(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 21/8/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Quản trị môi trường hướng tới mục tiêu Net Zero ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”. PGS. TS. Đặng Khắc Ánh, Trưởng khoa Quản lý phát triển xã hội, chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các Phân hiệu của Học viện.

Tham dự Hội thảo, về phía các đại biểu khách mời, có: PGS. TS. Hồ Tú Cường, Phó Trưởng khoa, Khoa Công nghệ môi trường và Năng lượng, Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; PGS. TS. Phạm Hùng, nguyên chuyên viên cao cấp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; TS. Hoàng Nhất Thống, Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có lãnh đạo các khoa, ban, đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên và sinh viên Học viện quan tâm đến chủ đề hội thảo, tham dự trực tiếp và trực tuyến.

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS. TS. Đặng Khắc Ánh cho biết, tại Hội nghị COP26 diễn ra tại Glasgow, Scotland, Vương quốc Anh năm 2021, Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050. Cam kết này đặt ra yêu cầu chuyển đổi sâu sắc về mô hình tăng trưởng, cơ cấu năng lượng, sản xuất, giao thông, tiêu dùng và quản trị môi trường. Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero cũng đặt ra nhiều thách thức về nguồn lực tài chính, công nghệ, thể chế, năng lực quản trị và khả năng phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Vì vậy, nhận diện đúng những thách thức và xác định các giải pháp phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính khả thi của lộ trình hướng tới Net Zero ở Việt Nam.
Định hướng nội dung trao đổi tại Hội thảo, PGS. TS. Đặng Khắc Ánh đề nghị các đại biểu tập trung vào ba chủ đề chính. Một là, làm rõ những vấn đề lý luận về Net Zero và quản trị môi trường hướng tới Net Zero, từ khái niệm, đặc trưng, đến các mô hình phát triển. Hai là, phân tích, đánh giá thực tiễn quản trị môi trường ở Việt Nam và thực tiễn triển khai lộ trình tới Net Zero ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm. Ba là, đề xuất các giải pháp, chính sách, cơ chế nhằm thúc đầy quản trị môi trường theo hướng bền vững ở Việt Nam. Những gợi mở này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc tư vấn, hỗ trợ các cơ quan hoạch định chính sách, chính quyền địa phương và các nhà đầu tư, doanh nghiệp.

Với tham luận “Quản lý nhà nước về năng lượng sạch hướng tới mục tiêu Net Zero tại Việt Nam: Thể chế, thực trạng và giải pháp công nghệ”, PGS.TS. Hồ Tú Cường phân tích quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trong bối cảnh thực hiện cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Tham luận tập trung vào ba nội dung chính: (1) Khung thể chế và các cơ chế chính sách nhằm huy động nguồn lực cho chuyển dịch năng lượng; (2) Dự báo nhu cầu điện trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế cao; và (3) Lộ trình phát triển các công nghệ quan trọng như lưới điện thông minh, truyền tải điện một chiều cao áp (HVDC), hệ thống lưu trữ năng lượng và chuyển đổi nhiệt điện than thông qua đồng đốt sinh khối.
Về thể chế, PGS.TS. Hồ Tú Cường cho rằng quản trị kiến tạo là hướng tiếp cận cần thiết trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Nhà nước không chỉ ban hành các chỉ tiêu hành chính mà còn cần xây dựng một “hạ tầng pháp lý” đủ rõ ràng, ổn định để tạo tín hiệu cho thị trường, giảm rủi ro chính sách và huy động nguồn lực xã hội. Khung pháp lý hiện nay đã có những bước tiến quan trọng: từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 2022); Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đến Luật Điện lực năm 2024, Nghị định số 58/2025/NĐ-CP và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Các chính sách này từng bước tạo hành lang cho phát triển năng lượng tái tạo, điện tự sản xuất – tự tiêu thụ, lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh và thị trường carbon. Về nhu cầu năng lượng, ông nhận định TS. Hoàng Nhất Thống, Vụ Pháp chế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tham luận tại Hội thảo (áo kẻ, đeo kính).quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi số, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và điện hóa giao thông sẽ khiến nhu cầu điện của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Trong cơ cấu nguồn điện, năng lượng tái tạo sẽ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, trong khi nhiệt điện than được kiểm soát và đến năm 2050 dự kiến loại bỏ hoàn toàn nhiệt điện than về mốc 0 MW theo định hướng chuyển dịch năng lượng xanh. Về phương diện công nghệ, thách thức lớn nhất là sự gia tăng nhanh của các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi như điện gió và điện mặt trời.
PGS.TS. Hồ Tú Cường khẳng định, chuyển dịch năng lượng là yêu cầu chiến lược nhằm đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng, giảm phát thải, duy trì năng lực cạnh tranh và hướng tới Net Zero vào năm 2050. Thành công của quá trình này phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa thể chế, quy hoạch, tài chính, dữ liệu, hạ tầng và công nghệ. Trong đó, phát triển năng lượng sinh khối và đồng đốt có thể trở thành một giải pháp chuyển tiếp quan trọng, vừa tận dụng hạ tầng hiện hữu, giảm phát thải, vừa tạo việc làm và giá trị gia tăng ở khu vực nông thôn. Việc hoàn thiện cơ chế giá điện, tín dụng xanh, thị trường carbon, số hóa quản lý và phát triển các công nghệ năng lượng thông minh sẽ là những điều kiện quan trọng để Việt Nam từng bước hình thành một hệ thống năng lượng sạch, linh hoạt, tự chủ và phát triển bền vững.

