Enhancing the economic resilience of Cao Bang Province in the new context: an approach based on border-gate economy, digital transformation, and grassroots governance
ThS. Nguyễn Thủy Hồng
Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: hongnguyen1296@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Cao Bằng khép lại năm 2025 với mức tăng trưởng GRDP 7,22%, cao nhất trong một thập kỷ trở lại đây, cùng với những chuyển biến đáng ghi nhận ở kinh tế cửa khẩu, du lịch địa chất và chuyển đổi số. Tuy nhiên, đối với tỉnh miền núi biên giới tăng trưởng nhanh trong một năm thuận lợi chưa hẳn đã là một địa phương có sức chống chịu bền vững trước những cú sốc tiếp theo tác động đến kinh tế địa phương. Bài viết trên cơ sở nghiên cứu cách tiếp cận năng lực chống chịu kinh tế (như khả năng phòng ngừa, hấp thụ, phục hồi và thích ứng trước cú sốc) để phân tích trường hợp Cao Bằng qua ba trụ cột có tính thực tiễn cao: kinh tế cửa khẩu, chuyển đổi số và quản trị cơ sở. Từ đó, đề xuất một khung đánh giá gồm năm cấu phần: (1) An toàn tài chính – ngân sách; (2) Cơ cấu và sức mạnh kinh tế; (3) Chất lượng quản trị; (4) Hiệu quả thị trường – hạ tầng kết nối; (5) Vốn xã hội và nguồn nhân lực trong giai đoạn 2020 – 2025. Đồng thời, chỉ ra sáu nhóm giải pháp nhằm chuyển hóa tăng trưởng hiện tại thành năng lực chống chịu dài hạn cho địa phương.
Từ khóa: Năng lực chống chịu kinh tế; Cao Bằng; kinh tế cửa khẩu; chuyển đổi số; quản trị cơ sở.
Abstract: Cao Bang concluded 2025 with a Gross Regional Domestic Product (GRDP) growth rate of 7.22%, the highest recorded in the past decade, accompanied by notable progress in the border-gate economy, geological tourism, and digital transformation. However, for a mountainous border province, rapid growth during a favorable year does not necessarily equate to sustainable resilience against subsequent shocks affecting the local economy. Drawing on the concept of economic resilience – defined as the capacity to anticipate, absorb, recover from, and adapt to external shocks – this article analyzes the case of Cao Bang through three highly practical pillars: the border-gate economy, digital transformation, and grassroots governance. Based on this analysis, the paper proposes an evaluation framework consisting of five components: (1) Fiscal and Budgetary Security; (2) Economic Structure and Strength; (3) Governance Quality; (4) Market Efficiency and Infrastructure Connectivity; and (5) Social Capital and Human Resources during the 2020 – 2025 period. Furthermore, it identifies six groups of policy recommendations aimed at transforming current economic growth into long-term resilience for the province.
Keywords: Economic resilience; Cao Bang; border-gate economy; digital transformation; grassroots governance.
1. Đặt vấn đề
Chỉ trong vài năm gần đây, nền kinh tế toàn cầu liên tiếp hứng chịu hàng loạt những cú sốc chồng lấn: chuỗi cung ứng đứt gãy vì đại dịch, xung đột địa chính trị kéo dài, giá năng lượng và lương thực biến động thất thường, rồi áp lực chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Với Việt Nam, câu chuyện năng lực chống chịu không còn dừng ở việc giữ ổn định kinh tế vĩ mô cấp quốc gia mà dần trở thành phép thử cho từng vùng, từng tỉnh, thậm chí từng xã.
Cao Bằng là tỉnh có đường biên giới với Trung Quốc dài nhất cả nước (hơn 333 km), giữ vị trí cửa ngõ giao thương quan trọng ở phía Bắc, đồng thời sở hữu những tài sản mà không phải địa phương nào cũng có, như: công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, thác Bản Giốc, hệ thống hồ Thang Hen, cùng kho tàng di sản lịch sử – văn hóa của nhiều cộng đồng các dân tộc thiểu số. Nhưng phía sau đó là những rào cản của một tỉnh miền núi biên giới, đó là: địa hình chia cắt, thị trường nội tỉnh nhỏ, hạ tầng logistics còn mỏng, doanh nghiệp gần như toàn bộ ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, nhiều xã vùng sâu, vùng biên vẫn dễ tổn thương trước thiên tai, dịch bệnh hay những đợt biến động đột ngột của thương mại biên mậu.
