Support policies for students in specialized arts programs at Dak Lak College of Culture and Arts
ThS. Nguyễn Thị Phi – ThS. Đinh Thị Tuyết Mai
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk
Email: nguyenthihongphi@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về văn hóa – nghệ thuật ở nhiều trình độ khác nhau, đồng thời thực hiện nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này. Nhiều năm qua, nhà trường luôn thực hiện tốt chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghệ thuật đặc thù tại Trường và đạt nhiều kết quả trong việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho học sinh, sinh viên nghèo, vùng sâu vùng xa và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phục vụ đời sống văn hóa địa phương.
Từ khóa: Chính sách giáo dục; hỗ trợ học sinh, sinh viên; đào tạo nghệ thuật đặc thù; Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk.
Abstract: The Dak Lak College of Culture and Arts, a public non-profit organization under the Dak Lak Provincial People’s Committee, is responsible for training and developing human resources in culture and the arts at various levels, while also conducting scientific research in this field. Over the years, the college has consistently implemented effective policies to support students specializing in the arts, achieving significant results in ensuring access to education for low-income students and those from remote and rural areas, while also contributing to improving the quality of education and enriching the local cultural life.
Keywords: Education policy; student support; specialized arts training; Dak Lak College of Culture and Arts.
1. Đặt vấn đề
Đối với các tỉnh Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng, đào tạo văn hóa nghệ thuật mang tính đặc thù cao: đối tượng người học phần lớn là con em đồng bào dân tộc thiểu số; học sinh phân luồng sau bậc trung học cơ sở; thời gian đào tạo kéo dài; chi phí dụng cụ học tập và sinh hoạt đắt đỏ; trong khi cơ hội việc làm sau tốt nghiệp lại khó định lượng. Đặc biệt, tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, rào cản tài chính và khoảng cách địa lý là những trở ngại lớn nhất khiến học sinh năng khiếu khó có thể theo đuổi đam mê nghệ thuật chuyên nghiệp. Để khắc phục điều này, Nhà nước đã ban hành hệ thống chính sách hỗ trợ người học đa dạng nhằm tạo động lực và bệ đỡ vững chắc cho các em.
Bài viết đánh giá hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghệ thuật đặc thù tại Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Đắk Lắk trong năm học 2025 – 2026: những kết quả nổi bật trong việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho học sinh, sinh viên nghèo, vùng sâu, vùng xa; đóng góp của nhà trường vào việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc; nhận diện những nút thắt cốt lõi về hạ tầng số, sự bất cập trong định mức nhà giáo do đặc thù giảng dạy năng khiếu cá nhân hóa và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp nghệ thuật đặc thù trong giai đoạn mới.
2. Thực thi chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghệ thuật đặc thù tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk
2.1. Cơ sở lý luận và nội dung cốt lõi về chính sách hỗ trợ
Dưới góc độ quản lý nhà nước, chính sách xã hội trong giáo dục là công cụ điều tiết nhằm bảo đảm tính công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền và nhóm dân cư. Đào tạo năng khiếu nghệ thuật đặc thù được Nhà nước xác định là lĩnh vực cần ưu đãi đặc biệt. Tính đặc thù này thể hiện ở phương pháp đào tạo tích hợp (kết hợp chặt chẽ giữa học văn hóa phổ thông và rèn luyện năng khiếu), mô hình giảng dạy cá nhân hóa (phổ biến là hình thức dạy kèm “một thầy một trò” đối với các môn nhạc cụ, thanh nhạc) và môi trường thực hành chuyên nghiệp liên tục.
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thực thi chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghệ thuật hiện nay bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành, như: Luật Giáo dục năm 2019; Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025; Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; Quyết định số 41/2014/QĐ-TTg ngày 21/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa – nghệ thuật… Trong đó, nội dung cốt lõi của các chính sách này hướng tới ba mục tiêu chính:
Thứ nhất, hỗ trợ tài chính trực tiếp. Giảm bớt gánh nặng chi phí học tập cho người học thông qua cơ chế miễn học phí toàn phần đối với học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi thẳng vào trung cấp nghề; học sinh các chuyên ngành nghệ thuật truyền thống hoặc đặc thù nặng nhọc, độc hại (như: múa, điêu khắc) và giảm học phí cho các chuyên ngành phụ trợ.
Thứ hai, bảo đảm điều kiện ăn ở. Cấp kinh phí sinh hoạt, học bổng chính sách hằng tháng cho học sinh nội trú là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc học sinh tốt nghiệp từ các trường phổ thông dân tộc nội trú, giúp bảo đảm cuộc sống sinh hoạt tối thiểu trong quá trình học tập xa nhà.
Thứ ba, thực hiện trợ cấp xã hội và khen thưởng. Hỗ trợ tiền mặt định kỳ cho học sinh, sinh viên thuộc đối tượng chính sách (như: dân tộc thiểu số vùng cao, mồ côi cả cha lẫn mẹ, hộ nghèo vượt khó) để trang trải các chi phí phát sinh, duy trì động lực học tập.
