Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Promoting the leading role of the state economy in Vietnam in the new era

TS. Hoàng Thị Ngân
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
Email: nganhoang.0206@gmail.com

ThS. Bạch Ngọc Dung
Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: bndung.ftu@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, định hướng, điều tiết nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, cùng với yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm phát huy vai trò dẫn dắt đối với toàn bộ nền kinh tế. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; phân tích thực trạng phát huy vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam; đánh giá những yêu cầu mới đặt ra trong bối cảnh phát triển hiện nay; từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực dẫn dắt của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Từ khóa: Kinh tế nhà nước; vai trò chủ đạo; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chuyển đổi số; Việt Nam; kỷ nguyên mới.

Abstract: In Vietnam’s socialist-oriented market economy, the state economy plays a leading role in guiding and regulating the economy, ensuring macroeconomic stability, maintaining major balances, and pursuing sustainable development goals. As the country enters a new era of development, alongside the need to improve modern market economic institutions, foster innovation and digital transformation, develop the private sector, and deepen international integration, continued reform, restructuring, and improvement of the efficiency of the state economy have become an urgent imperative to enhance its capacity to lead the entire economy. This article clarifies the theoretical foundations of the state economy’s leading role, analyzes the current situation of promoting the role of the state economy in Vietnam, assesses the new requirements arising from the current development context, and proposes orientations and solutions to enhance the efficiency, competitiveness, and leadership capacity of the state economy in this new phase of development.

Keywords: State economy; leading role; socialist-oriented market economy; digital transformation; Vietnam; new era.

1. Đặt vấn đề

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 128). Quan điểm này được cụ thể hóa qua Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Cùng với đó, các chủ trương, nghị quyết của Đảng về hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy vai trò của các thành phần kinh tế trong giai đoạn phát triển mới tiếp tục khẳng định vị trí then chốt của kinh tế nhà nước.

Sau 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, phát triển kết cấu hạ tầng, cung ứng dịch vụ công thiết yếu và giữ vai trò nòng cốt trong những lĩnh vực then chốt liên quan đến quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 128). Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; chất lượng quản trị, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; tiến độ cơ cấu lại, cổ phần hóa và xử lý các dự án đầu tư kém hiệu quả còn chậm, làm giảm hiệu quả phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước.

Bối cảnh phát triển mới đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với kinh tế nhà nước. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra nhiều thách thức đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và đặc biệt là Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đòi hỏi khu vực kinh tế nhà nước phải tiếp tục được cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát huy tốt hơn vai trò kiến tạo, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.

Bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân tích thực trạng phát huy vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam; đánh giá những yêu cầu mới đặt ra trong bối cảnh phát triển hiện nay; từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 240).

2. Cơ sở lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay

2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của kinh tế nhà nước

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước từng bước được bổ sung và hoàn thiện, phù hợp với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội VIII của Đảng xác định phát triển kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, qua đó, tạo cơ sở vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng phát triển, điều tiết vĩ mô và bảo đảm các mục tiêu kinh tế – xã hội.

Qua các kỳ Đại hội IX, X và XI, quan điểm này tiếp tục được phát triển theo hướng nhấn mạnh kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế; đồng thời, là một trong những công cụ để Nhà nước thực hiện điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt. Vai trò của kinh tế nhà nước được đặt trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác, hướng tới tạo lập môi trường cạnh tranh, bình đẳng và thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển.

Đại hội XII và đặc biệt là Đại hội XIII tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào những lĩnh vực thiết yếu, địa bàn chiến lược, quốc phòng, an ninh và các ngành có ý nghĩa quyết định đối với ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và phát triển kết cấu hạ tầng quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, 2021). Quan điểm này thể hiện sự thống nhất giữa yêu cầu phát huy đầy đủ vai trò của cơ chế thị trường với việc bảo đảm vai trò kiến tạo và điều tiết của Nhà nước trong quá trình phát triển.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển nhận thức về kinh tế nhà nước trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Văn kiện Đại hội đánh giá khu vực kinh tế nhà nước đã từng bước phát huy vai trò chủ đạo, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động, đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước, tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực then chốt, hạ tầng chiến lược, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 108 – 110).

