Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Strengthening the institutional framework for Party building to enhance the Party’s leadership and governing capacity

TS. Nguyễn Thị Thanh Bình
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: binhntt127@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng trong bối cảnh hiện nay, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển cả thực tiễn và lý luận. Qua 40 năm đổi mới cho thấy, Đảng đã nỗ lực cải cách, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, tuy vậy, vẫn còn những điểm nghẽn trong quy định và thực hiện công tác xây dựng Đảng. Đại hội XIV đã xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trong đó nhấn mạnh việc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng là một bộ phận quan trọng góp phần hoàn thiện thể chế của hệ thống chính trị, có sự tham gia của nhiều tổ chức và cá nhân nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Từ khóa: Xây dựng Đảng; công tác xây dựng Đảng; hoàn thiện thể chế; năng lực lãnh đạo; năng lực cầm quyền.

Abstract: This article highlights the importance and necessity of improving the institutional framework for Party building in the current context, viewing this as a central task for advancing both practice and theory. The past 40 years of Doi Moi have shown that the Party has made efforts to reform and improve its leadership methods; however, there are still bottlenecks in the regulations and implementation of Party building. The 14th Party Congress clearly defined the tasks and solutions for enhancing the Party’s leadership capacity, emphasizing that improving the institutional framework for Party-building is a crucial component contributing to the improvement of the political system’s institutional framework, with the participation of many organizations and individuals to enhance the Party’s leadership and governance capabilities.

Keywords: Party building; Party-building work; institutional improvement; leadership capacity; governance capacity.

1. Đặt vấn đề

Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng là nội dung quan trọng, được đặt trong tổng thể hoàn thiện thể chế của hệ thống chính trị, nhất là trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thích ứng với quá trình xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng đã chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, trong đó lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương được xác định là phương thức đầu tiên và rất quan trọng. Trong thời gian qua, Đảng đã hoàn thiện hệ thống văn bản, như: nghị quyết, quy chế, quy định; hoàn thiện việc phân cấp, phân quyền cho các cấp ủy, tổ chức đảng; hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện các nghị quyết, quy định, nguyên tắc của Đảng ở tất cả các cấp. Tuy nhiên, vẫn còn những điểm nghẽn trong công tác xây dựng Đảng bởi những quy chế, quy định của Đảng ban hành còn chậm được bổ sung, hoàn thiện: “Công tác nghiên cứu lý luận xây dựng Đảng còn hạn chế; xây dựng thể chế, cơ chế, tổ chức hoạt động của Đảng chậm đổi mới, hoàn thiện, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong điều kiện mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.265 – SAI?). Tình trạng trùng lắp, bất cập của một số văn bản vẫn còn, tính thời hiệu không rõ ràng dẫn đến hiệu lực và hiệu quả thực thi còn thấp.

Vì vậy, nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng định hướng nhiệm vụ, giải pháp: “Tập trung tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế chính trị vững mạnh, hiệu quả, trong đó tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; xác định rõ và hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tránh trùng lặp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.265).

2. Vai trò hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng

Một là, kịp thời cập nhật, thể chế hóa, cụ thể hóa Cương lĩnh chính trị, nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; các quan điểm, chủ trương mới của Đảng về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Cương lĩnh chính trị, nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng là các văn kiện đặc biệt quan trọng, nhưng chỉ có thể nêu những mục tiêu, định hướng, quan điểm chỉ đạo, chủ trương lớn về công tác xây dựng Đảng. Để Cương lĩnh, nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đi vào hoạt động xây dựng Đảng của các cấp ủy, tổ chức, cơ quan đảng, các văn kiện cần được thể chế hóa, cụ thể hóa thành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy chế, quy định cụ thể. Xuất phát từ các định hướng lớn về phát triển đất nước và tình hình thực tế công tác xây dựng Đảng, Đảng thường xuyên có sự bổ sung chủ trương về xây dựng Đảng. Theo đó, cần thường xuyên, kịp thời bổ sung, hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, nhất là các quy chế, quy định để không bị lỗi thời, không còn phù hợp với thực tiễn, gây trở ngại cho việc thực hiện.   

