(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 18/8/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Tinh thần đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW trong công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học: Lý luận và thực tiễn”. TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện và ThS. Nguyễn Đức Hạnh, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo đồng chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các phân hiệu của Học viện.

Tham dự Hội thảo, có: GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu, ThS. Nguyễn Đức Hạnh, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo phát biểu đề dẫn Hội thảo.Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; GS.TS. Nguyễn Đức Chính, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long; TS. Nguyễn Thị Bích Hồng, Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo; PGS.TS. Lê Huy Tùng, Phó Trưởng ban Quản lý chất lượng, Đại học Bách khoa Hà Nội; TS. Phí Thị Nguyệt Thanh, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long; TS. Trần Thị Thu Hương, Phó Trưởng khoa Quản trị chất lượng, Trường Đại học Giáo dục; TS. Nguyễn Thúy Hà, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; TS. Lê Thị Linh Giang, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh; ThS. Hà Hải Thanh, Đại học Phenikaa; ThS. Tạ Văn Thành, Trường Đại học Thăng Long; ThS. Nguyễn Văn Trung, Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội; các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên Học viện và các viên chức, người lao động Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công nhấn mạnh ý nghĩa của Nghị quyết số 71-NQ/TW trong việc tạo bước chuyển mới về tư duy phát triển giáo dục đại học, từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, gắn tự chủ với trách nhiệm giải trình, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xây dựng văn hóa chất lượng. Theo ông, tinh thần đột phá của Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển từ bảo đảm chất lượng thiên về kiểm soát tuân thủ sang kiến tạo năng lực phát triển chất lượng. “Đạt chuẩn” không còn là đích đến cuối cùng; quan trọng hơn là chất lượng đào tạo thực chất, năng lực người học, hiệu quả cải tiến chương trình, đội ngũ và phương thức quản trị, cũng như giá trị cơ sở giáo dục tạo ra cho xã hội. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, yêu cầu này được cụ thể hóa bằng việc sử dụng hiệu quả dữ liệu, đo lường mức độ đạt chuẩn đầu ra, thúc đẩy cải tiến sau kiểm định và xác lập trách nhiệm chất lượng của toàn Học viện.
TS. Bùi Phương Đình đề nghị Hội thảo tập trung nhận diện những khoảng cách, vấn đề cần thay đổi và đề xuất giải pháp khả thi; qua đó góp phần chuyển từ “đạt chuẩn” sang không ngừng nâng chuẩn, từ dữ liệu và minh chứng sang quyết định và cải tiến, từ trách nhiệm của một bộ phận sang văn hóa chất lượng của toàn Học viện.

Phát biểu đề dẫn, ThS. Nguyễn Đức Hạnh, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo khẳng định, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển giáo dục trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Đối với giáo dục đại học, tinh thần đột phá của Nghị quyết thể hiện rõ ở yêu cầu nâng cao chất lượng thực chất, đổi mới quản trị, đẩy mạnh tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những yêu cầu đó đặt công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học trước một vấn đề quan trọng: bảo đảm chất lượng cần thay đổi như thế nào để không chỉ bảo đảm sự tuân thủ và đáp ứng tiêu chuẩn, mà thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng của cơ sở giáo dục?
Theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, chất lượng cần được nhìn nhận từ kết quả thực chất mà giáo dục tạo ra: năng lực của người học, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và đóng góp của cơ sở giáo dục đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.
Từ góc độ đó, bảo đảm chất lượng không thể chỉ tập trung vào việc thiết lập quy trình, thu thập minh chứng hay chuẩn bị cho các chu kỳ kiểm định mà cần trở thành một năng lực quản trị nội sinh, giúp cơ sở giáo dục thường xuyên nhận diện vấn đề, sử dụng dữ liệu và bằng chứng để ra quyết định, thực hiện cải tiến và đánh giá kết quả của cải tiến. Nói cách khác, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy “bảo đảm đạt chuẩn” sang “kiến tạo và liên tục nâng cao chất lượng”. Ông gợi mở một số vấn đề để các nhà khoa học, nhà quản lý và đại biểu tập trung trao đổi tại Hội thảo:
Một là, tinh thần đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW cần được cụ thể hóa như thế nào trong đổi mới mô hình bảo đảm chất lượng giáo dục đại học?
Hai là, làm thế nào để chuyển từ bảo đảm chất lượng thiên về tuân thủ và kiểm định sang hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong có khả năng tự đánh giá, tự điều chỉnh và cải tiến liên tục?
Ba là, cần xây dựng cơ chế dữ liệu, đánh giá chuẩn đầu ra và trách nhiệm giải trình như thế nào để chất lượng được chứng minh bằng kết quả và bằng chứng thực chất?
Bốn là, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang đặt ra những yêu cầu mới nào đối với quản trị chất lượng, khảo thí, đánh giá người học và toàn vẹn học thuật?
Năm là, đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, cần tiếp tục đổi mới hệ thống bảo đảm chất lượng theo hướng nào để chất lượng đào tạo ngày càng gắn chặt hơn với năng lực thực thi và giá trị tạo ra cho nền hành chính, quản trị công và xã hội?