Sự phát triển về tư duy của Đảng được thể chế hóa rõ nét trong Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Nghị quyết xác định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ nguồn lực do Nhà nước nắm giữ và chi phối, như: đất đai, tài nguyên, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Điểm mới của Nghị quyết là chuyển mạnh từ tư duy nhấn mạnh quy mô sở hữu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực dẫn dắt phát triển của khu vực kinh tế nhà nước thông qua quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Theo Nghị quyết số 79-NQ/TW, đến năm 2030 phấn đấu có khoảng 50 doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, từ 1 – 3 doanh nghiệp thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới và 100% doanh nghiệp nhà nước áp dụng mô hình quản trị hiện đại trên nền tảng số theo chuẩn mực quốc tế. Những mục tiêu này phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào nguồn lực sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và hiệu quả quản trị.

Đồng thời, Nghị quyết số 79-NQ/TW được triển khai trong mối quan hệ thống nhất với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Cách tiếp cận này thể hiện tư duy phát triển mới của Đảng, theo đó kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo và điều tiết vĩ mô; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh theo cơ chế thị trường, cùng hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

2.2. Vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước được hình thành trên cơ sở sở hữu toàn dân đối với những nguồn lực kinh tế quan trọng do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, ngân sách nhà nước, tài nguyên quốc gia, tài sản công, dự trữ quốc gia, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các thiết chế tài chính công. Cùng với kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước tạo nền tảng của nền kinh tế quốc dân; đồng thời, là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và kiến tạo phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 128).

Dưới góc độ kinh tế học hiện đại, sự tồn tại và phát huy vai trò của kinh tế nhà nước xuất phát từ yêu cầu khắc phục các thất bại của thị trường, cung ứng hàng hóa và dịch vụ công, kiểm soát độc quyền tự nhiên, xử lý các ngoại ứng xã hội và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Đối với các quốc gia đang phát triển, khu vực kinh tế nhà nước còn giữ vai trò huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, dẫn dắt chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Stiglitz, 1989; WB, 1997).

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không nên được hiểu chủ yếu ở quy mô sở hữu hay tỷ trọng đóng góp vào GDP mà ở khả năng thực hiện những chức năng mà cơ chế thị trường hoặc khu vực tư nhân không thể hoặc chưa thể thực hiện hiệu quả. Theo đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện trên ba phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ đạo trong bảo đảm an ninh kinh tế và ổn định vĩ mô. Kinh tế nhà nước nắm giữ và chi phối các nguồn lực chiến lược của quốc gia, như: năng lượng, kết cấu hạ tầng trọng yếu, tài chính – ngân hàng, tài nguyên, dữ liệu quốc gia và công nghiệp quốc phòng. Đây là cơ sở để Nhà nước duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh tài chính, an ninh lương thực và tăng cường khả năng ứng phó trước các cú sốc từ bên ngoài. Trong bối cảnh biến động địa chính trị, biến đổi khí hậu và rủi ro chuỗi cung ứng toàn cầu, chức năng này càng có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 108 -110).

Thứ hai, chủ đạo trong kiến tạo và dẫn dắt phát triển. Kinh tế nhà nước tập trung đầu tư vào các ngành, lĩnh vực nền tảng, công nghệ chiến lược và kết cấu hạ tầng thiết yếu có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi dài hoặc mức độ rủi ro cao mà khu vực tư nhân chưa đủ điều kiện tham gia. Đồng thời, khu vực này đóng vai trò dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các thành phần kinh tế khác. Vai trò dẫn dắt không đồng nghĩa với bao cấp hay thay thế thị trường mà là tạo lập môi trường và động lực để thị trường vận hành hiệu quả hơn.

Thứ ba, chủ đạo trong kiến tạo thể chế và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò của kinh tế nhà nước còn được thể hiện thông qua việc tiên phong áp dụng các chuẩn mực quản trị tiên tiến, chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu, quản trị rủi ro và phát triển bền vững theo các tiêu chuẩn ESG. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, tăng cường tính minh bạch, tạo niềm tin thị trường và hình thành môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Khi khu vực kinh tế nhà nước hoạt động hiệu quả, các nguồn lực xã hội được phân bổ hợp lý hơn, qua đó, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế (OECD, 2024).

