Solutions to strengthen technological mastery and development in the context of the Fourth industrial revolution
PGS.TS. Nguyễn Thanh Sơn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: son.nguyen1202@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những yếu tố quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Từ bối cảnh quốc tế đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực làm chủ và phát triển công nghệ, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp, gồm: (1) Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học và nghiên cứu phát triển; (2) Hoàn thiện thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo; (3) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; (4) Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng số; (5) Nâng cao năng lực làm chủ công nghệ gắn với hội nhập quốc tế, góp phần để Việt Nam làm chủ và phát triển công nghệ.
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0; khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; năng lực làm chủ công nghệ.
Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution, science, technology, innovation, and digital transformation are becoming important factors in enhancing competitiveness and promoting socio-economic development. Against the backdrop of international developments that require strengthened technological mastery and development capabilities, this article proposes five groups of solutions, including: (1) Increasing investment in scientific research and research and development; (2) Improving institutions to promote innovation; (3) Developing high-quality human resources; (4) Modernizing infrastructure, especially digital infrastructure; and (5) Enhancing technological mastery capabilities in association with international integration, thereby contributing to Vietnam’s mastery and development of technology.
Keywords: Fourth Industrial Revolution; science and technology; innovation; digital transformation; technological mastery capabilities.
1. Đặt vấn đề
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất và mô hình phát triển thông qua sự hội tụ của công nghệ số, công nghệ vật lý và công nghệ sinh học. Công nghệ ngày càng chuyển từ vai trò hỗ trợ sang nền tảng của sản xuất và đời sống xã hội, với mức độ tự động hóa, tích hợp và thông minh ngày càng cao (Skilton & Hovsepian, 2018). Do đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quan trọng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngược lại, sự phụ thuộc vào công nghệ và nguồn lực bên ngoài có thể làm gia tăng tính dễ tổn thương trước biến động kinh tế, địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng. Vì vậy, nâng cao năng lực làm chủ và phát triển công nghệ trở thành yêu cầu quan trọng đối với năng lực tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia.
Ở Việt Nam, định hướng này ngày càng được xác lập rõ trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết để đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, nền tảng nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 31). Từ yêu cầu đó, nâng cao năng lực làm chủ và phát triển công nghệ không chỉ nhằm tăng cường năng lực nội sinh mà còn tạo nền tảng để Việt Nam giảm phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là cơ sở để bài viết tập trung phân tích và đề xuất các giải pháp về nghiên cứu và phát triển, thể chế đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực, hạ tầng và năng lực làm chủ công nghệ gắn với hội nhập quốc tế.
2. Bối cảnh quốc tế đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực làm chủ và phát triển công nghệ
Một là, cấu trúc sản xuất toàn cầu phi tuyến và phân mảnh cao. Chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) ngày càng phức tạp, giúp tối ưu hóa chi phí nhưng cũng khiến các nền kinh tế nhạy cảm hơn với cú sốc. Tấn công mạng, thiên tai hay đứt gãy logistics ở một khâu của chuỗi cung ứng có thể lan truyền và gây tác động đến toàn bộ chuỗi, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô (Smorodinskaya và cộng sự, 2021). Điều này yêu cầu các quốc gia phải nâng cao năng lực công nghệ nội sinh để giảm phụ thuộc và tăng khả năng chống chịu.
Hai là, biến động địa chính trị và vũ khí hóa công cụ kinh tế. Các quốc gia có vị thế trung tâm trong chuỗi cung ứng, như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đức có xu hướng sử dụng phụ thuộc thương mại và công nghệ làm công cụ gây sức ép, thông qua bán phá giá, kiểm soát nguồn cung chiến lược hoặc trừng phạt kinh tế (Morgan và cộng sự, 2023). Xung đột thương mại làm nổi bật rủi ro phụ thuộc công nghệ, thúc đẩy các nước tìm kiếm năng lực tự chủ.
Ba là, cạnh tranh công nghệ giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt. Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc và nhiều nền kinh tế khác đang tăng cường chính sách công nghiệp, đầu tư và hỗ trợ các ngành, công nghệ chiến lược. Chính sách công nghiệp hiện đại ngày càng kết hợp mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh với bảo đảm an ninh kinh tế, trong đó công nghệ giữ vị trí trung tâm (Mariotti, 2024).
Những xu hướng trên cho thấy, công nghệ ngày càng gắn chặt với năng lực cạnh tranh, khả năng chống chịu và mức độ tự chủ của quốc gia. Đồng thời, quy mô nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược, vượt quá khả năng của riêng khu vực tư nhân. Do đó, tăng cường năng lực làm chủ và phát triển công nghệ không chỉ là yêu cầu của phát triển kinh tế mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa đối với năng lực tự chủ và an ninh kinh tế quốc gia, qua đó, đòi hỏi vai trò dẫn dắt và kiến tạo của Nhà nước.