Theo công bố của cơ quan thống kê tỉnh, năm 2025, GRDP của Cao Bằng tăng 7,22% – mức cao nhất trong mười năm trở lại đây, dù xếp ở vị trí 27/34 tỉnh, thành phố cả nước về tốc độ tăng trưởng. Quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt khoảng 27.935 tỷ đồng, trong đó khu vực dịch vụ đóng góp tỷ trọng lớn nhất (Kim Thoa, 2026). Đó là một kết quả đáng khích lệ đối với một tỉnh còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, qua phân tích cho thấy, việc đánh giá không phải để biết Cao Bằng tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, mà là liệu đà tăng trưởng này có đủ chắc để kinh tế tỉnh trụ vững mỗi khi thị trường biên giới trầm lắng, thời tiết cực đoan xảy ra hay một mắt xích hạ tầng nào đó tắc nghẽn.
2. Cơ sở lý luận và khung phân tích
Trong các nghiên cứu kinh tế, năng lực chống chịu thường được định nghĩa là khả năng của một hệ thống kinh tế chống đỡ, hấp thụ, phục hồi và thích ứng sau cú sốc. Hallegatte (2014) tách bạch hai lớp khái niệm: (1) Năng lực chống chịu tức thời – khả năng hạn chế tổn thất ngay khi cú sốc xảy ra và (2) Năng lực chống chịu động – khả năng phục hồi nhanh, tái thiết hiệu quả sau đó. Briguglio và cộng sự (2009) bổ sung một góc nhìn quan trọng khác: tính dễ tổn thương và năng lực chống chịu không loại trừ nhau mà một nền kinh tế có thể vừa dễ tổn thương về mặt cấu trúc (quy mô nhỏ, phụ thuộc xuất khẩu, chịu tác động của thiên tai), vừa xây dựng được năng lực chống chịu tốt nhờ chính sách và thể chế phù hợp. Cách tiếp cận này khá gần với hoàn cảnh của một tỉnh miền núi biên giới như Cao Bằng.
Áp vào trường hợp Cao Bằng, khung phân tích bám sát đặc thù của một tỉnh miền núi biên giới nhiều hơn là những khung lý thuyết chung chung. Tính chống chịu của tỉnh không chỉ nằm ở việc duy trì sản xuất nông nghiệp ổn định hay giữ nhịp tăng trưởng dịch vụ mà còn nằm ở khả năng ứng phó với biến động thương mại biên giới, tốc độ số hóa quy trình thông quan, năng lực bảo tồn – khai thác hợp lý các di sản và trình độ của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong việc đưa chính sách đến với người dân. Theo đó, khung đánh giá gồm năm cấu phần được trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Khung đánh giá năng lực chống chịu kinh tế cấp tỉnh áp dụng đối với tỉnh Cao Bằng
| Cấu phần | Biểu hiện cần quan sát ở Cao Bằng | Hàm ý chính sách |
| An toàn tài chính – ngân sách | Khả năng bố trí nguồn lực dự phòng, ưu tiên đầu tư công, hỗ trợ doanh nghiệp và hộ dân khi có cú sốc. | Tăng kỷ luật tài khóa địa phương, nâng hiệu quả đầu tư công, thiết kế quỹ/phương án ứng phó rủi ro. |
| Sức mạnh và cơ cấu kinh tế | Tỷ trọng ngành, độ đa dạng sản phẩm, khả năng chế biến, mức phụ thuộc vào thương mại biên giới và nông nghiệp thô. | Đa dạng hóa động lực tăng trưởng, phát triển chế biến, nâng cấp OCOP, thúc đẩy dịch vụ có giá trị gia tăng. |
| Chất lượng quản trị | Mức minh bạch, năng lực cán bộ cơ sở, cải cách thủ tục, phối hợp liên ngành tại cửa khẩu và cấp xã. | Đẩy mạnh chính quyền số, phân quyền đi đôi với kiểm tra, nâng năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình. |
| Hiệu quả thị trường và kết nối | Hạ tầng giao thông, kho bãi, kho lạnh, chi phí logistics, nền tảng cửa khẩu số, liên kết vùng. | Đầu tư logistics xanh, chuẩn hóa dữ liệu cửa khẩu, giảm chi phí thông quan, kết nối với các trung tâm tiêu thụ. |
| Vốn xã hội và nguồn nhân lực | Kỹ năng lao động, liên kết cộng đồng dân tộc, khả năng tham gia du lịch cộng đồng, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ. | Đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường, hỗ trợ sinh kế vùng biên, tăng bao trùm số và cố kết xã hội. |
Bài viết sử dụng phương pháp định tính, kết hợp tổng thuật tài liệu, tổng hợp số liệu thứ cấp và phân tích chính sách. Dữ liệu được khai thác từ nhiều nguồn: báo cáo, họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội của tỉnh Cao Bằng; thông tin cập nhật về kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu, tiến độ triển khai nền tảng cửa khẩu số; số liệu du lịch từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam; báo cáo PCI của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các nghiên cứu học thuật liên quan đến năng lực chống chịu kinh tế cấp vùng, cấp tỉnh. Thời gian số liệu thực hiện chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2020 – 2025 và được bổ sung một số thông tin cập nhật từ đầu năm 2026 đến nay để phản ánh những diễn biến mới nhất.