Hai là, tạo cơ sở và bảo đảm tính thống nhất, tính cụ thể, tính minh bạch, dễ thực hiện, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm (nếu có) trong hoạt động xây dựng Đảng

Các chủ trương về xây dựng Đảng và trong công tác xây dựng Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết Hội nghị Trung ương chuyên đề về xây dựng Đảng mang tính khái quát cao và được áp dụng chung trong toàn Đảng. Nhận thức, cách hiểu về các chủ trương đó có thể không giống nhau, từ đó hành động có thể không thật thống nhất. Vì vậy, việc kịp thời hoàn thiện thể chế, hướng dẫn cụ thể về nội dung và cách thức, quy trình, trách nhiệm trong tổ chức thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương về công tác xây dựng Đảng sẽ giúp các cấp ủy, tổ chức, cơ quan đảng thuận lợi trong thực hiện; bảo đảm sự thống nhất giữa các cấp, các tổ chức đảng; có cơ sở đề kiểm tra, giám sát và đôn đốc đối với những biểu hiện chậm trễ, chấn chỉnh các lệch lạc và xử lý vi phạm.

Khi các chủ trương đã được quy chế hóa thành quy định sẽ tránh được tình trạng kết luận chung chung, không có căn cứ để xử lý kỷ luật; ngược lại, khi các chủ trương đã trở thành quy định, thì việc xử lý sẽ rất thuận lợi. Chẳng hạn, những năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương đã đưa việc nêu gương của cán bộ, đảng viên thành quy định trách nhiệm; nhờ vậy, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cấp ủy và ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp dưới có thể viện quy định này để thi hành kỷ luật cán bộ, đảng viên vì đã “vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương”; Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành quy định những điều đảng viên không được làm, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp có thể xử lý đảng viên vì đã “vi phạm quy định những điều đảng viên không được làm”. Tương tự, Bộ Chính trị đã ban hành các mẫu quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo đảng và yêu cầu tất cả các cơ quan lãnh đạo đảng phải xây dựng quy chế làm việc; nhờ vậy, khi xem xét tổ chức đảng, đảng viên có dấu hiệu vi phạm có thể thi hành kỷ luật cấp ủy, cán bộ, đảng viên vì đã “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc”.   

Ba là, khắc phục những bất cập trong thể chế về công tác xây dựng Đảng hiện hành, thực hiện Đảng chủ động tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Trong thực tiễn xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm không tránh khỏi có những thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí vi phạm. Những thiếu sót, khuyết điểm của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có nguyên nhân từ thể chế. Để khắc phục tận gốc những thiếu sót, khuyết điểm đó phải hoàn thiện thể chế, nhất là những tháo gỡ các vướng mắc, “nút thắt”, “điểm nghẽn” về thể chế. Chẳng hạn, vấn đề quan hệ giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy với vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của bí thư cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy đồng thời đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang dễ có những vướng mắc.

Theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thẩm quyền, trách nhiệm lãnh đạo thuộc về tập thể và chỉ của tập thể, các cá nhân – kể cả cá nhân là người đứng đầu – chỉ được giao phụ trách một số mặt công tác, không được tự mình quyết định. Trong khi đó, người đứng đầu, nhất là người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị quân đội, công an, có vai trò đặc biệt quan trọng và phải chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và trước cấp trên; hơn nữa, hiện nay Đảng khuyến khích và yêu cầu cán bộ, nhất là người đứng đầu, phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Riêng trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã nêu chủ trương thí điểm việc người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu với cấp có thẩm quyền để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu; giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định đó (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Tuy nhiên, trên thực tế, mối quan hệ giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy với vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu vẫn chưa được quy định rõ ràng. Thậm chí, ranh giới giữa trách nhiệm chính trị, trách nhiệm chính, trách nhiệm liên đới của người đứng đầu cũng chưa được phân định một cách tường minh.

