Developing the maritime economy in conjunction with ensuring national defense and security, and the role and responsibilities of the Vietnamese People’s Navy
TS. Nguyễn Hữu Cần
Học viện Hải quân
ThS. Nguyễn Trọng Thành
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: thanhhvhq2011@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kinh tế biển gắn với củng cố quốc phòng, an ninh là chủ trương chiến lược, thể hiện tầm nhìn xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Hải quân nhân dân Việt Nam, với vị thế là lực lượng nòng cốt, trực tiếp quản lý, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, đồng thời là lực lượng trực tiếp tham gia phát triển kinh tế và bảo vệ các hoạt động kinh tế biển, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu kết hợp quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế biển. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò, trách nhiệm và các giải pháp phát huy hiệu quả vai trò, trách nhiệm của Hải quân nhân dân Việt Nam trong phát triển kinh tế biển gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.
Từ khóa: Hải quân nhân dân Việt Nam; Kinh tế biển; Quốc phòng – an ninh; Phát triển bền vững.
Abstract: Developing the maritime economy in conjunction with strengthening national defense and security is a strategic policy that reflects the consistent and long-term vision of our Party and State in safeguarding the Fatherland from early on and from afar. The Vietnam People’s Navy, as the core force directly responsible for managing and protecting national sovereignty, sovereign rights, and jurisdiction at sea – while also actively participating in maritime economic development and safeguarding maritime economic activities – plays a particularly important role in realizing the goal of integrating national defense and security with maritime economic development.
Keywords: Vietnam People’s Navy; Maritime economy; National defense and security; Sustainable development.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và Biển Đông tiếp tục có những diễn biến phức tạp, việc phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là chủ trương chiến lược, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, phát triển kinh tế biển bền vững vừa tạo nguồn lực quan trọng cho củng cố quốc phòng, an ninh, vừa trực tiếp góp phần khẳng định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển; trong mối quan hệ đó, Hải quân nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt, vừa trực tiếp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vừa tham gia bảo vệ và thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế -xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn; làm rõ vai trò, trách nhiệm của Hải quân nhân dân Việt Nam trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy hiệu quả vai trò đó trong tình hình mới, góp phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
2. Phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh – chủ trương nhất quán trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Ban Chấp hành Trung ương, 2018). Vì vậy, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh được khẳng định trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, lần đầu tiên Đảng ta bàn về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là các giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế – xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1996, tr.211).
Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải… du lịch biển, đảo. Có cơ chế tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên biển, đảo một cách bền vững” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1996, tr.94-95).
Đặc biêt, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định: Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (Ban Chấp hành Trung ương, 2018).
Trên tinh thần đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng – an ninh; phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2021a, tr.154). Đây không chỉ là yêu cầu mang tính chiến lược, mà còn là phương thức để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên hướng biển.
Tiếp nối định hướng đó, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển; phát triển kinh tế biển sâu, đa khai thác, sử dụng hiệu quả không gian biển. Phát triển đồng bộ các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái, chuỗi đô thị, hành lang giao thông ven biển… Xây dựng các trung tâm hậu cần nghề cá lớn gắn với ngư trường trọng điểm; phát triển nuôi trồng hải sản trên biển quy mô lớn, công nghệ cao. Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ trên một số đảo trọng điểm, chiến lược” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.95).
Thực tiễn những năm qua cho thấy, chủ trương kết hợp quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế biển đã và đang tạo ra chuyển biến rõ nét, “nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt” (Ban Chấp hành Trung ương, 2018). Kinh tế biển có những bước phát triển về mọi mặt, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển chung của đất nước. Nhiều chính sách phù hợp về quản lý, đầu tư, khai thác biển, đảo được thực hiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng biển, đảo, chuyển đổi cơ cấu theo hướng tích cực.