3. Thực trạng năng lực chống chịu kinh tế của Cao Bằng
3.1. Tăng trưởng phục hồi, cơ cấu kinh tế dịch chuyển nhưng chưa đủ nhanh
Số liệu năm 2025 vẽ nên một bức tranh phục hồi khá rõ nét. GRDP có mức tăng trưởng 7,22%, trong đó công nghiệp – xây dựng dẫn đầu với mức tăng 14,5%, dịch vụ tăng 6,82%, còn nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng chậm hơn, ở mức 2,45%. Quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt 27.935 tỷ đồng, với cơ cấu nghiêng về dịch vụ (56,17%), tiếp đến là công nghiệp – xây dựng (20,54%) và nông, lâm nghiệp – thủy sản (19,63%) (Thống kê tỉnh Cao Bằng, 2025). Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm đạt hơn 7.180 tỷ đồng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,17% (Anh Thư, 2026). Đây là một tốc độ khiêm tốn hơn so với mức tăng giá trị gia tăng của ngành, phần nào cho thấy hiệu ứng nền thấp của năm trước cũng góp phần vào con số tăng trưởng ấn tượng.
Ở phía cầu, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước đạt hơn 14.640 tỷ đồng, tăng tới 42,18% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 13.640 tỷ đồng, tăng 14,06% (Thống kê tỉnh Cao Bằng, 2025). Đây rõ ràng là những chỉ dấu tích cực về niềm tin đầu tư và sức mua nội địa. Tuy nhiên nhìn rộng ra, quy mô nền kinh tế Cao Bằng vẫn thuộc nhóm nhỏ của cả nước – việc xếp thứ 27/34 tỉnh, thành phố về tốc độ tăng trưởng năm 2025 cũng phần nào phản ánh điều đó (Cục Thống kê, 2026). Vấn đề đặt ra không phải là làm sao để có thêm vài điểm phần trăm tăng trưởng mà là làm sao để đà tăng trưởng hiện tại được giữ được vào những nền tảng dài hạn hơn (nâng cấp cơ cấu sản xuất, cải thiện chất lượng nhân lực và tăng khả năng thích ứng) của khu vực doanh nghiệp. Năm 2025, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tới 60,56% tổng số lao động đang làm việc, trong khi công nghiệp – xây dựng chỉ chiếm 7,85% và dịch vụ chiếm 31,59% (Thống kê tỉnh Cao Bằng, 2025). Như vậy, cơ cấu GRDP đã nghiêng về dịch vụ và công nghiệp nhưng cơ cấu lao động thì gần như vẫn giữ nguyên. Khoảng cách này vừa là dư địa chuyển dịch còn rất lớn, vừa là bài toán đào tạo nghề, kỹ năng số và năng suất lao động cần thiết được đề cập.
3.2. Kinh tế cửa khẩu: động lực tăng tốc nhưng cấu trúc chưa mạnh
Với vị trí biên giới đặc thù, kinh tế cửa khẩu là một trong những trụ đỡ quan trọng nhất của Cao Bằng. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh đạt khoảng 1,63 tỷ USD, tăng tới 72% so với năm 2024 và là mức cao nhất trong cả giai đoạn 2021 – 2025 (Anh Thư, 2026). Riêng qua Cửa khẩu quốc tế Trà Lĩnh, kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2025 đạt trên 326 triệu USD, trong đó xuất khẩu chiếm tỷ trọng áp đảo (Kim Dung, 2026). Bên cạnh Trà Lĩnh, các cửa khẩu Tà Lùng và Sóc Giang cũng ghi nhận lưu lượng hàng hóa và hoạt động thương mại cư dân biên giới sôi động hơn hẳn giai đoạn trước.
Nhưng đằng sau con số tăng 72% ấy vẫn là một cấu trúc khá mong manh. Lưu lượng hàng hóa qua các cửa khẩu chưa ổn định theo thời gian, cơ cấu hàng hóa còn thiên về nông sản thô và hàng sơ chế, trong khi hạ tầng kho bãi, dịch vụ logistics chưa đồng bộ khiến chi phí vận chuyển – lưu kho – bảo quản luôn ở mức cao. Bên cạnh đó, vị trí địa lý lại nằm khá xa các trung tâm tiêu thụ lớn, riêng khâu tổ chức chuỗi lạnh cho nông sản đã là một bài toán không dễ giải quyết. Hệ quả là chỉ cần thị trường biên giới có biến động, hoặc quy định thông quan phía đối tác thay đổi, các doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất địa phương (vốn ít có khả năng dự phòng) sẽ là nhóm chịu tác động đầu tiên và nặng nề nhất.