Đảng đã xác định phải chủ động tự đổi mới, tự chỉnh đốn bằng việc phòng ngừa từ sớm, từ xa các hạn chế, tiêu cực, sai phạm. Muốn vậy, cùng với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, cần hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng trên cơ sở nghiên cứu, dự báo các khuynh hướng, diễn biến tiêu cực có thể nảy sinh, thực hiện “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”. Đặc biệt, qua theo dõi, kiểm tra, giám sát, cần sớm phát hiện ra các vướng mắc, “điểm nghẽn”, “nút thắt” và những sơ hở, “lỗ hổng” có thể bị lợi dụng trong thể chế, nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó và tìm giải pháp tháo gỡ, khắc phục từ thể chế. Trước mắt, để thực hiện có hiệu quả việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cần hoàn thiện nhiều quy chế, quy định cả trong công tác cán bộ, trong công tác kiểm tra, giám sát và trong phương thức lãnh đạo của Đảng.   

Bốn là, bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế về công tác xây dựng Đảng với thể chế xây dựng, hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đảng là một bộ phận, đồng thời là lực lượng lãnh đạo cả hệ thống chính trị. Thể chế về công tác xây dựng Đảng không chỉ điều chỉnh tổ chức và hoạt động của bản thân Đảng, mà còn chi phối mạnh mẽ, sâu sắc thể chế tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng sẽ bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong đổi mới, hoàn thiện thể chế xây dựng Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng cũng là việc thể chế hóa những chủ trương mới của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội với Nhân dân; hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong thời kỳ mới. Thể chế về công tác xây dựng Đảng càng được hoàn thiện, cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị càng đồng bộ, nhịp nhàng vì sự phát triển chung của đất nước và đời sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Trong thực tế, có những vướng mắc trong hoạt động, quan hệ công tác giữa một số cơ quan nhà nước cần được tháo gỡ từ phía Đảng, từ thể chế tổ chức và hoạt động của Đảng, điển hình là tình trạng một số cơ quan nhà nước chịu sự lãnh đạo đồng thời của hai cấp ủy cấp trên trực tiếp, nên thường phải báo cáo, xin ý kiến của hai cấp ủy và các cơ quan tham mưu, giúp việc của hai cấp ủy, mất nhiều thời gian chờ đợi kết luận, đôi khi ý kiến của các cấp ủy, cơ quan tham mưu cấp trên không thống nhất, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước. Nhiều năm nay, Đảng luôn yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm khắc phục cả tình trạng bao biện, làm thay Nhà nước và buông lỏng lãnh đạo đối với Nhà nước. Để khắc phục các khuynh hướng này, cùng với việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy và cán bộ lãnh đạo đảng, cần có những đột phá trong thể chế về công tác xây dựng Đảng.  

Hiện nay, nước ta đang thực hiện những đổi mới mang tính cách mạng trong điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp xã, xây dựng chính quyền hai cấp và kiện toàn tổ chức của hệ thống chính trị. Những thay đổi này đòi hỏi phải bổ sung, điều chỉnh lớn về thể chế hoạt động của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó, có những thể chế chưa có tiền lệ, có những thể chế đã áp dụng ổn định liên tục từ khi mới có chính quyền nay phải thay đổi. Để thực hiện thành công công cuộc đổi mới tổ chức của hệ thống chính trị lần này, bảo đảm xây dựng Nhà nước vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chuyển từ quản lý sang kiến tạo, phục vụ; xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thật sự vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, xứng đáng với vai trò cơ sở chính trị của Đảng và Nhà nước, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân, cần hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội phù hợp với điều kiện mới.

Năm là, góp phần phát huy dân chủ trong Đảng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vai trò của Nhân dân.