Phát triển kinh tế biển ngày càng hiện đại, hình thành nhiều khu sản xuất, đánh bắt, chế biến hải sản lớn, nhiều mô hình kinh tế biển hiệu quả. Nhiều ngành kinh tế biển gắn với kỹ thuật công nghệ hiện đại, như khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển, đảo và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ. Việc thăm dò, khai thác dầu khí với công nghệ hiện đại mang lại nguồn lợi lớn đối với phát triển kinh tế đất nước. Nhờ đó, kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạn tầng được quan tâm đầu tư; đười sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện. Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biển đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2018).
Sự phát triển kinh tế biển trở thành nền tảng quan trọng trong việc củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển. Các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư được tăng cường mạnh mẽ về tiềm lực và sức mạnh sẵn sàng chiến đấu. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên biển được giữ vững và ngày càng được củng cố vững chắc. Trong khi đó, quốc phòng – an ninh đóng góp rất tích cực vào bảo vệ chủ quyền biển, đảo, kiềm chế được xung đột; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển khai chủ động, toàn diện, tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển; từng bước thực hiện dân sự hóa, hành chính hóa một số đảo và các hoạt động trên biển, góp phần khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2026b, tr.138).
3. Vai trò và trách nhiệm của Hải quân nhân dân Việt Nam trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh
Thứ nhất, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt, trực tiếp bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc tạo nền tảng cho phát triển kinh tế biển bền vững.
Với chức năng nhiệm vụ được giao, Quân chủng Hải quân thường xuyên duy trì các lực lượng làm nhiệm vụ trực sẵn sàng chiến đấu, tuần tra, kiểm soát, quản lý vùng biển, đảo, thềm lục địa, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Cảnh sát biển, Biên phòng, Kiểm ngư trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm, vi phạm chủ quyền quốc gia; chủ động, tích cực giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển để phát triển bền vững kinh tế biển, thu hút đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế.
Thứ hai, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng trực tiếp tham gia phát triển kinh tế và bảo vệ các hoạt động kinh tế biển, góp phần xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân” trên biển.
Không chỉ là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo, các đơn vị Hải quân còn trực tiếp tham gia phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh, an toàn cho các hoạt động kinh tế biển của đất nước. Trước hết, các đơn vị trong Quân chủng đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả các chương trình, dự án phát triển khu kinh tế – quốc phòng; xây dựng cảng cá, khu hậu cần nghề cá, trung tâm dịch vụ hậu cần nghề biển trên các đảo, Nhà Giàn và khu vực ven bờ. Những công trình này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, dân sinh, mà còn có giá trị quốc phòng sâu sắc, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trên hướng biển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền.
Cùng với đó, bộ đội Hải quân luôn là điểm tựa vững chắc cho ngư dân vươn khơi bám biển, thông qua các việc làm hết sức ý nghĩa, thiết thực như: tuyên truyền vận động ngư dân khai thác thủy sản đúng quy định, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ ngư dân khắc phục hậu quả thiên tai…. qua đó góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa quân và dân trên biển, xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững chắc.
Không chỉ vậy, Hải quân còn đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh các tuyến hàng hải quốc tế đi qua vùng biển Việt Nam, bảo đảm tự do, an toàn hàng hải, hàng không, qua đó bảo vệ lợi ích quốc gia trong giao thương và hợp tác quốc tế về biển. Việc duy trì an ninh cho các tuyến vận tải năng lượng, dầu khí và xuất nhập khẩu hàng hóa đường biển có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế quốc dân, an ninh năng lượng và vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngoài nhiệm vụ quốc phòng, Hải quân còn tích cực phối hợp với các lực lượng và địa phương thực hiện công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố tràn dầu, bảo vệ môi trường biển, góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm cho hoạt động sản xuất, khai thác và vận tải biển được thông suốt, an toàn. Những hoạt động đó thể hiện rõ bản chất cách mạng và tinh thần “vì nhân dân phục vụ” của “Bộ đội Cụ Hồ – Người chiến sĩ Hải quân’.
Thứ ba, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về biển, đảo và ý thức kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền.
Bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực, từ công tác tuyên truyền trực tiếp ở cơ sở, phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông, đến tổ chức các hoạt động văn hóa – xã hội, giao lưu quân – dân… bộ đội Hải quân đã góp phần làm lan tỏa nhận thức về vị trí, vai trò của biển, đảo; chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Qua đó, góp phần bồi đắp tình yêu quê hương, ý thức chủ quyền, tinh thần tự hào dân tộc; khơi dậy ý chí vươn khơi, bám biển, xây dựng cộng đồng ngư dân vững mạnh, gắn bó với lực lượng vũ trang; tạo sự đồng thuận xã hội rộng rãi trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển bền vững kinh tế biển.
Thứ tư, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng tiên phong trong hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ phát triển kinh tế biển.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hợp tác quốc phòng – an ninh trên biển là một nội dung quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Hải quân nhân dân Việt Nam đã chủ động, tích cực mở rộng quan hệ với Hải quân các nước trong khu vực và trên thế giới; tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương, giao lưu biên giới – hải đảo, tuần tra liên hợp, huấn luyện, diễn tập chung, cứu hộ, cứu nạn và hỗ trợ nhân đạo trên biển…
Những hoạt động này không chỉ góp phần tăng cường lòng tin chiến lược, củng cố quan hệ hữu nghị, tạo môi trường hòa bình, ổn định trên biển, mà còn nâng cao năng lực, trình độ tác chiến, quản lý, chỉ huy của lực lượng Hải quân; qua đó, trực tiếp phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế biển bền vững và hội nhập quốc tế của đất nước, nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện hình ảnh một quốc gia yêu chuộng hòa bình, chủ động, trách nhiệm và có năng lực bảo vệ lợi ích chính đáng của mình bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
4. Giải pháp phát huy vai trò, trách nhiệm của Hải quân nhân dân Việt Nam trong thực hiện chủ trương kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế biển
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế biển gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.
Theo đó, toàn Quân chủng cần tổ chức học tập, quán triệt đầy đủ Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; “Nâng cao hiệu quả, đa dạng hóa các hình thức, nội dung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo” (Ban Chấp hành Trung ương, 2018). Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, sát với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị; nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ về yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền, giữ vững an ninh, trật tự trên biển.
Hai là, xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia – dân tộc trên biển.
Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, quyết định trực tiếp đến sức mạnh, vị thế và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của Hải quân trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chiến lược biển Việt Nam cũng xác định, giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện tốt chủ trương phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là “Hoàn thiện tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2018). Theo đó, cần tập trung nguồn lực xây dựng Hải quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến thẳng lên hiện đại. Đẩy mạnh kiện toàn tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh” với cơ cấu tổ chức lực lượng hợp lý, khả năng cơ động, sẵn sàng chiến đấu cao, góp phần nâng cao khả năng tuần tra, kiểm soát, quản lý vùng biển trong thời bình và phòng thủ, chi viện, tác chiến bảo vệ biển, đảo trong điều kiện chiến tranh xảy ra.
Đặc biệt, tập trung xây dựng Hải quân ngày càng hiện đại, đồng bộ về con người, vũ khí, trang bị kỹ thuật và cơ sở bảo đảm, có vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, đồng bộ. Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong nghiên cứu, làm chủ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, “chủ động nắm, tiếp thu sáng tạo, đi tắt, đón đầu, từng bước đột phá về công nghệ, làm chủ công nghệ chiến lược phục vụ nghiên cứu, phát triển vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2024). Tiếp tục hoàn thiện hệ thống quan sát, trinh sát, chỉ thị mục tiêu, thông tin trên biển, nâng cao khả năng quan sát, trinh sát, theo dõi, phát hiện từ sớm, từ xa để chủ động đối phó với các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Ba là, tăng cường phối hợp giữa Hải quân với các lực lượng chức năng và địa phương ven biển trong quản lý, bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế biển.