Trong bối cảnh đó, việc Cao Bằng thí điểm nền tảng cửa khẩu số tại Tà Lùng và Trà Lĩnh từ năm 2026 là một bước đi đáng chú ý, nhất là trong việc khai thác, vận hành các nền tảng số để rút ngắn thời gian chờ nhờ khai báo trước, kết nối dữ liệu giữa hải quan, biên phòng, kiểm dịch, thuế và đơn vị khai thác hạ tầng, qua đó tăng tính minh bạch cho toàn bộ quy trình.
3.3. Du lịch địa chất và sinh kế cộng đồng: dư địa lớn cho chống chịu xanh
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tiếp tục là điểm mạnh của tỉnh. Trong năm 2025, Cao Bằng đón khoảng 2,45 triệu lượt khách, tăng 40,4% so với năm trước; doanh thu du lịch đạt khoảng 2.430 tỷ đồng, tăng tới 76,2%. Đáng chú ý, lượng khách quốc tế tuy vẫn còn khiêm tốn về số tuyệt đối – khoảng 97.400 lượt – nhưng lại tăng tới 121,8%, cho thấy, hình ảnh Non nước Cao Bằng đang dần được biết đến rộng hơn trên bản đồ du lịch quốc tế; khách nội địa vẫn là nguồn khách chủ lực với khoảng 2,35 triệu lượt, tăng 38,3% (Lam Giang, 2025). Việc UNESCO tiếp tục tái công nhận danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu cho khu vực gắn với thác Bản Giốc, hồ Thang Hen, cảnh quan karst (dạng địa hình đặc trưng của vùng núi đá vôi với hang động, thung lũng, hồ nước,…) và các di sản cách mạng cũng ngày càng củng cố thêm vị thế của địa phương.
Từ góc độ năng lực chống chịu, du lịch địa chất không đơn thuần là một ngành tạo doanh thu mà còn là nguồn lực đa dạng hóa sinh kế cho khu vực nông thôn miền núi và vùng biên – nơi phần lớn sinh kế của các hộ dân vẫn dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Khi có thêm thu nhập từ homestay, dẫn tour địa phương, sản phẩm thủ công, ẩm thực hay nông sản bản địa bán cho khách du lịch, các hộ dân sẽ bớt phụ thuộc vào một nguồn sinh kế duy nhất, từ đó cũng hạn chế được những khó khăn khi nông nghiệp hay thương mại biên giới gặp trục trặc. Song cũng cần lưu ý áp lực lên chính tài nguyên, văn hoá bản địa và đời sống của cộng đồng dân cư khi lượng khách du lịch tăng nhanh, kèm theo quản trị, vận hành chưa tốt.
3.4. Quản trị địa phương, môi trường kinh doanh và năng lực cơ sở
Nếu coi năng lực chống chịu là một cỗ máy thì chất lượng quản trị chính là dầu bôi trơn cho cỗ máy đó vận hành. Trong điều kiện bình thường, quản trị tốt giúp giảm chi phí giao dịch và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân vào chính quyền. Còn khi có cú sốc, chính quản trị mới là yếu tố quyết định tốc độ phản ứng chính sách, mức độ phối hợp liên ngành, độ chính xác của thông tin và hiệu quả phân bổ nguồn lực hỗ trợ.
Theo dữ liệu PCI do VCCI công bố, một số chỉ số thành phần của Cao Bằng năm 2024 có cải thiện so với năm 2023, trong đó nổi bật là gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí thời gian, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý. Đây là tín hiệu cho thấy những nỗ lực cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh đang dần có kết quả cụ thể, chứ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu. Tuy vậy, một số chỉ số khác, như: cạnh tranh bình đẳng, tính năng động của chính quyền và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện (VCCI, 2025). Điều này gợi mở một thực tế: năng lực chống chịu của khu vực doanh nghiệp địa phương không chỉ phụ thuộc vào vốn hay thị trường mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc chính quyền có kịp thời tháo gỡ được những điểm nghẽn.
Một vấn đề quan trọng ở cấp xã, năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở lại là yếu tố quyết định việc chính sách có “chạm” tới người dân hay không (từ hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi số, quản lý đất đai cho đến phòng, chống thiên tai và kết nối người nông dân, hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ với thị trường). Cán bộ cơ sở có kỹ năng số, biết vận động cộng đồng, biết quản trị dữ liệu và phối hợp với doanh nghiệp thì chính sách sẽ đi vào cuộc sống nhanh hơn hẳn so với nơi năng lực cơ sở còn hạn chế. Ngược lại, ở đâu năng lực cơ sở yếu, khoảng cách giữa chủ trương trên văn bản và thực tiễn triển khai sẽ ngày càng kéo dài khoảng cách, kéo theo sức chống chịu của cả cộng đồng bị bào mòn.