Đảng tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó dân chủ trong Đảng là cơ sở để tạo lập sự thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng. Để phát huy dân chủ cần có cơ chế, quy định, hình thức thực hiện phù hợp, tức là có thể chế dân chủ đúng đắn. Thể chế đó phải tạo điều kiện để tất cả mọi đảng viên đều có thể phát biểu, thể hiện hết ý kiến của mình đóng góp xây dựng Đảng và hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng, đặc biệt là bảo vệ cái đúng và đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong tổ chức đảng, tránh tình trạng độc đoán, mất dân chủ, dân chủ hình thức…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê phán tình trạng mất dân chủ trong Đảng: “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.319-320).

Đảng ta đã có nhiều quy chế, quy định để thực hiện dân chủ trong Đảng, trực tiếp là trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, trong sinh hoạt tổ chức cơ sở đảng. Tuy nhiên, công việc này cần được tiếp tục hoàn thiện, nhất là cơ chế dân chủ trong công tác tổ chức, cán bộ trong điều kiện chưa ngăn chặn triệt để được tình trạng chạy chức, chạy quyền chạy chỗ, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy kỷ luật; tình trạng cục bộ địa phương.  

Cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định, dân chủ trong Đảng là kiểu mẫu, tạo sức lan tỏa sâu rộng đối với dân chủ trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, các tổ chức khác và dân chủ trong toàn xã hội. Thể chế về công tác xây dựng Đảng được hoàn thiện, bảo đảm phát huy đầy đủ dân chủ trong Đảng sẽ là mẫu mực để hoàn thiện cơ chế phát huy dân chủ trong thể chế về xây dựng Nhà nước, nhất là trong hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; trong việc các cơ quan này quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương.

Trong thể chế về công tác xây dựng Đảng có nội dung quan trọng là cơ chế, cách thức dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Cho đến nay, việc dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng mới chủ yếu là động viên Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia đóng góp vào dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội đảng các cấp; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Nếu bổ sung thêm được các cơ chế, hình thức tổ chức phù hợp hơn, định hình rõ thể chế dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, thì sẽ phát huy tốt hơn vai trò, trí tuệ của Nhân dân góp phần thiết thực vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thể hiện tình cảm, niềm tin và trách nhiệm của Nhân dân đối với Đảng.

3. Thẩm quyền, trách nhiệm và nội dung hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng

Hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng là toàn bộ các hoạt động của Đảng, với sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị và Nhân dân để bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi thể chế hiện hành, nhằm phát huy các nội dung hợp lý, khắc phục các hạn chế trong hệ thống tổ chức và các văn bản về công tác xây dựng Đảng để đạt tới mục tiêu, yêu cầu xây dựng Đảng trong từng thời kỳ.

Về chủ thể: cấp có thẩm quyền (Trung ương Đảng: Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra Trung ương và các ban tham mưu của Đảng cấp Trung ương; cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp (ban hành các văn bản theo thẩm quyền).

Về đối tượng: các văn bản ban hành theo thẩm quyền theo Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng, như nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định, kết luận… của cấp có thẩm quyền.

Thể chế gồm nhiều cấp độ, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, nên việc hoàn thiện được thực hiện theo phân cấp, gồm: (1) Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ quan duy nhất có quyền sửa đổi Điều lệ Đảng; Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế, quyết định các vấn đề lớn; Bộ Chính trị ban hành nghị quyết, kết luận, quy chế, quy định về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; Ban Bí thư hướng dẫn chi tiết thi hành. (2) Các cấp ủy trực thuộc Trung ương đến cấp ủy cơ sở tổ chức thi hành, phát hiện vướng mắc và đề xuất kiến nghị cấp trên; trong khi chưa có kết luận của cấp trên vẫn phải thực hiện theo quy định hiện hành. (3) Ủy ban kiểm tra của cấp ủy tham mưu hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, giữ mối liên hệ phối hợp với các cơ quan nội chính. (4) Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, trước hết là ban tổ chức, nhất là Ban Tổ chức Trung ương, có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu, thẩm định, thẩm tra các đề án về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, đảng viên. (5) Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, cấp ủy viên có trách nhiệm tham gia đóng góp ý kiến qua nhiều hình thức; người đứng đầu chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên về mức độ kịp thời và chất lượng các văn bản do cấp mình ban hành. (6) Các tổ chức trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc và Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, trong đó Nhân dân là một trong những chủ thể xây dựng Đảng và cả hoàn thiện thể chế.

Hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, bao gồm: hoàn thiện thể chế về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và đội ngũ cán bộ; các thể chế này phải gắn bó, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau. Đây là công việc đặc biệt hệ trọng nên cần được tiến hành khoa học, khách quan, theo quy trình hợp lý, thận trọng, với 5 nội dung chủ yếu:

Thứ nhất, thường xuyên rà soát thể chế trên từng mặt và tổng thể. Cần rà soát, đánh giá đầy đủ tính hợp lý, giá trị thực tế của các thể chế đã ban hành, chỉ rõ những thể chế còn thiếu, những thể chế lỗi thời cần bãi bỏ, nội dung cần bổ sung, sửa đổi; cập nhật quan điểm, chủ trương mới của Đảng và phát triển mới của khoa học xây dựng Đảng.

Thứ hai, tổng kết thực tiễn việc thực hiện thể chế. Tiến hành tổng kết nghiêm túc, khách quan, chú ý các “điểm nghẽn”, “nút thắt”, “rào cản” về thể chế; đánh giá mức độ thống nhất, thông suốt trong hoạt động giữa các tổ chức; xem xét lại cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cơ quan đảng; đặc biệt quan tâm phân công, phân cấp, phân quyền, ủy quyền và tình trạng chồng chéo, trùng lắp chức năng theo nguyên tắc “một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”.

Thứ ba, tổ chức thực hiện quy trình nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế. Các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cần tiến hành quy trình khoa học, chặt chẽ; nghiên cứu kỹ căn cứ chính trị, pháp lý, thực tiễn; trù liệu tác động; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của các cấp ủy, tổ chức, cơ quan đảng, các cơ quan khoa học, cán bộ đảng có kinh nghiệm, chuyên gia; thực hiện nghiêm việc tiếp thu ý kiến, kể cả ý kiến mang tính phản biện; cải tiến quy trình, thủ tục, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.

Thứ tư, thực hiện thí điểm và ban hành chính thức các quy chế, quy định mới. Trước khi ban hành chính thức các quy định có sự thay đổi lớn cần làm thí điểm ở nơi có đặc điểm điển hình, nơi có nhiều vướng mắc, khó khăn nhất. Sau thời gian thí điểm cần tổng kết nghiêm túc để khẳng định nội dung hợp lý, nhận ra nội dung chưa hợp lý và hướng chỉnh sửa, như V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ dẫn.

Thứ năm, kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, giải quyết các vấn đề phát sinh. Cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình xây dựng thể chế; đặc biệt chú ý biểu hiện chi phối của cá nhân người đứng đầu, “nhóm lợi ích”, áp đặt ý chí chủ quan, tham nhũng chính sách; thực hiện “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm trong xây dựng, ban hành quy chế, quy định.

4. Kết luận

Hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng là yêu cầu tất yếu, khách quan, là “đột phá của đột phá” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh hiện nay. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, xuyên suốt, đặt Đảng trước yêu cầu chủ động tự đổi mới, tự chỉnh đốn để bảo đảm luôn trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, cầm quyền đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.

Việc hoàn thiện thể chế phải được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, các tổ chức trong hệ thống chính trị; bám sát thực tiễn, kế thừa những mặt hợp lý, khắc phục những hạn chế; gắn kết “xây” và “chống”. Thành công của công cuộc hoàn thiện thể chế công tác xây dựng Đảng sẽ góp phần quyết định nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và niềm tin của Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2026). Quy định số 399-QĐ/TW ngày 09/01/2026 về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, Tập 5. Nxb Chính trị quốc gia.
Tô Lâm (2025). Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình. Tạp chí Cộng sản số 1.061 (5-2025), tr. 3.
Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.