đối tác lớn. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới cũng ghi nhận Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, có khuôn khổ đối tác chiến lược hoặc đối tác toàn diện với 38 quốc gia (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Từ một quốc gia cần phá thế cô lập, Việt Nam đã trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, tham gia ngày càng chủ động vào các cơ chế khu vực và toàn cầu.
Hội nhập không chỉ mang lại thị trường, vốn đầu tư và công nghệ. Quan trọng hơn, sức ép cạnh tranh và cam kết quốc tế đã trở thành động lực cải cách thể chế trong nước. Mỗi hiệp định thương mại thế hệ mới vừa mở thêm cánh cửa cho hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị, chất lượng lao động, bảo vệ môi trường, minh bạch và thượng tôn pháp luật. Nội lực quyết định khả năng tận dụng ngoại lực; hội nhập hiệu quả lại bồi đắp nội lực. Đó là mối quan hệ biện chứng được hình thành ngày càng rõ qua thực tiễn đổi mới.
4. Việt Nam phát triển không chỉ được đo bằng GDP
Nếu chỉ nhìn vào tăng trưởng kinh tế, bức tranh 40 năm sẽ chưa đầy đủ. Đổi mới đã làm thay đổi cách tiếp cận về phát triển: con người không chỉ là nguồn lực đầu vào, mà là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Từ năm 1990 – 2023 Chỉ số phát triển con người của Việt Nam tăng từ 0,499 lên 0,766, tương đương mức tăng 53,5%; Việt Nam đứng thứ 93 trong 193 quốc gia và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm phát triển con người cao (UNDP, 2025).
Tuổi thọ trung bình đạt 74,5 tuổi vào năm 2024. Việt Nam hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học năm 2000, phổ cập trung học cơ sở năm 2010 và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi năm 2017 (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Hệ thống an sinh xã hội ngày càng mở rộng; khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin và các dịch vụ cơ bản được cải thiện. Những kết quả ấy cho thấy tăng trưởng chỉ có ý nghĩa bền vững khi chuyển hóa thành cơ hội phát triển, chất lượng sống và phẩm giá của con người.
Đổi mới cũng gắn liền với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đánh dấu những bước phát triển quan trọng trong nhận thức và thiết kế thể chế về quyền lực nhà nước, quyền con người, quyền công dân, nền kinh tế và quyền làm chủ của Nhân dân. Hệ thống pháp luật từng bước được xây dựng đồng bộ hơn, tạo khuôn khổ cho quản lý xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh và thực hiện các cam kết hội nhập.
Dẫu vậy, nhìn nhận thành tựu một cách khoa học đòi hỏi không tuyệt đối hóa các con số bình quân. Chênh lệch vùng miền, bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận dịch vụ chất lượng, nguy cơ tái nghèo, ô nhiễm môi trường, chất lượng nguồn nhân lực và sức chống chịu của nền kinh tế vẫn là những vấn đề hiện hữu. Chính việc thẳng thắn nhận diện giới hạn của thành tựu mới phù hợp với tinh thần đã mở đầu Đổi mới: sự thật không làm suy giảm niềm tin; sự thật giúp xác định đúng việc phải làm để củng cố niềm tin bằng kết quả.
5. Việt Nam Đổi mới
Qua 40 năm, Việt Nam đã tích lũy được cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới đối tác và vị thế quốc tế chưa từng có. Nhưng những nguồn lực hữu hình ấy có thể bị bào mòn nếu tư duy trì trệ. Tài sản chiến lược bền vững hơn là năng lực phát hiện vấn đề, điều chỉnh chính sách và tổ chức hành động trước những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn. Nói cách khác, thành tựu quan trọng của Đổi mới là hình thành năng lực tiếp tục đổi mới.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khái quát những bài học có giá trị định hướng lâu dài: kiên định mục tiêu nhưng vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng; quán triệt quan điểm “Dân là gốc”; bám sát thực tiễn, phản ứng chính sách chủ động, linh hoạt; không ngừng đổi mới tư duy và tôn trọng quy luật khách quan (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Các bài học này liên kết thành một chỉnh thể: kiên định tạo phương hướng, đổi mới tạo phương thức, thực tiễn cung cấp căn cứ, còn Nhân dân tạo nên sức mạnh và là thước đo của kết quả.