4. Những rủi ro và điểm nghẽn chủ yếu
Nhìn tổng thể, năng lực chống chịu kinh tế của Cao Bằng hiện đang bị ràng buộc bởi một số nhóm rủi ro chính, cụ thể:
Trước hết, là sự phụ thuộc vào những động lực tăng trưởng có độ biến động cao. Kinh tế cửa khẩu mang lại cơ hội lớn nhưng cũng chịu tác động trực tiếp từ chính sách biên mậu, yêu cầu kiểm dịch, hạ tầng thông quan, sức mua của thị trường Trung Quốc, cũng như năng lực tổ chức chuỗi cung ứng. Khi cơ cấu hàng hóa chưa đa dạng và doanh nghiệp địa phương còn nhỏ như hiện nay, chỉ một thay đổi về quy định hay nhu cầu thị trường phía đối tác cũng đủ tạo ra cú sốc đáng kể cho cả chuỗi.
Thứ hai, hạ tầng và logistics vẫn là điểm nghẽn cản trở khả năng hấp thụ cơ hội. Giao thông đã có chuyển biến nhất định nhưng kết nối với các trung tâm tiêu thụ lớn, hệ thống kho bãi, kho lạnh, dịch vụ kiểm định, đóng gói, truy xuất nguồn gốc và vận tải chuyên nghiệp vẫn cần được đầu tư bài bản hơn nhiều. Với nông sản, chi phí logistics cao có thể xóa sạch lợi thế cạnh tranh dù sản phẩm có chất lượng tốt đến đâu.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực là điểm nghẽn mang tính dài hạn và khó xử lý nhanh nhất. Như đã đề cập ở mục 4.1, hơn 60% lao động vẫn nằm trong khu vực nông nghiệp, trong khi những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao – logistics, du lịch, công nghiệp chế biến, thương mại điện tử, dịch vụ số, quản trị chuỗi cung ứng – lại đòi hỏi những kỹ năng gần như hoàn toàn mới. Nếu thiếu chương trình đào tạo phù hợp, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà số liệu GRDP đang cho thấy rất có thể sẽ chững lại hoặc thiếu bền vững.
Thứ tư, biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh tiếp tục là rủi ro thường trực đối với sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông miền núi và sinh kế của các hộ dân. Mưa lũ, sạt lở, rét đậm, rét hại, dịch bệnh trên cây trồng – vật nuôi có thể làm đứt gãy chuỗi cung ứng cục bộ bất cứ lúc nào, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh sinh kế và đẩy thêm gánh nặng lên ngân sách địa phương.
Thứ năm, năng lực phối hợp và quản trị dữ liệu giữa các cấp, các ngành chưa đồng đều. Chuyển đổi số chỉ tạo ra năng lực chống chịu thực sự khi dữ liệu được cập nhật, chia sẻ, phân tích và đưa vào quyết định chính sách một cách hệ thống. Nếu mỗi ngành vẫn vận hành một hệ thống riêng, thiếu chuẩn dữ liệu chung, thì chính quyền địa phương sẽ khó có được công cụ cảnh báo sớm và khó hỗ trợ đúng đối tượng khi cần.
5. Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu kinh tế của Cao Bằng
Một là, xây dựng bộ chỉ báo theo dõi năng lực chống chịu cấp tỉnh.
Cao Bằng cần một bộ chỉ báo theo dõi năng lực chống chịu kinh tế cấp tỉnh, gắn với năm cấu phần đã nêu ở Bảng 1: tài chính – ngân sách, cơ cấu kinh tế, quản trị, thị trường – hạ tầng và vốn xã hội – nhân lực. Bộ chỉ báo này không cần phức tạp ngay từ đầu, nhưng cần bảo đảm cập nhật được định kỳ và phục vụ trực tiếp cho công tác điều hành, thay vì chủ yếu phục vụ báo cáo. Một số chỉ báo có thể cân nhắc: tốc độ phục hồi sản xuất sau thiên tai; tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến; thời gian thông quan trung bình tại các cửa khẩu; tỷ lệ hàng hóa qua cửa khẩu có truy xuất nguồn gốc; tỷ lệ lao động được đào tạo; tỷ lệ hộ dân tiếp cận internet; tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp có hợp đồng liên kết và mức độ đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Bộ chỉ báo nên được giao cho một đầu mối liên ngành quản lý, với sự tham gia của Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Quản lý Khu kinh tế, Cục Thống kê, hệ thống chính quyền các cấp và hiệp hội doanh nghiệp. Mục tiêu ở đây không phải là tạo thêm một tầng thủ tục báo cáo, mà là dựng nên một “bảng điều khiển” thực sự giúp chính quyền nhận diện sớm điểm nghẽn và ưu tiên nguồn lực đúng lúc, đúng chỗ.
Hai là, nâng cấp kinh tế cửa khẩu theo hướng số hóa, logistics xanh và quản lý rủi ro.