Phát biểu tại Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đánh giá cao việc Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo, cho rằng đây là diễn đàn thiết thực để trao đổi, làm rõ những yêu cầu mới đối với công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW. GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu khẳng định, đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học cần tập trung vào ba vấn đề trọng tâm: tái định nghĩa công tác bảo đảm chất lượng phù hợp với sứ mệnh và đặc thù của Học viện; chuyển từ kiểm định theo thời điểm sang quản trị chất lượng thường xuyên, liên tục; đồng thời, lấy tác động đối với nền công vụ và quản trị quốc gia làm thước đo cuối cùng của chất lượng đào tạo.

Với tham luận “Xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học”, GS.TS. Nguyễn Đức Chính tập trung làm rõ vai trò, cấu trúc và quy trình xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (IQA) trong các cơ sở giáo dục đại học. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục đại học, ông cho rằng chất lượng giáo dục không phải là một trạng thái cố định hay một khái niệm trừu tượng mà được hình thành, duy trì và cải tiến thông qua một hệ thống các chính sách, cơ chế, tiêu chuẩn, quy trình và biện pháp cụ thể. Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 đã xác định, bảo đảm chất lượng là một quá trình liên tục, có tính hệ thống, bao gồm bảo đảm chất lượng bên trong và bảo đảm chất lượng bên ngoài thông qua kiểm định chất lượng. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học vì vậy không chỉ là tổ chức đào tạo mà còn phải xây dựng, vận hành và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng phù hợp với sứ mạng, mục tiêu và điều kiện thực tế của mình.
GS.TS. Nguyễn Đức Chính đề xuất cấu trúc hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong dựa trên bộ tiêu chuẩn chất lượng. Theo ông, hệ thống gồm bốn cấu phần chính: (1) Mục tiêu, chính sách và kế hoạch chất lượng; (2) Khung bảo đảm chất lượng với các quy trình, hướng dẫn công việc được xây dựng trên cơ sở bộ tiêu chuẩn; (3) Hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng; và (4) Các nguồn lực phục vụ vận hành. Trong đó, khung bảo đảm chất lượng bên trong được xem là cấu phần quan trọng nhất vì có chức năng hướng dẫn và kiểm soát từng hoạt động của cơ sở giáo dục theo các tiêu chuẩn, tiêu chí đã xác định. Hệ thống này được tổ chức ở ba cấp độ: cấp chiến lược, cấp hệ thống và cấp chiến thuật, với nguyên tắc lấy người học làm trung tâm, cải tiến liên tục dựa trên phản hồi của các bên liên quan và huy động tất cả thành viên của cơ sở giáo dục tham gia vào bảo đảm chất lượng.
GS.TS. Nguyễn Đức Chính khẳng định, “chất lượng bắt đầu từ bên trong”và hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong chính là công cụ cốt lõi để biến chất lượng từ một khái niệm trừu tượng thành những kết quả có thể tạo ra, kiểm soát, đánh giá và cải tiến. Mỗi quy trình bảo đảm chất lượng giúp tạo ra một sản phẩm đạt chuẩn; khi toàn bộ các quy trình được kết nối và vận hành thống nhất, chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục được hình thành và duy trì bền vững. Hệ thống này không chỉ phục vụ kiểm định mà còn góp phần thay đổi phương thức quản lý nhà trường, hình thành văn hóa chất lượng, nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường khả năng hội nhập quốc tế và tạo nền tảng cho việc không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