Tinh thần ấy đang được chuyển hóa thành những quyết sách mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân tạo thành những trụ cột có quan hệ chặt chẽ: mở rộng không gian phát triển, đổi mới động lực tăng trưởng, khơi thông nguồn lực xã hội và xây dựng thể chế đủ sức dẫn dắt phát triển.
Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Ngay sau Đại hội, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV) đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Điều đó cho thấy, tổng kết 40 năm không khép lại một hành trình mà mở ra một chu kỳ cải cách mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng, tốc độ và hiệu quả thực thi.
Ngân hàng Thế giới (WB, 2024) nhận định thành công trước đây của Việt Nam được xây dựng từ những cải cách mạnh mẽ, nhưng mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào xuất khẩu và lao động kỹ năng thấp sẽ không đủ để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045. Việt Nam cần tiếp tục cải cách cơ cấu và dịch chuyển lên những khâu có giá trị gia tăng cao hơn. Nhận định này càng làm rõ một yêu cầu: không thể dùng nguyên vẹn công thức của ngày hôm qua để giải quyết bài toán của ngày mai. Với 40 năm Đổi mới mở đường bằng việc trả lại động lực cho người lao động, quyền chủ động cho cơ sở và sức sống cho nền kinh tế. Hôm nay, tư duy mở đường phải được thể hiện ở khả năng khơi thông dữ liệu, tri thức, công nghệ, nguồn lực doanh nghiệp và tài năng con người; ở một nền quản trị minh bạch, trách nhiệm, gần dân và có năng lực kiến tạo; ở việc kết hợp tăng trưởng nhanh với tiến bộ xã hội, bản sắc văn hóa và môi trường bền vững.
Nhìn lại 40 năm Đổi mới, có thể khẳng định: Việt Nam mới được làm nên không chỉ bởi những quyết sách đúng, mà còn bởi hàng triệu con người đã biến cơ hội thành hành động – người nông dân làm chủ ruộng đồng, người công nhân làm chủ kỹ năng, doanh nhân dấn thân mở thị trường, nhà khoa học bền bỉ sáng tạo, cán bộ dám chịu trách nhiệm và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài hướng về Tổ quốc. Khi đường lối hợp quy luật, thể chế bảo vệ sáng tạo và lợi ích của Nhân dân trở thành đích đến, sức dân sẽ tạo nên sức mạnh phát triển.
Tài liệu tham khảo:
ASEAN Secretariat. Vietnam in ASEAN: Toward Cooperation for Mutual Benefits.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Báo Nhân Dân (24/4/2006). Việt Nam là một nước hàng đầu về xuất khẩu gạo”. https://nhandan.vn/viet-nam-la-mot-nuoc-hang-dau-ve-xuat-khau-gao-post480956.html
Báo Nhân Dân (08/6/2020). “Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”. https://dcs.nhandan.vn/huong-toi-ky-niem-90-nam-ngay-truyen-thong-nganh-tuyen-giao/thong-tin-tu-lieu/nghi-quyet-10-nq-tw-nam-1988-ve-doi-moi-quan-ly-kinh-te-nong-nghiep-556557.html
Bộ Chính trị (1988). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025c). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 06/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Cục Thống kê (05/01/2026). “Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025”. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
Đảng Cộng sản Việt Nam (1986). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tháng 12/1986.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thông qua ngày 23/1/2026.
Quốc hội (1992). Hiến pháp năm 1992.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
UNDP (2025). Human Development Report 2025: A Matter of Choice – People and Possibilities in the Age of AI, New York.
UNDP Việt Nam (2025). Việt Nam duy trì mức phát triển con người. https://www.undp.org/vi/vietnam/press-releases/viet-nam-duy-tri-muc-phat-trien-con-nguoi-cao-bao-cao-cua-undp.
World Bank (WB, 2024). Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World, Washington, D.C.
World Trade Organization – WTO (2007). “Viet Nam joins WTO with Director-General’s tribute for true grit”.