3. Giải pháp tăng cường năng lực làm chủ và phát triển công nghệ cho Việt Nam
Một là, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu phát triển.
Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là nền tảng hình thành năng lực công nghệ nội sinh. Chi tiêu R&D bình quân toàn cầu hiện đạt khoảng 2,6% GDP, trong khi Việt Nam mới ở mức khoảng 0,5% GDP, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung (World Bank, 2026). Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 15 – 20% (Bộ Chính trị, 2024). Khoảng cách này cho thấy, yêu cầu không chỉ là tăng quy mô đầu tư mà còn phải nâng cao hiệu quả và định hướng đầu tư theo các lĩnh vực công nghệ có tính chiến lược. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong đầu tư và định hướng R&D, đặc biệt đối với nghiên cứu cơ bản và các lĩnh vực có thời gian hoàn vốn dài, rủi ro cao nhưng tạo tác động lan tỏa lớn. Tại Hoa Kỳ, nguồn lực R&D công được tập trung cho nhiều lĩnh vực chiến lược, như: quốc phòng, y tế, không gian, năng lượng và nông nghiệp, thông qua các trường đại học, phòng thí nghiệm và tổ chức nghiên cứu (Trott, 2017).
Từ đó, Việt Nam, cần tăng quy mô và nâng cao hiệu quả đầu tư công cho R&D, ưu tiên nghiên cứu cơ bản, công nghệ nền tảng và các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá; đồng thời, bảo đảm liên thông giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cùng với đó, cần đa dạng hóa nguồn lực thông qua các quỹ khoa học và công nghệ, cơ chế tài trợ cạnh tranh và hợp tác công – tư, tạo điều kiện để khu vực doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hoạt động R&D. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu chú trọng đầu tư phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhất là công nghệ cao, qua đó, tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 50).
Hai là, hoàn thiện thể chế khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Trong bối cảnh kinh tế tri thức và kinh tế số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu là yêu cầu quan trọng để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Theo Schumpeter (1942), tăng trưởng không diễn ra tuyến tính mà được thúc đẩy bởi quá trình “hủy diệt mang tính sáng tạo”, trong đó công nghệ, phương thức sản xuất và sản phẩm mới thay thế những yếu tố cũ, tạo ra giá trị và hiệu quả kinh tế cao hơn. Vì vậy, thể chế có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Do vậy, Việt Nam cần hoàn thiện thể chế theo hướng tạo động lực, giảm rào cản và chia sẻ rủi ro cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Trọng tâm là tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế quản lý, đầu tư, tự chủ của tổ chức khoa học, công nghệ; hoàn thiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D và ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao; đồng thời, phát triển các cơ chế tài chính và tổ chức trung gian hỗ trợ chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế”; đồng thời, tháo gỡ các nút thắt, rào cản và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 104).
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các cụm đổi mới sáng tạo là một trong những nền tảng quan trọng hình thành năng lực công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh. Theo WIPO (2025), Trung Quốc có 24 cụm và Hoa Kỳ có 22 cụm trong nhóm 100 cụm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới; Đức có 7 cụm, Anh (4 cụm) và Pháp (2 cụm). Điều này cho thấy, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần được xem là một bộ phận của chính sách phát triển năng lực công nghệ, qua đó, tạo môi trường thuận lợi để tri thức được kết nối, công nghệ được chuyển giao và kết quả nghiên cứu được đưa vào sản xuất, kinh doanh.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo và học tập suốt đời.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó, tăng cường năng lực làm chủ và phát triển công nghệ. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược, nhấn mạnh nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đổi mới giáo dục – đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và tăng cường năng lực số (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 37-38). Kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, việc phát triển các nền tảng đào tạo số, kết hợp Big Data và AI để cá nhân hóa quá trình học tập có thể nâng cao khả năng cập nhật và thích ứng của nguồn nhân lực (Brummer & Ueno, 2024; OECD, 2023, tr. 108-109).
Đối với Việt Nam, cần đổi mới chương trình và phương thức đào tạo theo hướng kết hợp kiến thức nền tảng với các năng lực công nghệ mới, như: phân tích dữ liệu, AI, tự động hóa và quản trị dịch vụ số. Đồng thời, triển khai linh hoạt đào tạo mới, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng, nhất là đối với nhân lực đang làm việc trong các ngành chịu tác động mạnh của chuyển đổi công nghệ. Cùng với đó, cần có cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực công nghệ chất lượng cao từ khu vực tư nhân, các cơ sở nghiên cứu và quốc tế.
