Reforming English language training and professional development for commune-level civil servants and public employees in the new context
ThS. Bùi Thị Phương Lan
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
Email: landhnv@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Nâng cao năng lực tiếng Anh cho đội ngũ làm việc ở cấp xã là một yêu cầu ngày càng rõ trong tiến trình xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở phân tích các chủ trương của Đảng, pháp luật và chính sách hiện hành của Nhà nước, bài viết đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh ở cấp cơ sở. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khung chính sách quốc gia đã chuyển mạnh từ đào tạo theo bằng cấp, chứng chỉ sang phát triển năng lực gắn với vị trí việc làm, học tập thường xuyên và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Tuy nhiên, việc triển khai ở cấp xã còn thiếu khung năng lực tiếng Anh công vụ, chương trình phân hóa theo vị trí việc làm, dữ liệu đánh giá đầu ra và cơ chế gắn kết kết quả bồi dưỡng với hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Bài viết đề xuất mô hình bồi dưỡng theo nhu cầu của vị trí việc làm, chuẩn đầu ra theo năng lực sử dụng tiếng Anh trong công việc, học tập kết hợp và đánh giá sau bồi dưỡng, qua đó nâng cao tính khả thi và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Từ khóa: Đào tạo, bồi dưỡng; năng lực tiếng Anh; công chức cấp xã; viên chức; vị trí việc làm; năng lực công vụ; hội nhập quốc tế.
Abstract: Improving the English proficiency of staff at the commune level is an increasingly pressing need in the process of building a professional administrative system, advancing digital transformation, and promoting international integration. Based on an analysis of the Party’s guidelines, as well as current state laws and policies, this article assesses the current state of English training and professional development at the grassroots level. The research findings indicate that the national policy framework has shifted significantly from degree- and certificate-based training toward competency development tied to job roles, continuous learning, and the ability to work in an international environment. However, implementation at the commune level still lacks a competency framework for official English, job-specific training programs, outcome assessment data, and mechanisms to link training results to the effectiveness of task execution. This article proposes a training model based on job-specific needs, competency-based learning outcomes for English language use in the workplace, blended learning, and post-training evaluation, thereby enhancing the feasibility and efficiency of resource utilization.
Keywords: Training and professional development; English proficiency; commune-level civil servants; job positions; public service competency; international integration.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu xây dựng nền hành chính nhà nước hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 xác định rõ mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong điều kiện mới.
Hiện nay, tiếng Anh không chỉ là một công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện tiếp cận tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của thế giới. Vì vậy, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế.
Việc nâng cao năng lực tiếng Anh cho công chức cấp xã đang trở thành yêu cầu cấp thiết xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển đất nước và đổi mới nền hành chính nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các thể chế kinh tế, chính trị và xã hội toàn cầu, hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương không còn giới hạn trong phạm vi nội bộ mà ngày càng có sự tương tác với các tổ chức, doanh nghiệp và công dân nước ngoài. Điều này đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã phải có khả năng sử dụng tiếng Anh ở mức độ nhất định để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ công vụ.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức thực thi công vụ. Phần lớn tài liệu hướng dẫn, nền tảng công nghệ và công cụ hỗ trợ hiện đại đều sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ chính. Nếu không được trang bị đầy đủ năng lực ngoại ngữ, đội ngũ công chức cấp xã sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với môi trường làm việc mới. Vì vậy, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã không chỉ mang ý nghĩa trước mắt mà còn có giá trị chiến lược trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
2. Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã
2.1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức
Trong nền hành chính nhà nước hiện đại, đào tạo và bồi dưỡng được xem là một trong những công cụ quan trọng để phát triển nguồn nhân lực khu vực công, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động công vụ và hiệu quả quản lý nhà nước. Theo cách tiếp cận quản lý nguồn nhân lực công, đào tạo là quá trình trang bị có hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho người học nhằm đáp ứng yêu cầu của một vị trí việc làm hoặc một lĩnh vực hoạt động nhất định. Trong khi đó, bồi dưỡng là hoạt động cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng và phương pháp làm việc nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình công tác.