Tham luận tại Hội thảo với chủ đề “Hướng tới Net Zero ở Việt Nam: Tiếp cận từ công tác bảo tồn các hệ sinh thái biển”, TS. Hoàng Nhất Thống phân tích vai trò của các hệ sinh thái biển trong việc hấp thụ, lưu trữ carbon và đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050. Theo ông, để đạt Net Zero cần đồng thời thực hiện ba trụ cột, gồm: giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường hấp thụ carbon và loại bỏ carbon. Trong đó, bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên – đặc biệt là hệ sinh thái biển – thuộc trụ cột thứ hai và là một giải pháp quan trọng dựa vào tự nhiên. TS. Hoàng Nhất Thống cho biết, Việt Nam đã hình thành tương đối đầy đủ cơ sở chính sách và pháp luật cho bảo tồn hệ sinh thái biển, thông qua Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và Luật Lâm nghiệp năm 2017. Nhà nước cũng đã thành lập các khu bảo tồn biển, triển khai nhiều chương trình phục hồi rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển và các dự án kết hợp bảo tồn với sinh kế cộng đồng. Tuy nhiên, tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn mới đạt khoảng 0,215% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, cho thấy quy mô bảo tồn vẫn còn hạn chế.
Theo TS. Hoàng Nhất Thống, những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như: quy định pháp luật về bảo tồn hệ sinh thái biển còn phân tán, thiếu các cơ chế cụ thể về phục hồi và chi trả dịch vụ hệ sinh thái biển; áp lực phát triển kinh tế – xã hội và khai thác tài nguyên; ô nhiễm môi trường biển; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu; cùng với tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó, ông đề xuất năm nhóm giải pháp tăng cường đóng góp của bảo tồn hệ sinh thái biển vào mục tiêu Net Zero, gồm: (1) Nâng cao nhận thức về vai trò của hệ sinh thái biển đối với Net Zero; (2) Hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên biển; (3) Tăng cường phối hợp liên ngành, liên cấp; (4) Huy động nguồn lực tài chính, nhân lực, khoa học – công nghệ cho bảo tồn; và (5) Mở rộng hợp tác quốc tế. Đặc biệt, cần xây dựng các quy định cụ thể về phục hồi hệ sinh thái, bồi hoàn đa dạng sinh học biển, khuyến khích cộng đồng và doanh nghiệp tham gia, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong bảo tồn.

Tiếp cận ở góc độ thực tế, tham luận “Kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ trong canh tác lúa: cơ chế giảm phát thải khí nhà kính, khung chính sách và tiềm năng ứng dụng tại Việt Nam” của PGS.TS. Phạm Hùng phân tích vai trò của kỹ thuật tưới ướt khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying – AWD) trong việc giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm nước và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu Net Zero của Việt Nam vào năm 2050. Theo ông, canh tác lúa ngập nước liên tục là nguồn phát thải mê-tan (CH₄) đáng kể của ngành nông nghiệp, trong khi Việt Nam đồng thời phải đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn và các tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Vì vậy, chuyển sang phương thức canh tác phát thải thấp như AWD có ý nghĩa trong việc hài hòa giữa việc bảo đảm an ninh lương thực và giảm phát thải. AWD hiện cũng được xác định là một giải pháp kỹ thuật quan trọng trong Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, việc nhân rộng AWD còn gặp các trở ngại về hệ thống thủy lợi chưa đủ linh hoạt, hạn chế về cảm biến và thiết bị quan trắc, tâm lý e ngại của nông dân và sự phức tạp của quy trình xác minh, thương mại hóa tín chỉ carbon ở quy mô hộ nhỏ. Để mở rộng áp dụng, PGS.TS. Phạm Hùng đề xuất bốn nhóm hành động: (1) Đẩy mạnh khuyến nông và đào tạo thông qua các mô hình trình diễn, phổ biến quy trình theo dõi mực nước; (2) Tăng cường số hóa nông nghiệp bằng cảm biến IoT (Internet of Things) và phần mềm hỗ trợ quyết định tưới; (3) Hiện đại hóa hệ thống thủy lợi nội đồng; đồng thời (4) Hoàn thiện cơ chế tài chính carbon và phân chia minh bạch lợi ích cho nông dân. Cơ quan quản lý cần hoàn thiện hướng dẫn MRV (Measurement, Reporting, Verification – Đo lường, Báo cáo, Thẩm định), cơ quan nghiên cứu và khuyến nông xây dựng bản đồ phân vùng áp dụng AWD, còn doanh nghiệp và hợp tác xã cần liên kết các vùng sản xuất đủ lớn để tích tụ và thương mại hóa tín chỉ carbon.