Như vậy, trong kỷ nguyên phát triển mới, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cần được nhận thức theo hướng hiện đại: không đặt trọng tâm vào việc mở rộng quy mô sở hữu nhà nước mà nhấn mạnh năng lực kiến tạo, điều tiết, dẫn dắt và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Đây cũng là cơ sở lý luận để tiếp tục đổi mới mô hình quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước, đồng thời phát huy vai trò của các thành phần kinh tế khác nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập và phát triển bền vững.

3. Thực trạng phát huy vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay

3.1. Những thành tựu đạt được

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nhà nước đã từng bước được cơ cấu lại, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị đánh giá: “Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế”.

Một là, kinh tế nhà nước góp phần quan trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường nguồn lực tài chính quốc gia. Khu vực doanh nghiệp nhà nước mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ về số lượng doanh nghiệp nhưng đang nắm giữ nguồn lực lớn về vốn và tài sản. Theo thống kê của Bộ Tài chính, đến hết năm 2024, cả nước có 671 doanh nghiệp nhà nước, chiếm khoảng 0,23% tổng số doanh nghiệp, nhưng nắm giữ trên 4 triệu tỷ đồng tài sản (không bao gồm các ngân hàng thương mại nhà nước). Khu vực doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 27,2% tổng thu ngân sách nhà nước năm 2024 (Bộ Tài chính, 2024). Đây là nguồn lực quan trọng để Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đầu tư kết cấu hạ tầng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong hệ thống tín dụng quốc gia. Năm 2025, tổng tài sản của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước đạt khoảng 9,36 triệu tỷ đồng, chiếm gần 50% thị phần tín dụng toàn hệ thống, góp phần cung ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, Ngân hàng Chính sách xã hội đã hỗ trợ hơn 6,8 triệu hộ vay vốn, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội (Bộ Chính trị, 2026).

Hai là, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò quan trọng trong các ngành, lĩnh vực thiết yếu và chiến lược của nền kinh tế. Nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang hoạt động trong các lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh kinh tế quốc gia, như: năng lượng, viễn thông, giao thông vận tải, tài chính – ngân hàng và công nghiệp quốc phòng. Trong lĩnh vực năng lượng, các doanh nghiệp nhà nước, như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) giữ vai trò chủ lực trong bảo đảm cung ứng điện và nhiên liệu cho nền kinh tế. Theo Bộ Chính trị (2026), khu vực nhà nước cung cấp khoảng 87% sản lượng điện, hơn 84% thị phần bán lẻ xăng dầu, 100% thị phần khí thô và khoảng 70% thị phần khí hóa lỏng; đồng thời đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng dầu và 70 – 75% nhu cầu phân đạm của cả nước.

Bên cạnh bảo đảm cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu, một số doanh nghiệp nhà nước đã từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Các doanh nghiệp, như: Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn và các ngân hàng thương mại nhà nước đã có đóng góp tích cực trong phát triển hạ tầng số, logistics, tài chính và dịch vụ hiện đại.

Ba là, kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng và nâng cao năng lực phát triển dài hạn của đất nước. Thông qua đầu tư công, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài sản công, khu vực nhà nước đã góp phần hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Theo Nghị quyết số 79/NQ/TW xác định: tổng giá trị 19 loại tài sản công kết cấu hạ tầng năm 2025 đạt gần 12 triệu tỷ đồng, bao gồm: hạ tầng giao thông, năng lượng, thủy lợi, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, văn hóa, thể thao và các lĩnh vực xã hội khác. Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bốn là, việc quản lý và sử dụng các nguồn lực công từng bước được đổi mới, góp phần nâng cao hiệu quả điều tiết của Nhà nước. Giai đoạn 2021 – 2025, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt khoảng 9,4 triệu tỷ đồng, tăng 1,36 lần so với giai đoạn trước. Cùng với việc cơ cấu lại đầu tư công, tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm, Nhà nước từng bước mở rộng các hình thức huy động nguồn lực xã hội thông qua mô hình đối tác công – tư (PPP), thúc đẩy phát triển hạ tầng, chuyển đổi số và kinh tế xanh. Bên cạnh đó, hệ thống các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách tiếp tục phát huy vai trò trong bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ điều tiết kinh tế. Hiện có 22 quỹ do Trung ương quản lý, với tổng số dư dự kiến cuối năm 2024 khoảng 1.594,1 nghìn tỷ đồng; trong đó, quỹ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế chiếm khoảng 91% tổng nguồn lực (Bộ Chính trị, 2026).