Đối với công chức cấp xã, đào tạo và bồi dưỡng không chỉ nhằm chuẩn hóa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn giúp nâng cao khả năng thích ứng với những yêu cầu mới của nền hành chính phục vụ, chính quyền số và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh các năng lực truyền thống như quản lý hành chính, kỹ năng giao tiếp với người dân và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đang trở thành một thành tố quan trọng trong năng lực công vụ của đội ngũ công chức cấp xã.
Đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã có thể được hiểu là quá trình trang bị, cập nhật và phát triển các kiến thức, kỹ năng sử dụng tiếng Anh phục vụ hoạt động công vụ, giúp người học có khả năng giao tiếp, khai thác thông tin, tiếp cận tri thức quốc tế và thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến yếu tố nước ngoài trong phạm vi chức trách được giao. Đây không đơn thuần là hoạt động dạy và học ngoại ngữ mà còn là quá trình nâng cao năng lực thực thi công vụ trong môi trường hành chính hiện đại và hội nhập.
2.2. Vai trò của năng lực tiếng Anh đối với công chức cấp xã trong bối cảnh hiện nay
Về địa vị pháp lý và mục tiêu phát triển năng lực, công chức thực thi công vụ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội và các chủ thể được luật xác định; hoạt động bồi dưỡng vì vậy tập trung trực tiếp vào năng lực thực thi công vụ, yêu cầu vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý hoặc chuyên môn, nghiệp vụ. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ đã tạo bước chuyển rõ sang bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm, học tập thường xuyên và phát triển năng lực công chức (Chính phủ, 2025; Quốc hội, 2025a).
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất trong giao tiếp quốc tế, khoa học và công nghệ, quản trị công và chuyển đổi số. Đối với đội ngũ công chức cấp xã, năng lực tiếng Anh ngày càng có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện.
Một là, tiếng Anh là công cụ hỗ trợ tiếp cận tri thức và kinh nghiệm quản trị hiện đại. Nhiều tài liệu nghiên cứu, mô hình quản lý, kinh nghiệm cải cách hành chính và các giải pháp chuyển đổi số của các quốc gia phát triển được công bố bằng tiếng Anh. Việc có khả năng đọc hiểu và khai thác các nguồn tài liệu này giúp công chức, viên chức mở rộng kiến thức, nâng cao năng lực chuyên môn và cập nhật những xu hướng quản trị tiên tiến trên thế giới.
Hai là, tiếng Anh góp phần nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công. Quá trình hội nhập quốc tế làm gia tăng số lượng người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập và đầu tư tại Việt Nam. Tại nhiều địa phương, đặc biệt là các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu du lịch và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, công chức cấp xã thường xuyên tiếp xúc với các đối tượng này. Khả năng giao tiếp tiếng Anh cơ bản giúp quá trình hướng dẫn thủ tục hành chính, cung cấp thông tin và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp nước ngoài được thực hiện hiệu quả hơn.
Ba là, tiếng Anh hỗ trợ quá trình chuyển đổi số trong khu vực công. Hiện nay, nhiều phần mềm, nền tảng công nghệ, công cụ trí tuệ nhân tạo và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật được xây dựng bằng tiếng Anh. Năng lực ngoại ngữ giúp công chức, viên chức khai thác hiệu quả các công cụ công nghệ mới, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc và chất lượng phục vụ người dân.
Bốn là, tiếng Anh tạo điều kiện cho công chức, viên chức tham gia các chương trình hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm, hội thảo chuyên môn và các khóa đào tạo do tổ chức quốc tế tài trợ. Đây là cơ hội quan trọng để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực quản trị công trong bối cảnh hội nhập.
2.3. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã
Khác với đào tạo ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục phổ thông hoặc đại học, đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã cần được thiết kế trên cơ sở yêu cầu của vị trí việc làm và nhiệm vụ công vụ. Theo quan điểm quản lý công hiện đại, chương trình đào tạo cần hướng tới phát triển năng lực thực hành thay vì chỉ tập trung vào kiến thức ngôn ngữ thuần túy.