Đây là giải pháp mang tính tổng hợp, nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng – an ninh với kinh tế, giữa lực lượng vũ trang với nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Theo đó, cần tăng cường các hoạt động cụ thể như tuần tra, diễn tập hiệp đồng bảo vệ chủ quyền, phòng chống vi phạm, cứu hộ cứu nạn, ứng phó thiên tai, bảo đảm an ninh, an toàn cho ngư dân và các hoạt động kinh tế biển. Tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển”, kết hợp tuyên truyền pháp luật, hướng dẫn khai thác hải sản hợp pháp, hỗ trợ hậu cần, cứu nạn, giúp đỡ ngư dân khắc phục khó khăn. Thông qua đó, vừa củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt quân – dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên biển, vừa góp phần bảo đảm an ninh, an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển bền vững.
Bốn là, tích cực tham gia và tổ chức thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trên biển, đảo
Hải quân nhân dân Việt Nam không chỉ là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, mà còn là lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng, hỗ trợ phát triển kinh tế biển, đặc biệt tại những khu vực xa bờ, đảo tiền tiêu, nơi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và cơ sở hạ tầng còn hạn chế.
Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, Hải quân cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương ven biển triển khai các chương trình, dự án kinh tế – quốc phòng; tham gia xây dựng các khu kinh tế – quốc phòng, trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, khu hậu cần nghề biển, cảng cá, trạm kiểm soát nghề cá, nhà giàn DK1 và các công trình dân sinh trên các đảo, quần đảo và ven bờ. Những công trình này vừa phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, vừa có giá trị chiến lược trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần hình thành thế bố trí lực lượng liên hoàn, gắn kết giữa kinh tế và quốc phòng trên biển.
Đồng thời, cần tích cực tham gia công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố môi trường biển, tràn dầu, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, “ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo đảm an ninh an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế khu vực biển; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vùng biển, đảo”. Thực tiễn cho thấy, ở nhiều khu vực như Trường Sa, Nhà giàn DK1, hay vùng biển Nam Trung Bộ, sự hiện diện và hỗ trợ của Hải quân đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho ngư dân, góp phần ổn định dân cư, phát triển kinh tế, đồng thời khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Năm là, tăng cường đối ngoại quốc phòng và hợp tác quốc tế về biển; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao vị thế, uy tín của Hải quân nhân dân Việt Nam và đất nước trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, biển không chỉ là không gian sinh tồn của mỗi quốc gia mà còn là không gian hợp tác, cạnh tranh chiến lược giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, việc chủ động, tích cực mở rộng hợp tác quốc tế là yêu cầu khách quan, vừa để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, vừa để tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển.
Tiếp tục “Tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo tồn, sử dụng bền vững biển và đại dương; tranh thủ tối đa các nguồn lực, sự hỗ trợ quốc tế để nâng cao năng lực quản lý và khai thác biển, trong đó chú trọng các lĩnh vực khoa học, công nghệ, tri thức và đào tạo nguồn nhân lực”(Ban Chấp hành Trung ương, 2018).
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam; thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác quốc tế, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2026a, tr.118); giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, và hợp tác để phát triển.
Tăng cường quan hệ với các đối tác và các nước bạn bè truyền thống, các nước có tiềm lực về biển, các nước có chung lợi ích, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là các hoạt động hợp tác biển trong khuôn khổ ASEAN; phối hợp với các nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), thúc đẩy ký bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC)
5. Kết luận
Hải quân nhân dân Việt Nam vừa là lực lượng nòng cốt, trực tiếp bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, vừa là lực lượng quan trọng tham gia phát triển kinh tế và bảo vệ các hoạt động kinh tế biển. Sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế biển không chỉ củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững và hội nhập quốc tế. Để hiên thực hóa mục tiêu đưa “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”, cần phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó đặc biệt là vai trò nòng cốt của Hải quân nhân dân Việt Nam. Do đó, cần tiếp tục xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.