Với mức tăng trưởng kim ngạch 72% của năm 2025, kinh tế cửa khẩu cần được nhìn nhận là một trụ cột chống chịu thực sự, chứ không chỉ là kênh tăng doanh số thương mại. Do đó, tỉnh cần sớm hoàn thiện việc vận hành nền tảng cửa khẩu số tại Tà Lùng và Trà Lĩnh, bảo đảm doanh nghiệp, lái xe, chủ hàng, hợp tác xã và hộ kinh doanh được hướng dẫn sử dụng một cách thuận lợi và thành thạo nhất. Dữ liệu về phương tiện, hàng hóa, kiểm dịch, thuế và hải quan cần được kết nối liên thông để giảm trùng lặp thủ tục, hạn chế ùn tắc và nâng cao tính minh bạch.
Cao Bằng cần ưu tiên đầu tư logistics xanh tại khu vực cửa khẩu, đặc biệt là kho lạnh, trung tâm tập kết – phân loại – đóng gói, dịch vụ kiểm định chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phương tiện vận tải tiết kiệm năng lượng. Với nông sản, logistics không chỉ là chuyện vận chuyển, mà là cả một hệ sinh thái giữ giá trị sản phẩm: có kho lạnh, đóng gói chuẩn, kiểm dịch nhanh và dữ liệu minh bạch, doanh nghiệp mới giảm được rủi ro hư hỏng, rút ngắn thời gian chờ và có thêm vị thế đàm phán với đối tác. Đồng thời, cần đa dạng hóa thị trường và cơ cấu hàng hóa biên mậu. Cao Bằng không nên chỉ dừng ở vai trò điểm trung chuyển hàng hóa thô, mà cần đẩy mạnh chế biến, đóng gói, dán nhãn, xây dựng thương hiệu địa phương và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới ở mức độ phù hợp. Những sản phẩm có lợi thế như miến dong, hoa hồi, hạt dẻ, nông sản bản địa, sản phẩm du lịch và hàng thủ công hoàn toàn có thể được đưa vào chuỗi giá trị có truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng, thay vì bán thô như hiện nay.
Ba là, phát triển nông nghiệp bản địa theo chuỗi giá trị chống chịu khí hậu.
Với hơn 60% lao động vẫn gắn bó với nông nghiệp, nâng cao năng lực chống chịu của Cao Bằng không thể tách rời lĩnh vực này. Theo đó, tỉnh cần thúc đẩy nông nghiệp thích ứng khí hậu: sử dụng giống phù hợp, cải thiện hệ thống cảnh báo thời tiết – dịch bệnh, mở rộng bảo hiểm nông nghiệp ở những lĩnh vực có điều kiện, tăng liên kết hợp tác xã – doanh nghiệp – hộ dân, đặc biệt, cần chuyển mạnh từ bán sản phẩm thô sang chế biến, đóng gói, xây dựng nhãn hiệu.
Nên lựa chọn một số sản phẩm bản địa có khả năng tạo thương hiệu và gắn kết với du lịch – miến dong, hoa hồi, hạt dẻ, cây dược liệu, sản phẩm chăn nuôi bản địa, hàng thủ công truyền thống – để hình thành cho mỗi sản phẩm một “gói chống chịu” hoàn chỉnh: vùng nguyên liệu ổn định, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ tín dụng nhỏ, chuyển đổi số trong bán hàng, và phương án ứng phó khi thị trường hoặc thời tiết biến động. Cách làm này giúp hộ dân không phải đơn độc đối mặt với rủi ro, đồng thời giữ lại nhiều giá trị gia tăng hơn ngay tại địa phương.
Bốn là, nâng cao năng lực quản trị cơ sở và chất lượng phục vụ doanh nghiệp.
Chính quyền cấp xã ở Cao Bằng là nơi gần dân nhất, gần doanh nghiệp nhỏ nhất, gần hợp tác xã nhất và cũng là nơi gần các điểm rủi ro thiên tai nhất. Vì vậy, tỉnh cần có chương trình bồi dưỡng chuyên đề dài hạn, bài bản gắn với thực tế địa phương cho cán bộ cơ sở về chuyển đổi số, quản lý dữ liệu dân cư – doanh nghiệp, kỹ năng hỗ trợ hợp tác xã, quản lý du lịch cộng đồng, phòng chống thiên tai, truyền thông rủi ro và vận động người dân tham gia các chuỗi giá trị mới.
Bên cạnh đó, chất lượng phục vụ doanh nghiệp cần được cải thiện, như các thủ tục về đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, đăng ký kinh doanh, tiếp cận chính sách hỗ trợ cần được rà soát theo hướng đơn giản hơn, minh bạch hơn và có thời hạn xử lý rõ ràng. Tỉnh có thể thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ giữa chính quyền với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh vùng biên, tập trung vào những điểm nghẽn cụ thể, như: thủ tục cửa khẩu, kho bãi, tín dụng, tiêu chuẩn hàng hóa, tuyển dụng lao động và tiếp cận mặt bằng.