Nội dung đào tạo cần bao gồm các nhóm năng lực cơ bản, như: kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong môi trường hành chính; kỹ năng đọc hiểu văn bản, tài liệu chuyên môn; kỹ năng khai thác thông tin từ các nguồn dữ liệu quốc tế; kỹ năng sử dụng tiếng Anh trong môi trường số và khả năng ứng dụng các công cụ công nghệ phục vụ công việc. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển tiếng Anh chuyên ngành hành chính công nhằm giúp công chức, viên chức có khả năng xử lý các tình huống thực tiễn phát sinh trong quá trình thực thi công vụ.
Để bảo đảm hiệu quả, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cần tuân thủ nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, gắn với nhu cầu thực tiễn của cơ quan, đơn vị và vị trí việc làm. Đồng thời, cần kết hợp linh hoạt giữa đào tạo trực tiếp và trực tuyến, tăng cường ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo nhằm tạo điều kiện cho công chức, viên chức học tập thường xuyên, liên tục và suốt đời.
2.4. Yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh trong bối cảnh hiện nay
Xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã phải được đổi mới toàn diện cả về nội dung, phương pháp và cơ chế quản lý. Hoạt động đào tạo cần chuyển từ tiếp cận theo bằng cấp, chứng chỉ sang tiếp cận theo năng lực thực thi công vụ; từ đào tạo đại trà sang đào tạo theo nhu cầu vị trí việc làm; từ chú trọng kiến thức ngôn ngữ sang phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh trong thực tiễn công việc. Đồng thời, cần xây dựng khung năng lực tiếng Anh phù hợp với từng nhóm chức danh công chức cấp xã, làm cơ sở cho việc xác định nhu cầu đào tạo, đánh giá kết quả học tập và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
3. Quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức
Quan điểm nhất quán của Đảng trong giai đoạn mới là phát triển đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, thích ứng với quản trị hiện đại, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 đặt yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia làm nổi bật yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ mới. Trong điều kiện phần lớn tri thức khoa học – công nghệ quốc tế được phổ biến bằng tiếng Anh, năng lực ngoại ngữ cần được nhìn nhận như một năng lực hỗ trợ cho thực thi công vụ, học tập suốt đời và hội nhập, chứ không chỉ là tiêu chí chứng chỉ (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022; Bộ Chính trị, 2024).
Định hướng hội nhập quốc tế tiếp tục được nâng lên trong giai đoạn 2025-2026. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy tham gia sang chủ động đóng góp, xây dựng và định hình các khuôn khổ hợp tác; Đại hội XIV của Đảng đặt hội nhập quốc tế và phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong tổng thể các chuyển đổi chiến lược. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, điều này làm gia tăng yêu cầu về năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, trong đó ngoại ngữ là công cụ nền tảng (Bộ Chính trị, 2025).
Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 19/11/2019 phê duyệt Đề án “Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2019-2030” là căn cứ trực tiếp nhất. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 có 30% cán bộ, công chức xã và 25% cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý cấp xã dưới 40 tuổi, công tác tại địa bàn hoặc lĩnh vực có yêu cầu sử dụng ngoại ngữ, đạt trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên và ngoại ngữ chuyên ngành; đối với viên chức, mục tiêu là 70% viên chức và 60% viên chức lãnh đạo, quản lý đạt trình độ ngoại ngữ bậc 4 trở lên và ngoại ngữ chuyên ngành. Chính sự khác nhau về mục tiêu định lượng này cho thấy chính sách quốc gia đã phân hóa yêu cầu giữa công chức cấp xã và viên chức (Thủ tướng Chính phủ, 2019).