Đặc biệt, cần xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời, tạo điều kiện để người lao động thường xuyên cập nhật tri thức và kỹ năng trong suốt vòng đời nghề nghiệp. Tiếp tục mở rộng nền tảng học tập số, đa dạng hóa phương thức đào tạo, thúc đẩy hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; đồng thời, khuyến khích văn hóa tự học và đổi mới sáng tạo trong xã hội. Đây cũng là định hướng được Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh thông qua yêu cầu đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 103). Trọng tâm của giải pháp là chuyển từ đào tạo nhân lực theo nhu cầu hiện tại sang phát triển năng lực thích ứng với công nghệ tương lai, trong đó đào tạo chính quy, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và học tập suốt đời được kết nối thành một hệ thống thống nhất. Qua đó, nguồn nhân lực không chỉ có khả năng sử dụng công nghệ mà còn từng bước nâng cao năng lực hấp thụ, cải tiến và làm chủ công nghệ.
Bốn là, phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, trọng tâm là hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu.
Cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng số, là nền tảng vật chất – kỹ thuật của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, cần ưu tiên phát triển đồng bộ mạng viễn thông băng rộng tốc độ cao, hạ tầng 5G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây (Cloud Computing) và các nền tảng số dùng chung. Đây là điều kiện để mở rộng khả năng kết nối, lưu trữ, xử lý và khai thác dữ liệu quy mô lớn, qua đó, tạo nền tảng cho các công nghệ mới, như: AI, Internet vạn vật (IoT) và phân tích Big Data.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia có năng lực công nghệ cao đều chú trọng phát triển hạ tầng số và bảo đảm khả năng tiếp cận Internet rộng rãi. Hoa Kỳ triển khai chương trình E-Rate hỗ trợ kết nối Internet cho trường học, thư viện và đầu tư mở rộng hạ tầng băng thông rộng; Hàn Quốc xây dựng hạ tầng viễn thông tốc độ cao từ sớm và nhanh chóng đạt mức độ phổ cập băng thông rộng cao trong nhóm OECD (Xu & Asencio, 2014; O’Donnell & Turner, 2013, tr. 537). Đến năm 2024, tỷ lệ dân số được tiếp cận mạng 4G tại cả hai quốc gia đạt khoảng 99%, trong khi tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 96% tại Hoa Kỳ và 94% tại Hàn Quốc (World Bank, 2026). Những kinh nghiệm này cho thấy, đầu tư hạ tầng số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ mà còn tạo điều kiện nâng cao năng lực hấp thụ và ứng dụng công nghệ của nền kinh tế.
Đối với Việt Nam, bên cạnh hạ tầng viễn thông, cần coi hạ tầng dữ liệu là một bộ phận thiết yếu của hạ tầng quốc gia. Trọng tâm là xây dựng các kho dữ liệu quốc gia, hệ thống dữ liệu mở, trung tâm dữ liệu và cơ chế quản trị, chia sẻ, khai thác dữ liệu an toàn, hiệu quả. Đồng thời, phát triển hạ tầng sản xuất thông minh, khu công nghiệp số, logistics thông minh và chuỗi cung ứng số hóa, kết hợp tự động hóa với kết nối dữ liệu thời gian thực. Qua đó, hạ tầng không chỉ phục vụ chuyển đổi số mà còn trực tiếp hỗ trợ quá trình nghiên cứu, ứng dụng, cải tiến và làm chủ công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Định hướng này phù hợp với Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trong đó xác định hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu là những lĩnh vực ưu tiên trong đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhằm tăng cường liên kết vùng, kết nối địa phương và hội nhập khu vực, quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 38).
Năm là, phát huy năng lực làm chủ công nghệ gắn với hội nhập quốc tế.