Ngoài ra, cần tăng tính năng động và trách nhiệm giải trình của bộ máy chính quyền. Cán bộ không chỉ cần làm đúng quy trình mà cần có năng lực nhận diện vấn đề mới, chủ động đề xuất giải pháp đổi mới – sáng tạo phù hợp, có hiệu quả và phối hợp liên ngành. Trong bối cảnh nhiều rủi ro phi truyền thống như hiện nay, năng lực chống chịu phụ thuộc rất nhiều vào khả năng học hỏi, thích nghi và hành động kịp thời của chính bộ máy địa phương.
Năm là, phát triển du lịch địa chất – cộng đồng theo hướng bao trùm và bền vững.
Với đà tăng trưởng lượng khách và doanh thu như năm 2025, du lịch địa chất và du lịch cộng đồng cần được phát triển như một trụ cột đa dạng hóa sinh kế thực thụ, chứ không chỉ là “điểm sáng” thời vụ. Tỉnh cần xây dựng các tuyến du lịch gắn với Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, thác Bản Giốc, di sản cách mạng, làng nghề, ẩm thực và nông sản bản địa. Nhưng trọng tâm phải là chất lượng trải nghiệm, bảo tồn bản sắc và chia sẻ lợi ích công bằng cho cộng đồng.
Để du lịch thực sự trở thành năng lực chống chịu, cần hỗ trợ cộng đồng địa phương nâng cao kỹ năng làm du lịch, ngoại ngữ cơ bản, vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý homestay – dịch vụ lưu trú, bán hàng trên nền tảng số, kể chuyện di sản và bảo vệ môi trường. Mỗi điểm đến cần có phương án quản lý rác thải, nước thải, an toàn du khách, phòng chống thiên tai và bảo vệ cảnh quan một cách cụ thể, chứ không chỉ nêu trong văn bản. Chính quyền cấp xã cần được trao tay công cụ và hướng dẫn để phối hợp hiệu quả với ban quản lý điểm đến, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng dân cư.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh liên kết giữa du lịch và nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp bản địa có thể trở thành quà tặng, trải nghiệm và câu chuyện văn hóa cho du khách; ngược lại, du lịch mở ra một kênh thị trường mới cho nông sản, hàng thủ công và dịch vụ địa phương. Sự kết hợp hai chiều này giúp tăng thu nhập phi nông nghiệp, giảm phụ thuộc vào một nguồn sinh kế duy nhất, đồng thời qua đó nâng cao khả năng phục hồi của cộng đồng sau mỗi cú sốc.
Sáu là, tăng cường nguồn nhân lực, tài chính bao trùm và vốn xã hội.
Nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để Cao Bằng chuyển từ trạng thái chống chịu thụ động sang chống chịu chủ động. Tỉnh cần phát triển các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn, bám sát nhu cầu thực tế: logistics cửa khẩu, vận hành kho lạnh, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng, chế biến nông sản, kỹ thuật nông nghiệp thích ứng khí hậu, ngoại ngữ giao tiếp cơ bản và kỹ năng số – dành cho cả cán bộ, doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã lẫn thanh niên vùng biên.
Về tài chính, cần mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng phù hợp cho hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ, ưu tiên những mô hình có hợp đồng liên kết rõ ràng, phương án kinh doanh khả thi và khả năng tạo việc làm tại chỗ. Các chương trình hỗ trợ nên tránh dàn trải, mà tập trung vào những chuỗi giá trị có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa thực sự. Bên cạnh tín dụng, cần khuyến khích bảo hiểm rủi ro, quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo quy mô nhỏ, quỹ khuyến công (hỗ trợ, khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn và tiểu thủ công nghiệp) và các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp địa phương.
Với nhiều cộng đồng dân tộc mang bản sắc văn hóa phong phú, quan hệ cộng đồng chặt chẽ và truyền thống tương trợ lâu đời, vì vậy, nếu được tổ chức và phát huy đúng cách, vốn xã hội có thể giúp lan tỏa thông tin nhanh hơn, huy động cộng đồng hiệu quả hơn trong phòng, chống thiên tai, bảo tồn di sản, phát triển du lịch và giữ vững an ninh vùng biên của tỉnh. Điều kiện tiên quyết là chính sách phát triển phải tôn trọng tri thức bản địa, mở rộng sự tham gia thực chất của người dân và bảo đảm lợi ích được phân phối công bằng.
6. Kết luận
Năng lực chống chịu kinh tế của Cao Bằng trong bối cảnh mới cần được nhìn nhận như một năng lực hệ thống – bao gồm khả năng phòng ngừa, hấp thụ, phục hồi và thích ứng trước các cú sốc – chứ không thể quy giản về một vài chỉ số tăng trưởng đơn lẻ. Lợi thế về vị trí biên giới, danh hiệu công viên địa chất toàn cầu UNESCO, sản phẩm nông nghiệp bản địa và vốn văn hóa cộng đồng chính là nền tảng để Cao Bằng có được những con số tăng trưởng không chỉ dừng lại ở một năm thuận lợi.