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 tiếp tục xác định xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực, phẩm chất và cơ cấu hợp lý là một nội dung trọng tâm; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với vị trí việc làm và yêu cầu nâng cao chất lượng thực thi nhiệm vụ (Chính phủ, 2021). Đối với công chức, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 đã tạo khung pháp lý mới, nhấn mạnh bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý và vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; Thông tư số 03/2026/TT-BNV ngày 26/3/2026 tiếp tục hướng dẫn triển khai, trong đó có công cụ đánh giá học viên và hiệu quả sau bồi dưỡng (Bộ Nội vụ, 2026; Chính phủ, 2025; Quốc hội, 2025a).
Một định hướng mới có ý nghĩa trực tiếp là Quyết định số 892/QĐ-TTg ngày 20/5/2026 phê duyệt Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế giai đoạn 2026-2031. Đề án yêu cầu xác định năng lực cần thiết, bám sát vị trí việc làm, tăng cường số hóa nội dung, kết hợp bồi dưỡng với trải nghiệm thực tế và chuyển dần từ bồi dưỡng đại trà sang khu biệt hóa, cá nhân hóa. Đây là căn cứ quan trọng để thiết kế lại bồi dưỡng tiếng Anh ở cấp cơ sở theo hướng “tiếng Anh để thực hiện nhiệm vụ” thay cho “tiếng Anh để có chứng chỉ” (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
4. Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã
Thực trạng cần được xem xét trên hai bình diện: mức độ hoàn thiện của thể chế và năng lực triển khai tại cơ sở. Về thể chế, Việt Nam đã hình thành tương đối rõ các mục tiêu quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức đến năm 2030, đồng thời đổi mới pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm. Đây là điều kiện thuận lợi để các bộ, ngành, địa phương chuyển từ tổ chức lớp học theo kế hoạch hành chính sang quản trị phát triển năng lực.
Đáng chú ý, Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 19/11/2019 đã đặt riêng mục tiêu cho cán bộ, công chức xã làm việc tại địa bàn hoặc lĩnh vực có yêu cầu sử dụng ngoại ngữ. Tuy nhiên, các mục tiêu của Đề án là chỉ tiêu chính sách, không phải số liệu chứng minh mức độ đạt được trên thực tế. Bài viết chưa có dữ liệu tổng kết quốc gia đến hết năm 2025 về tỷ lệ công chức cấp xã hoặc viên chức đã đạt các bậc ngoại ngữ nêu trên; vì vậy, cần tránh chuyển mục tiêu kế hoạch thành “kết quả đạt được”. Việc đánh giá thực trạng chính xác cần dựa trên báo cáo tổng kết Đề án và dữ liệu của từng địa phương.
Về phương thức tổ chức, sự phát triển của nền tảng học trực tuyến, hệ thống quản lý học tập và các công cụ trí tuệ nhân tạo tạo điều kiện để triển khai bồi dưỡng linh hoạt hơn, nhất là đối với người học vừa làm vừa học. Tuy nhiên, công nghệ chỉ tạo ra hiệu quả khi chương trình có chuẩn đầu ra, học liệu phù hợp, cơ chế bảo vệ dữ liệu và phương thức kiểm tra bảo đảm tính xác thực. Vì vậy, không nên coi việc đưa công cụ số vào lớp học tự thân là bằng chứng về hiệu quả bồi dưỡng.
Từ đối chiếu yêu cầu chính sách với mô hình triển khai phổ biến, có thể nhận diện năm nhóm vấn đề cần ưu tiên xử lý.
Thứ nhất, thiếu dữ liệu năng lực và bản đồ nhu cầu theo vị trí việc làm. Nhu cầu sử dụng tiếng Anh của công chức tại địa bàn du lịch, khu công nghiệp, cửa khẩu hoặc nơi có nhiều doanh nghiệp FDI khác đáng kể so với địa bàn ít phát sinh giao dịch quốc tế. Tương tự, nhu cầu của viên chức giáo dục, y tế, văn hóa khác nhau về thuật ngữ và tình huống nghề nghiệp. Nếu không đánh giá đầu vào và phân tích nhiệm vụ công việc, việc tổ chức bồi dưỡng đại trà dễ dẫn đến lãng phí nguồn lực.