Với tham luận “Chuẩn hóa chương trình đào tạo gắn với phát triển đội ngũ và điều kiện bảo đảm chất lượng theo tinh thần nghị quyết số 71-NQ/TW”, TS. Lê Thị Linh Giangxác định sáu yêu cầu chủ yếu đối với chuẩn hóa chương trình: (1) Đổi mới chương trình theo chuẩn quốc tế nhưng phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam; (2) Tăng cường kiểm soát chất lượng đầu ra và trách nhiệm giải trình; (3) Coi phát triển đội ngũ là điều kiện quyết định của đổi mới chương trình; (4) Hiện đại hóa cơ sở vật chất và các điều kiện đào tạo; (5) Gắn chuyển đổi số với chiến lược dữ liệu và bảo đảm chất lượng; đồng thời (6) Sử dụng chuẩn hóa như nền tảng để thúc đẩy tự chủ, hội nhập và đổi mới sáng tạo. Điểm cốt lõi của Nghị quyết không nằm ở việc nâng chuẩn từng yếu tố riêng lẻ mà ở việc thiết lập mối quan hệ đồng bộ giữa chương trình, đội ngũ, nguồn lực, dữ liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng. Trong hệ thống đó, chuẩn đầu ra giữ vai trò định hướng, đội ngũ là chủ thể thực hiện, nguồn lực là điều kiện, dữ liệu là nền tảng đánh giá và bảo đảm chất lượng bên trong là cơ chế kết nối, duy trì cải tiến.
Từ sáu yêu cầu chủ yếu đối với chuẩn hóa chương trình, TS. Lê Thị Linh Giangkiến nghị sáu nhóm giải pháp nhằm chuẩn hóa chương trình đào tạo gắn với phát triển đội ngũ và điều kiện bảo đảm chất lượng: (1) Hoàn thiện quy trình chuẩn hóa chương trình từ phân tích nhu cầu đến cải tiến; (2) Chuẩn hóa hệ thống đo lường chuẩn đầu ra; (3) Xây dựng khung năng lực đội ngũ; (4) Phát triển chuyên môn thông qua đào tạo gắn với sản phẩm thực tế và cộng đồng chuyên môn; (5) Hiện đại hóa cơ sở vật chất, học liệu, nền tảng số và hệ thống dữ liệu; (6) Thiết lập cơ chế cải tiến dựa trên minh chứng, trong đó mỗi giải pháp phải có đơn vị chịu trách nhiệm và được đánh giá lại sau cải tiến.

Tham luận tại Hội thảo, TS. Tạ Văn Việt khẳng định bảo đảm chất lượng là nền tảng, nhưng quản trị chất lượng mới là bước phát triển tiếp theo để thực hiện tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công (APAG), mục tiêu của việc đảm bảo chất lượng không phải là tạo thêm nhiều quy trình, báo cáo hay hoạt động kiểm định, mà là kết nối những tài sản chất lượng hiện có thành một năng lực học hỏi và cải tiến của toàn tổ chức. TS. Tạ Văn Việt đề xuất “hệ sinh thái chất lượng APAG” gồm 5 tầng cấu trúc, 4 dòng chảy vận hành và 1 vòng phản hồi giá trị. Năm tầng gồm: chiến lược chất lượng; hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ và trách nhiệm; dữ liệu – khảo thí – minh chứng; cải tiến – đối sánh – kiểm định; và văn hóa chất lượng – trách nhiệm giải trình – tác động xã hội. Bốn dòng chảy gồm dữ liệu, trách nhiệm, quyết định và cải tiến, giúp các tầng tương tác với nhau. Cuối cùng, vòng phản hồi giá trị đưa kết quả cải tiến trở lại chiến lược và sứ mệnh của Học viện, đặt câu hỏi liệu những thay đổi đã tạo ra giá trị gì đối với người học, tổ chức, nền công vụ và xã hội.
Để đưa “hệ sinh thái chất lượng APAG” vào thực tiễn, TS. Tạ Văn Việt đề xuất năm đòn bẩy chuyển đổi: (1) Xây dựng bản đồ chất lượng APAG như một kiến trúc trách nhiệm; (2) Thiết lập bộ chỉ số điều hành chất lượng cốt lõi; (3) Xây dựng nền dữ liệu chất lượng dùng chung theo nguyên tắc “một định nghĩa – một nguồn chuẩn – nhiều mục đích sử dụng”; (4) Chuyển hoạt động khảo thí từ chức năng tổ chức thi thành nguồn dữ liệu phục vụ đo lường và cải tiến chuẩn đầu ra; và (5) Thiết lập cơ chế hậu kiểm định, cải tiến liên tục theo logic “khuyến nghị – hành động – bằng chứng – giá trị”. Đặc biệt, Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo giữ vai trò kiến tạo hạ tầng phương pháp, dữ liệu và điều phối cải tiến, thay vì trở thành đơn vị làm thay chất lượng cho toàn Học viện; quyền sở hữu chất lượng thuộc về các khoa, giảng viên và đơn vị chức năng, trong khi lãnh đạo chịu trách nhiệm biến bằng chứng chất lượng thành ưu tiên chiến lược và nguồn lực.