Tham luận tại Hội thảo, TS. Nguyễn Viết Định phân tích những thách thức chủ yếu đối với quá trình chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam theo hướng phát thải thấp, đồng thời đề xuất một số định hướng chính sách phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Ông nhấn mạnh, nông nghiệp giữ vị trí đặc biệt vì vừa chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu vừa là nguồn phát thải khí nhà kính lớn.
Theo TS. Nguyễn Viết Định, vấn đề lớn nhất là phải đồng thời bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng suất và thu nhập của người sản xuất nhưng vẫn giảm phát thải. Net Zero trong nông nghiệp không thể chỉ dựa vào chuyển đổi năng lượng như ở một số ngành công nghiệp, bởi phần lớn phát thải bắt nguồn từ các quá trình sinh học như phân hủy hữu cơ, lên men đường ruột, quản lý phân và sử dụng phân bón nitrogen. Do đó, cần chuyển sang mô hình “nông nghiệp phát thải thấp”, trong đó giảm lượng phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm nhưng vẫn duy trì hoặc nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Một điểm đáng chú ý khác là khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và khả năng thực thi vẫn còn khá lớn. Việt Nam đã có nền tảng chính sách tương đối đầy đủ, trong đó có cam kết giảm phát thải trong trồng lúa, chăn nuôi và quản lý chất thải, như Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 phê duyệt Đề án phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 đã đưa giảm phát thải từ sản xuất lúa trở thành một chương trình chuyển đổi cụ thể ở quy mô lớn. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp còn phân tán, quy mô hộ nhỏ, trong khi công nghệ, vốn đầu tư, hạ tầng dữ liệu, năng lực của người sản xuất và thị trường nông sản xanh còn hạn chế. Đặc biệt, nếu người sản xuất áp dụng kỹ thuật phát thải thấp nhưng không nhận được giá trị kinh tế tương xứng thì động lực chuyển đổi sẽ khó duy trì. Do đó, giảm phát thải phải được gắn với lợi ích kinh tế và nâng cao giá trị sản phẩm.
TS. Nguyễn Viết Định khẳng định, Net Zero phải được xem là quá trình tái cấu trúc mô hình phát triển nông nghiệp, không đơn thuần là mục tiêu cắt giảm phát thải. Ba điều kiện nền tảng là chuyển từ tăng trưởng dựa vào sử dụng nhiều tài nguyên sang tăng trưởng dựa trên năng suất và hiệu quả; xây dựng hệ thống MRV đáng tin cậy để đo lường, chứng nhận và tài chính hóa kết quả giảm phát thải; đồng thời tạo ra lợi ích kinh tế đủ lớn để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có động lực tham gia. Nếu thực hiện được những điều kiện này, mục tiêu Net Zero 2050 có thể trở thành động lực thúc đẩy nền nông nghiệp Việt Nam chuyển sang mô hình hiện đại, xanh, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao hơn.


Thảo luận tại Hội thảo, các đại biểu trao đổi một số nội dung, như: thực tiễn triển khai quản trị môi trường hướng tới mục tiêu Net Zero tại các địa phương, cụ thể là Hà Nội với Đề án “Vùng phát thải thấp trong vành đai 1, thành phố Hà Nội” đã được Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội công bố và bắt đầu thí điểm từ ngày 01/7/2026; đề xuất chương trình đào tạo của Học viện Hành chính và Quản trị công nên lồng ghép thêm nội dung về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trên cơ sở đây là vấn đề mang tính toàn cầu, đồng thời, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Phát biểu kết luận Hội thảo, PGS. TS. Đặng Khắc Ánh trân trọng cảm ơn sự có mặt và những ý kiến đóng góp tâm huyết của các chuyên gia và các nhà khoa học. Theo ông, đây là minh chứng sinh động cho sự quan tâm lớn đối với vấn đề quản trị môi trường, phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, thân thiện với môi trường – một chủ đề vừa mang tính thời sự, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. PGS. TS. Đặng Khắc Ánh bày tỏ tin tưởng những kinh nghiệm được trao đổi trong Hội thảo lần này sẽ góp phần quan trọng làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản trị môi trường hướng tới mục tiêu Net Zero, tăng cường nhận thức về các vấn đề trong quá trình phát triển. Những đóng góp quý báu của các đại biểu, chuyên gia, nhà khoa học sẽ được tổng hợp, nghiên cứu và sử dụng phù hợp vào các nội dung giảng dạy có liên quan của Khoa Quản lý phát triển xã hộithời gian tới.

Đinh Hương