Thứ hai, khoảng cách giữa ngoại ngữ tổng quát và tiếng Anh theo nhiệm vụ vẫn là rủi ro lớn. Mục tiêu của bồi dưỡng công chức không phải tái tạo chương trình tiếng Anh phổ thông mà là phát triển khả năng hoàn thành những tác vụ cụ thể: đọc và khai thác tài liệu, viết thư điện tử công vụ, hướng dẫn thủ tục, trao đổi thông tin, sử dụng nền tảng số và tham gia hoạt động đối ngoại. Với viên chức, nội dung phải chuyển sang tiếng Anh nghề nghiệp tương ứng với lĩnh vực dịch vụ công.
Thứ ba, phương pháp và thời lượng học chưa luôn phù hợp với đặc thù người trưởng thành đang công tác. Bồi dưỡng hiệu quả cần kết hợp học trực tuyến không đồng bộ, lớp tương tác trực tiếp, thực hành tình huống và nhiệm vụ tại nơi làm việc. Mô hình học tập kết hợp và microlearning có lợi thế về tính linh hoạt, nhưng cần được đặt trong một lộ trình có giảng viên phản hồi và đánh giá tiến bộ, thay vì chỉ cung cấp tài khoản học trực tuyến.
Thứ tư, động lực học tập chưa thể chỉ dựa vào yêu cầu về chứng chỉ. Khi ngoại ngữ không được sử dụng trong công việc hoặc kết quả bồi dưỡng không gắn với phân công nhiệm vụ, cơ hội tham gia hoạt động quốc tế và phát triển nghề nghiệp, khả năng duy trì năng lực sẽ thấp. Cơ chế khuyến khích, vì vậy, cần chuyển từ “có chứng chỉ” sang “sử dụng được trong nhiệm vụ”, đồng thời tránh biến ngoại ngữ thành điều kiện hành chính cứng nhắc đối với mọi vị trí không có nhu cầu thực tế.
Thứ năm, đánh giá hiệu quả sau bồi dưỡng còn là khâu cần được tăng cường. Thông tư số 03/2026/TT-BNV đã cung cấp hướng dẫn và biểu mẫu đánh giá đối với bồi dưỡng công chức, trong đó có đánh giá học viên và hiệu quả sau bồi dưỡng. Đây là cơ sở để chuyển từ đánh giá mức độ hài lòng hoặc điểm cuối khóa sang đánh giá khả năng chuyển giao kết quả học tập vào công việc (Bộ Nội vụ, 2026). Với viên chức, cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế tương ứng gắn với chất lượng thực hiện hoạt động nghề nghiệp.
Tóm lại, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc tổ chức nhiều hay ít lớp tiếng Anh, mà ở mức độ phù hợp giữa nhu cầu vị trí việc làm – nội dung bồi dưỡng – chuẩn đầu ra – môi trường sử dụng – đánh giá sau bồi dưỡng. Khoảng trống dữ liệu về kết quả thực hiện Quyết định số 1659/QĐ-TTg ở cấp xã cũng cho thấy cần thiết lập hệ thống theo dõi thống nhất để các quyết định đầu tư đào tạo dựa trên bằng chứng.
5. Một số giải pháp
Đổi mới cần được triển khai theo nguyên tắc “đúng người – đúng năng lực thiếu hụt – đúng nhiệm vụ – đo được kết quả”. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng bồi dưỡng theo vị trí việc làm của pháp luật về công chức năm 2025-2026 và định hướng cá nhân hóa bồi dưỡng năng lực làm việc trong môi trường quốc tế của Quyết định số 892/QĐ-TTg ngày 20/5/2026.
Một là, xây dựng khung năng lực tiếng Anh theo nhóm vị trí việc.
Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở đào tạo công vụ và địa phương nên xây dựng khung tham chiếu tiếng Anh công vụ theo tác vụ, có thể đối sánh với Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam nhưng không đồng nhất bậc ngoại ngữ với năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Khung nên xác định tối thiểu bốn nhóm năng lực: đọc – khai thác thông tin; giao tiếp và hướng dẫn; viết và trao đổi công vụ; sử dụng tiếng Anh trong môi trường số. Mỗi vị trí chỉ áp dụng những năng lực thực sự cần thiết.