Với tham luận “Thực trạng đánh giá chương trình đào tạo giáo dục đại học theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Việt Nam – Giải pháp bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo”, ThS. Tạ Văn Thành tập trung phân tích thực trạng chất lượng của các chương trình đào tạo (CTĐT) giáo dục đại học thông qua kết quả đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp cải tiến và bảo đảm chất lượng. Đến thời điểm này, cả nước có 197 lượt cơ sở giáo dục đại học với 2.530 CTĐT được đánh giá ngoài và công nhận đạt kiểm định chất lượng. Nghiên cứu khai thác 2.498 nghị quyết công nhận kết quả của 7 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước để xác định những tiêu chí còn hạn chế, qua đó nhận diện các vấn đề phổ biến và dự báo những nội dung cần ưu tiên cải tiến trong các CTĐT. Trên cơ sở phân tích 100% kết quả đánh giá ngoài được công khai của 7 tổ chức kiểm định trong nước từ năm 2017, với bộ tiêu chuẩn kiểm định CTĐT theo Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT gồm 11 tiêu chuẩn và 50 tiêu chí, việc phân tích số lượng CTĐT chưa đạt ở từng tiêu chí cho phép nghiên cứu không chỉ đánh giá thực trạng chung mà còn xác định những điểm nghẽn có tính hệ thống trong quá trình thiết kế và triển khai CTĐT.
Từ kết quả là những con số định lượng cụ thể, ThS. Tạ Văn Thành đề xuất các giải pháp cốt lõi nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng CTĐT. Trước hết, chuẩn đầu ra phải được xác định rõ ràng, bao quát yêu cầu chung và chuyên biệt, có khả năng đo lường, được rà soát định kỳ và phản ánh nhu cầu của các bên liên quan. Đề cương học phần cần đầy đủ, cập nhật, có ma trận đối sánh giữa chuẩn đầu ra học phần và chuẩn đầu ra CTĐT, đồng thời sử dụng các rubric phù hợp. Nội dung và phương pháp của từng học phần phải thể hiện rõ đóng góp vào việc đạt chuẩn đầu ra; các phương pháp đánh giá cần đa dạng, có độ giá trị, độ tin cậy và bảo đảm công bằng, đồng thời thực sự đo lường được mức độ đạt chuẩn đầu ra. Đối với thư viện và nguồn học liệu, yêu cầu không chỉ dừng ở mức đầy đủ về số lượng mà phải bảo đảm tính cập nhật, khả năng tiếp cận và hiệu quả sử dụng.

TS. Nguyễn Thị Bích Hồng đánh giá cao chất lượng và ý nghĩa thời sự của Hội thảo trong bối cảnh Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chuẩn bị sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW. Bà cho rằng các tham luận đã được đầu tư công phu, tâm huyết, có sự kết hợp giữa cơ sở lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, các ý kiến từ thực tiễn, trong đó có những phân tích dựa trên các số liệu cụ thể và cách tiếp cận có tính gợi mở, cũng như những đề xuất thiết thực về xây dựng hệ sinh thái chất lượng tại Học viện đã góp phần làm rõ nhiều vấn đề đặt ra đối với công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Từ thực tiễn hơn 10 năm triển khai công tác bảo đảm chất lượng, TS. Nguyễn Thị Bích Hồng nhấn mạnh yêu cầu đưa các quan điểm, mô hình và lý thuyết về bảo đảm chất lượng đi vào thực chất hoạt động của Học viện, trong đó yếu tố con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cùng với đó, cần chú trọng công tác hậu kiểm, lấy giá trị và hiệu quả thực chất làm thước đo; đồng thời nghiên cứu sử dụng công tác bảo đảm chất lượng như một yếu tố góp phần xác định và tạo dựng bản sắc riêng của Học viện Hành chính và Quản trị công. TS. Nguyễn Thị Bích Hồng cũng gợi mở việc lựa chọn năm học 2026-2027 làm điểm nhấn về chất lượng đầu ra, thí điểm xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá phù hợp với quy định chung nhưng có những tiêu chí phản ánh đặc thù, sứ mệnh và mục tiêu đào tạo của Học viện.






Phát biểu kết luận Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công trân trọng cảm ơn các chuyên gia, các nhà khoa học đã đóng góp những ý kiến tâm huyết. Hội thảo thống nhất nhận định, thực hiện tinh thần đột phá của Nghị quyết số 71-NQ/TW, công tác bảo đảm chất lượng giáo dục đại học cần chuyển từ “đạt chuẩn” sang không ngừng nâng chuẩn; từ thu thập minh chứng sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ cải tiến sau đánh giá sang cải tiến liên tục, qua đó hình thành văn hóa chất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo một cách thực chất. Những kết quả trao đổi tại Hội thảo là cơ sở để Học viện Hành chính và Quản trị công tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng đào tạo, gắn với năng lực thực tiễn của người học và những giá trị Học viện đóng góp cho nền hành chính, quản trị công và xã hội.

Đinh Hương