Nhìn chung, những kết quả đạt được cho thấy, kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các lĩnh vực thiết yếu, phát triển hạ tầng chiến lược và thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội. Tuy nhiên, những kết quả này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới mô hình quản trị, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh phát triển mới.

3.2. Những hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế nhà nước vẫn còn một số hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ đạo theo yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Trước hết, hiệu quả hoạt động của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực về vốn, tài sản và vị trí được giao. Một số doanh nghiệp có quy mô lớn nhưng năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh, hiệu quả sử dụng vốn và mức độ đổi mới sáng tạo còn hạn chế; việc ứng dụng công nghệ mới, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.

Bên cạnh đó, công tác quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại một số doanh nghiệp, dự án đầu tư còn tồn tại bất cập. Một số dự án chậm tiến độ, hiệu quả thấp hoặc kéo dài quá trình xử lý đã làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của khu vực kinh tế nhà nước. Những hạn chế này cho thấy, cơ chế quản lý, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư và trách nhiệm của các chủ thể liên quan cần tiếp tục được hoàn thiện.

Quá trình đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chậm so với yêu cầu thực tiễn. Một số doanh nghiệp chưa thực sự chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình quản trị hiện đại, chưa phát huy đầy đủ vai trò tiên phong trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển các lĩnh vực mới, như: kinh tế số, kinh tế xanh, chuyển đổi năng lượng. Trong bối cảnh khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển năng động, yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp nhà nước không chỉ là bảo toàn vốn mà còn phải nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng dẫn dắt thị trường.

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ một số hạn chế của kinh tế nhà nước hiện nay, như: chính sách, pháp luật về kinh tế nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế; quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, còn lãng phí, thất thoát; hoạt động của một số doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực được giao; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa phát huy đầy đủ vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu”.

Những hạn chế trên cho thấy, việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn lực mà quan trọng hơn là năng lực quản trị, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế trong nước và quốc tế.

3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Thứ nhất, thể chế quản lý kinh tế nhà nước vẫn còn những điểm chưa đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc phân định chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp có thời điểm chưa thật sự rõ ràng; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, giám sát và chủ thể sử dụng nguồn lực nhà nước còn bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị và trách nhiệm giải trình.

Thứ hai, cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở một số lĩnh vực vẫn chưa hoàn toàn dựa trên các tiêu chí quản trị hiện đại, chưa gắn chặt giữa trách nhiệm quản lý với kết quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và giám sát tuy từng bước được tăng cường nhưng vẫn cần tiếp tục đổi mới theo hướng chủ động, thường xuyên và dựa trên quản trị rủi ro nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí.

Thứ ba, năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực tại một số doanh nghiệp nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế. Một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế về năng lực quản trị doanh nghiệp hiện đại, khả năng dự báo thị trường, tổ chức đổi mới sáng tạo và khai thác các cơ hội từ chuyển đổi số. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thích ứng, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường của doanh nghiệp nhà nước.

Thứ tư, một số doanh nghiệp nhà nước còn chịu tác động từ tư duy quản lý hành chính, chưa hoàn toàn vận hành theo nguyên tắc thị trường và chuẩn mực quản trị doanh nghiệp hiện đại. Việc chậm đổi mới mô hình hoạt động, cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh và nâng cao tính tự chủ đã làm giảm khả năng cạnh tranh, hạn chế vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực.

Như vậy, để kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần tập trung hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường trách nhiệm giải trình và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhà nước.

4. Một số giải pháp

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hoàn thiện thể chế là điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước. Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến quản lý vốn, tài sản nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công theo hướng đồng bộ, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Việc Quốc hội ban hành Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 ngày 14/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/8/2025, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng nhằm đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng cường trách nhiệm giải trình và tiệm cận các chuẩn mực quản trị hiện đại.

Cùng với đó, cần tiếp tục phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước; tách bạch quyền sở hữu, quyền quản lý và quyền giám sát nhằm hạn chế xung đột lợi ích, nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước.