Hai là, thiết kế chương trình theo mô-đun nhiệm vụ và cá nhân hóa lộ trình học.
Trước khóa học, người học thực hiện đánh giá đầu vào và khảo sát nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, hệ thống đề xuất mô-đun bắt buộc và tự chọn. Chẳng hạn, công chức bộ phận một cửa có thể học mô-đun “hướng dẫn thủ tục và tiếp nhận yêu cầu bằng tiếng Anh”; vị trí kinh tế – đầu tư học “trao đổi với doanh nghiệp và đọc tài liệu đầu tư”; viên chức y tế học “giao tiếp y tế cơ bản và đọc hướng dẫn chuyên môn”. Mỗi mô-đun cần có sản phẩm đầu ra có thể quan sát được thay vì chỉ có bài kiểm tra ngữ pháp.
Lộ trình nên tổ chức theo chu kỳ 6-12 tháng, chia thành các đơn vị học ngắn 10-20 phút kết hợp buổi thực hành định kỳ. Cách này phù hợp với áp lực công việc ở cấp cơ sở và tạo điều kiện duy trì năng lực. Địa phương có thể dùng chung học liệu nền tảng để tiết kiệm kinh phí, nhưng bổ sung ngân hàng tình huống riêng theo đặc thù địa bàn.
Nội dung số và trí tuệ nhân tạo cần được tích hợp như công cụ luyện tập có kiểm soát: mô phỏng hội thoại, phản hồi phát âm, hỗ trợ đọc hiểu và luyện viết. Đối với tài liệu công vụ có dữ liệu cá nhân, thông tin nội bộ hoặc thông tin chưa công khai, người học không được nhập trực tiếp vào công cụ AI công cộng; cơ quan cần có hướng dẫn về bảo mật, kiểm chứng nội dung và trách nhiệm của người sử dụng.
Ba là, chuyển từ “học theo lớp” sang hệ sinh thái học tập kết hợp và học tập tại nơi làm việc.
Mỗi khóa bồi dưỡng nên kết hợp ba thành phần: tự học số để hình thành kiến thức và từ vựng; lớp tương tác để thực hành tình huống; nhiệm vụ tại nơi làm việc để chuyển giao kỹ năng. Người quản lý trực tiếp cần tham gia xác định nhu cầu và xác nhận mức độ vận dụng sau khóa học. Đây là điểm quyết định để kết nối bồi dưỡng với hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
Có thể áp dụng tỷ lệ tham khảo 60-20-20: khoảng 60% thời lượng cho tự học có hướng dẫn và thực hành ngắn; 20% cho tương tác với giảng viên/nhóm; 20% cho nhiệm vụ ứng dụng tại nơi làm việc. Tỷ lệ này không phải chuẩn bắt buộc mà là phương án tổ chức có thể điều chỉnh theo trình độ đầu vào và đặc thù vị trí.
Bốn là, xây dựng hạ tầng học liệu số và ứng dụng AI theo nguyên tắc an toàn, tiết kiệm, có khả năng đo lường.
Thay vì mỗi địa phương tự mua nhiều nền tảng rời rạc, cần phát triển kho học liệu số dùng chung về tiếng Anh công vụ, có ngân hàng tình huống, thuật ngữ, mẫu hội thoại và bài tập theo vị trí việc làm. Hệ thống quản lý học tập cần lưu được dữ liệu tiến bộ, thời lượng học, kết quả nhiệm vụ và phản hồi của người quản lý, qua đó phục vụ đánh giá hiệu quả đầu tư.
AI nên được dùng để cá nhân hóa bài tập và tăng tần suất thực hành, không thay thế giảng viên hoặc đánh giá chính thức. Cần quy định rõ công cụ được phép sử dụng, loại dữ liệu không được đưa lên nền tảng công cộng, cơ chế kiểm chứng đầu ra AI và yêu cầu minh bạch khi sử dụng AI để hoàn thành bài tập.