Tuy nhiên, phía sau các con số tích cực đó, tỉnh vẫn đang đối mặt với những điểm nghẽn không dễ giải quyết trong ngắn hạn: hạ tầng logistics chưa đồng bộ, chi phí vận chuyển cao, doanh nghiệp phần lớn quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chất lượng nhân lực còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu chuyển đổi, rủi ro khí hậu – thiên tai thường trực, cơ cấu hàng hóa biên mậu chưa đa dạng và năng lực quản trị cơ sở chưa đồng đều giữa các địa bàn, sẽ chính những điểm nghẽn làm cản sự tăng trưởng hiện tại, dẫn đến chuyển hóa thành sức chống chịu dài hạn kém.
Vì vậy, sáu nhóm giải pháp đề xuất cần được gắn kết từ việc xây dựng bộ chỉ báo theo dõi năng lực chống chịu cấp tỉnh; nâng cấp kinh tế cửa khẩu theo hướng số hóa và logistics xanh; phát triển nông nghiệp bản địa theo chuỗi giá trị thích ứng khí hậu; nâng cao năng lực quản trị cơ sở và chất lượng phục vụ doanh nghiệp; phát triển du lịch địa chất – cộng đồng bền vững đến tăng cường nguồn nhân lực, tài chính bao trùm và vốn xã hội cần tiếp tục khẳng định trong chiến lược phát triển bền vững của tỉnh, qua đó, đóng góp vào mục tiêu chung về năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Anh Thư (20/01/2026). Cao Bằng: Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 72%, lập kỷ lục giai đoạn 2021 – 2025. Tạp chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/cao-bang–kim-ngach-xuat-nhap-khau-tang-72-lap-ky-luc-giai-doan-2021-2025-407339.htm
Cục Thống kê. (05/01/2026) Thông cáo báo chí về kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-tang-truong-tong-san-pham-tren-dia-ban-grdp-cua-34-tinh-thanh-pho-nam-2025/
Briguglio, L., Cordina, G., Farrugia, N., & Vella, S. (2009). Economic vulnerability and resilience: Concepts and measurements. Oxford Development Studies, 37(3), 229-247.
Kim Dung (17/3/2026). Đoàn công tác Sở Công Thương khảo sát tại Cửa khẩu quốc tế Trà Lĩnh và Cửa khẩu Sóc Giang. Báo Cao Bằng. https://baocaobang.vn/doan-cong-tac-so-cong-thuong-khao-sat-tai-cua-khau-quoc-te-tra-linh-va-cua-khau-soc-giang-3186352.html
Kim Thoa (06/01/2026). Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội năm 2025. Thống kê tỉnh Cao Bằng. https://caobang.gov.vn/tin-tuc-su-kien-83808/hop-bao-cong-bo-so-lieu-thong-ke-kinh-te-xa-hoi-nam-2025-1037277
Hallegatte, S. (2014). Economic resilience: Definition and measurement. World Bank Policy Research Working Paper No. 6852.
Lam Giang. (10/7/2025). Cao Bằng: Du lịch tăng tốc, hướng đến bền vững và bản sắc. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. https://vietnamtourism.gov.vn/post/63787
OECD. (2015). Economic resilience: What role for policies? OECD Economics Department Working Papers.
Thái Bình (07/5/2026). Cao Bằng: Triển khai nền tảng cửa khẩu số tại cửa khẩu Tà Lùng và Trà Lĩnh. Tạp chí Kinh tế – Tài chính. https://tapchikinhtetaichinh.vn/cao-bang-trien-khai-nen-tang-cua-khau-so-tai-cua-khau-ta-lung-va-tra-linh-155475.html
Thống kê tỉnh Cao Bằng (2025). Cao Bằng số liệu thống kê chủ yếu năm 2025 (Tờ gấp kinh tế- xã hội cả năm 2025 tỉnh Cao Bằng). NXB Kinh tế – Tài chính. https://thongkecaobang.nso.gov.vn/to-gap-so-lieu-tinh-hinh-kt-xh/to-gap-kinh-te-xa-hoi-ca-nam-2025-tinh-cao-bang-1422.html
UNDP. (2025). Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2024: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân.
UNESCO. (n.d.). Non nuoc Cao Bang UNESCO Global Geopark. International Geoscience and Geoparks Programme.
VCCI. (2025). PCI 2024: Hồ sơ tỉnh Cao Bằng. The Provincial Competitiveness Index.
VietnamPlus. (2026). UNESCO reaffirms Non Nuoc Cao Bang as global geopark.