Hai là, nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước cần được tổ chức và vận hành theo nguyên tắc thị trường, áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao tính tự chủ, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ quản lý cần dựa trên năng lực chuyên môn, kinh nghiệm quản trị và kết quả hoạt động thực tiễn, từng bước khắc phục tư duy hành chính hóa trong quản trị doanh nghiệp.

Đồng thời, cần đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng tập trung nguồn lực vào những ngành, lĩnh vực then chốt, có lợi thế cạnh tranh, khả năng dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế. Đối với những lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ, cần tiếp tục thực hiện cơ cấu lại, cổ phần hóa phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và huy động thêm nguồn lực xã hội.

Ba là, đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, doanh nghiệp nhà nước cần trở thành lực lượng tiên phong trong ứng dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng số, khai thác dữ liệu, AI và tự động hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu khu vực kinh tế nhà nước phải đóng vai trò nòng cốt trong thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ.

Bên cạnh chuyển đổi số, cần thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải carbon và phát triển các ngành công nghiệp mới, như: năng lượng tái tạo, bán dẫn, công nghệ cao. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.

Bốn là, tiếp tục cơ cấu lại và phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Cần nghiên cứu xây dựng một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô, năng lực quản trị và trình độ công nghệ đủ mạnh để cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như năng lượng, công nghệ, tài chính, logistics và hạ tầng số. Tuy nhiên, quá trình phát triển tập đoàn kinh tế nhà nước cần gắn với nguyên tắc thị trường, hiệu quả đầu tư, kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin, tránh mở rộng quy mô thiếu kiểm soát.

Năm là, phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước trong mối quan hệ hài hòa với các thành phần kinh tế khác.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không đồng nghĩa với việc thay thế hoặc hạn chế sự phát triển của các khu vực kinh tế khác. Kinh tế nhà nước cần tập trung vào những lĩnh vực có tính nền tảng, chiến lược, những lĩnh vực thị trường khó hoặc chưa có khả năng đầu tư hiệu quả, từ đó tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác phát triển bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Sáu là, tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước.

Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát đối với doanh nghiệp nhà nước, tăng cường kiểm toán độc lập, công khai thông tin tài chính và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước theo các tiêu chí quản trị hiện đại. Việc đánh giá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ dựa trên quy mô tài sản hay tỷ trọng đóng góp vào GDP mà cần được xem xét trên các phương diện, như: hiệu quả sử dụng nguồn lực, khả năng ổn định kinh tế vĩ mô, năng lực dẫn dắt đổi mới sáng tạo và mức độ đóng góp cho phát triển bền vững.

Bảy là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng văn hóa quản trị hiện đại.

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới. Cần xây dựng cơ chế thu hút, đào tạo và sử dụng nhân tài trong các lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, công nghệ cao, kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch và tinh thần đổi mới nhằm nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp nhà nước trước những biến động nhanh chóng của môi trường kinh tế quốc tế.

Như vậy, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới cần được đặt trong tổng thể quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trọng tâm không phải là mở rộng phạm vi can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, mà là nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sử dụng nguồn lực công, khả năng kiến tạo và dẫn dắt phát triển, qua đó, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại và hội nhập sâu rộng.

5. Kết luận

Kinh tế nhà nước giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là một trong những lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế nhà nước đã có những đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, cạnh tranh quốc tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, kinh tế nhà nước cần tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng hiệu quả, minh bạch và hiện đại. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là mở rộng quy mô nguồn lực nhà nước mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sử dụng vốn, khả năng đổi mới sáng tạo và vai trò dẫn dắt trong những lĩnh vực chiến lược.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường giám sát sẽ là cơ sở quan trọng để kinh tế nhà nước phát huy đầy đủ vai trò trong giai đoạn mới. Qua đó, khu vực kinh tế nhà nước cùng với các thành phần kinh tế khác tạo thành động lực tổng hợp, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017a). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017b). Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Chính phủ (2022). Quyết định số 360/QĐ-TTg ngày 17/3/2022 phê duyệt Đề án cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2021-2025.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
OECD (2024). OECD guidelines on corporate governance of state-owned enterprises (2024 ed.). OECD Publishing.
Quốc hội (2025). Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025.
Stiglitz, J. E. (1989). Markets, market failures, and development. American Economic Review, 79(2), 197-203.
World Bank (1997). World development report 1997: The state in a changing world. Oxford University Press.