Trong dài hạn, Bộ Nội vụ có thể chủ trì nền tảng học liệu dùng chung cho tiếng Anh công vụ; bộ quản lý ngành và địa phương phát triển lớp học liệu chuyên ngành, chuyên địa bàn. Cơ chế này giảm trùng lặp đầu tư nhưng vẫn cho phép cá nhân hóa nội dung.
Năm là, đánh giá hiệu quả theo bốn tầng và gắn kết quả với sử dụng nhân lực.
Đánh giá nên thực hiện ở bốn tầng: (1) mức độ tham gia và phản hồi của người học; (2) mức tăng năng lực qua đánh giá trước – sau; (3) mức độ sử dụng tiếng Anh trong nhiệm vụ sau 3-6 tháng; và (4) tác động đối với chất lượng, thời gian hoặc khả năng xử lý công việc có yếu tố quốc tế. Với công chức, có thể vận dụng hệ thống biểu mẫu đánh giá sau bồi dưỡng theo Thông tư số 03/2026/TT-BNV. Kết quả không nên dùng máy móc để xếp loại mọi công chức mà ưu tiên làm căn cứ phân công nhiệm vụ, lựa chọn nhân sự cho hoạt động đối ngoại, hội nhập và xác định nhu cầu bồi dưỡng tiếp theo.
Sáu là, tổ chức thí điểm theo nhóm địa bàn trước khi nhân rộng.
Trong giai đoạn 2026-2028, nên lựa chọn một số địa phương có nhu cầu sử dụng tiếng Anh rõ rệt như đô thị lớn, trung tâm du lịch, khu vực có khu công nghiệp, FDI hoặc hoạt động đối ngoại thường xuyên để thí điểm. Mỗi thí điểm cần có số liệu đầu vào, nhóm vị trí việc làm, chi phí/người học, tỷ lệ hoàn thành, mức tăng năng lực và kết quả vận dụng sau bồi dưỡng. Sau 12 tháng, tiến hành đánh giá độc lập để quyết định mô hình nào có thể nhân rộng. Cách làm này giảm rủi ro đầu tư đại trà và tạo bằng chứng thực nghiệm cho chính sách.
6. Kết luận
Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cấp xã phải bắt đầu từ việc phân biệt đúng địa vị pháp lý, tính chất công việc và nhu cầu năng lực của từng nhóm. Khung chính sách hiện hành – đặc biệt là Quyết định số 1659/QĐ-TTg, Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 171/2025/NĐ-CP, Thông tư số 03/2026/TT-BNV và Quyết định số 892/QĐ-TTg đã tạo cơ sở để chuyển từ tư duy đào tạo theo chứng chỉ sang phát triển năng lực theo vị trí việc làm và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Nhiệm vụ tiếp theo là cụ thể hóa thành khung năng lực tiếng Anh công vụ, chương trình mô-đun, học tập kết hợp, cơ chế đánh giá sau bồi dưỡng và hệ thống dữ liệu theo dõi. Chỉ khi kết quả học tập được chuyển hóa thành năng lực thực hiện nhiệm vụ thì đầu tư cho ngoại ngữ mới thực sự góp phần nâng cao chất lượng công vụ, dịch vụ công và năng lực hội nhập từ cấp cơ sở.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 20/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Nội vụ (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BNV ngày 26/3/2026 hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 171/2025/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.
Chính phủ (2025). Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Council of Europe (2020). Common European Framework of Reference for Languages: Learning, teaching, assessment – Companion volume. Council of Europe Publishing.
Noe, R. A. (2020). Employee training and development (8th ed.). McGraw-Hill Education.
Quốc hội (2025a). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2019). Quyết định số 1659/QĐ-TTg ngày 19/11/2019 phê duyệt Đề án “Chương trình quốc gia về học tập ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2019-2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 892/QĐ-TTg ngày 20/5/2026 phê duyệt Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đủ năng lực làm việc trong môi trường quốc tế trong kỷ nguyên mới giai đoạn 2026-2031.