Làm chủ công nghệ cần được hiểu là năng lực hiểu, tiếp nhận, hấp thụ, cải tiến và sáng tạo công nghệ, chứ không đồng nghĩa với tự sản xuất toàn bộ công nghệ hoặc mọi bộ phận cấu thành. Theo đó, Việt Nam cần xây dựng hệ thống công nghệ có tính mở, vừa nâng cao năng lực nội sinh, vừa có khả năng tham gia và cạnh tranh trong hệ thống công nghệ quốc tế. Hội nhập quốc tế là một kênh quan trọng để nâng cao năng lực công nghệ. March và Schieferdecker (2023) chỉ ra rằng, năng lực đổi mới sáng tạo vừa là kết quả, vừa là động lực của hội nhập thương mại: tham gia thương mại quốc tế giúp tiếp cận công nghệ, tri thức và các đầu vào chất lượng cao, trong khi năng lực công nghệ nội sinh quyết định khả năng hấp thụ và khai thác những nguồn lực này. Vì vậy, hội nhập không đối lập với tự chủ công nghệ mà cần được sử dụng như đòn bẩy để củng cố năng lực nội sinh và duy trì lợi thế so sánh động.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần tận dụng lợi thế của nước đi sau thông qua học hỏi, tiếp nhận và cải tiến công nghệ hiện có, thay vì nhất thiết phải phát triển từ đầu. Trọng tâm là thu hút có chọn lọc nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy chuyển giao và hợp tác nghiên cứu; đồng thời, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore cho thấy, hội nhập thương mại và tham gia các hoạt động xuất nhập khẩu có thể trở thành kênh quan trọng để tiếp cận công nghệ, tri thức và tiêu chuẩn quốc tế, từ đó hình thành năng lực học hỏi và tích lũy công nghệ một cách có hệ thống.
Trong quá trình hội nhập, Việt Nam cần chuyển từ thu hút nguồn lực bên ngoài theo chiều rộng sang thu hút có chọn lọc các dự án, công nghệ và đối tác có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa về tri thức và công nghệ. Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thu hút đầu tư nước ngoài và mở rộng hợp tác nghiên cứu quốc tế cần được coi là phương thức bổ sung cho năng lực nội sinh, qua đó, tạo khả năng nâng cấp vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị và củng cố năng lực tự chủ chiến lược.
4. Kết luận
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ ngày càng gắn chặt với năng lực cạnh tranh, khả năng chống chịu và mức độ tự chủ của mỗi quốc gia. Sự gia tăng cạnh tranh công nghệ và rủi ro phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài đặt ra yêu cầu Việt Nam phải nhanh chóng củng cố năng lực công nghệ nội sinh; đồng thời, chủ động khai thác các nguồn lực từ hội nhập quốc tế. Làm chủ công nghệ vì vậy không đồng nghĩa với tự phát triển mọi công nghệ mà là có khả năng tiếp nhận, hấp thụ, cải tiến và từng bước sáng tạo công nghệ trên nền tảng năng lực nội sinh.
Để thực hiện mục tiêu đề ra, Việt Nam cần triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp: tăng cường đầu tư cho R&D; hoàn thiện thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu hiện đại; đồng thời, nâng cao năng lực tiếp nhận, hấp thụ và phát triển công nghệ gắn với hội nhập quốc tế. Theo định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, việc thực hiện hiệu quả các giải pháp nêu trên sẽ góp phần hình thành năng lực công nghệ nội sinh, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó, tạo nền tảng cho một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 82)
Tài liệu tham khảo:
Bài viết là sản phẩm của Đề tài cấp Bộ trọng điểm: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá 4.0”.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Brummer, Matthew & Ueno, Hiroko. (2024). Crisis and choice in digital transformation: COVID-19 and the punctuated politics of government DX in Japan. Asia Pacific Journal of Public Administration, 46(4), pp. 360-391.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
March, C., & Schieferdecker, I. (2023). Technological sovereignty as ability, not autarky. International Studies Review, 25(2), viad012.
Mariotti, S. (2024). “Win-lose” globalization and the weaponization of economic policies by nation-states. Critical Perspectives on International Business, 20(5), 638–659.
Morgan, T. C., Syropoulos, C., & Yotov, Y. V. (2023). Economic sanctions: Evolution, consequences, and challenges. Journal of Economic Perspectives, 37(1), 3–30.
O’Donnell, M., & Turner, M. (2013). Leading the world: Public sector reform and e-government in Korea. The Economic and Labour Relations Review, 24(4), 533–548.
Schumpeter, J. A. (1942). Capitalism, socialism and democracy. Harper & Row.
Skilton, M., & Hovsepian, F. (2018). The 4th industrial revolution: Responding to the impact of artificial intelligence on business. Palgrave Macmillan.
Smorodinskaya, N., Katukov, D., & Malygin, V. (2021). Global value chains in the age of uncertainty: Advantages, vulnerabilities, and ways for enhancing resilience. Baltic Region, 13(3), 78–107.
Trott, P. (2017). Innovation management and new product development (6th ed.). Pearson Education.
WIPO. (2025). World intellectual property indicators 2025. World Intellectual Property Organization.
World Bank (2026). World development indicators.
Xu, H., & Asencio, H. (2014). E-government in US local governments: Disparities, obstacles, and development strategies. In A. P. Manoharan (Ed.), E-government and websites (pp. 175-189). Routledge.