Hiệu quả thực thi các chính sách này phụ thuộc lớn vào năng lực tổ chức của cơ sở đào tạo, tính chủ động trong công tác rà soát đối tượng, sự đồng bộ trong chỉ đạo của chính quyền địa phương và tính phù hợp của hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật.
2.2. Về cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất, quy mô đào tạo của nhà trường,
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk vận hành với cơ cấu tổ chức gồm: Ban Giám hiệu và các đơn vị phòng, khoa chức năng (Phòng Đào tạo và Công tác học sinh, sinh viên; Phòng Tổ chức – Hành chính; Khoa Âm nhạc và Múa; Khoa Mỹ thuật; Khoa Kiến thức chung. Tính đến ngày 30/6/2026, tổng số viên chức và người lao động của Trường là 107 người (100 viên chức và 7 hợp đồng lao động; trong đó có 85 nhà giáo). Trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân sự đạt tỷ lệ chuẩn hóa cao với: 01 Tiến sĩ, 49 Thạc sĩ, 50 trình độ Đại học, và 7 người có trình độ Cao đẳng, Trung cấp hoặc trình độ khác (Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk, 2026).
Về cơ sở vật chất, Trường quản lý diện tích đất 9.154 m2, hạ tầng gồm: 9 phòng làm việc, 4 văn phòng khoa, 12 phòng thực hành Âm nhạc và Múa, 11 phòng thực hành Mỹ thuật, 8 phòng học lý thuyết, 1 phòng họp Hội đồng, 1 thư viện, 1 phòng trưng bày sách, phòng máy tính thực hành và 2 dãy nhà ký túc xá phục vụ học sinh nội trú. Trường hoạt động dưới mô hình đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 4).
Cơ cấu ngành nghề đào tạo của Trường rất đa dạng, bao quát hầu hết các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống và hiện đại. Trong năm học 2025 – 2026, quy mô đào tạo thực tế của nhà trường duy trì ở mức ổn định với tổng cộng 32 lớp học. Số lượng học sinh, sinh viên đầu năm học là 276 em và duy trì đến cuối năm học là 249 em. Hệ trung cấp chiếm ưu thế tuyệt đối: 29 lớp với 219 học sinh, sinh viên (10 ngành đào tạo: thanh nhạc, quản lý văn hoá, organ, điêu khắc, hội hoạ, đồ hoạ, thiết kế đồ hoạ, thiết kế nội thất, nghệ thuật biểu diễn múa dân gian dân tộc, biểu diễn nhạc cụ phương Tây). Hệ cao đẳng (3 lớp với 30 học sinh, sinh viên ngành Thanh nhạc).
Tuy nhiên, quy mô mỗi lớp học lại rất nhỏ (ngành Điêu khắc có 8 em/lớp; ngành Thiết kế nội thất có 12 em/lớp…). Sự phân mảnh và quy mô nhỏ này phản ánh tính chất giảng dạy năng khiếu đặc thù, đòi hỏi chi phí vận hành lớn trên đầu học sinh và nỗ lực duy trì của tập thể nhà giáo trước các áp lực tự chủ tài chính.
2.3. Thực trạng thực thi hệ thống chính sách hỗ trợ tài chính và nội trú cho học sinh, sinh viên
Để bảo đảm bệ đỡ chính sách, duy trì sĩ số học tập và tạo điều kiện công bằng tiếp cận giáo dục nghệ thuật chuyên sâu cho đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, nhà trường đã triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Trung ương và tỉnh trong năm học 2025 – 2026. Công tác rà soát, lập hồ sơ và xác nhận đối tượng được thực hiện đúng quy chuẩn, bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng thụ hưởng. Cụ thể:
Một là, chính sách miễn, giảm học phí. Đây là chính sách bao phủ rộng nhất với tổng cộng 261 học sinh, sinh viên được thụ hưởng trong năm học 2025 – 2026. Trong đó, có hai nhóm đối tượng chính:
(1) Nhóm miễn học phí toàn phần (100%):Áp dụng cho 198 học sinh, sinh viên, bao gồm: 4 học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định; 175 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được học tiếp chuyển lên trình độ trung cấp nghệ thuật (theo chính sách phân luồng giáo dục nghề nghiệp); 17 học sinh thuộc chuyên ngành đặc thù nghệ thuật biểu diễn múa dân gian dân tộc; 2 học sinh thuộc chuyên ngành Điêu khắc.
(2) Nhóm giảm 70% học phí.Áp dụng cho 63 học sinh, sinh viên đang theo học các chuyên ngành nghệ thuật đặc thù nằm trong danh mục các ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, như: biểu diễn nhạc cụ, múa và một số môn mỹ thuật ứng dụng.
Hai là, chính sách trợ cấp xã hội.Trong đợt 1 năm học 2025 – 2026, nhà trường đã xét và chi trả trợ cấp xã hội cho tổng số 141 học sinh, sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt. Cụ thể: 135 học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; 1 học sinh, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, không nơi nương tựa và 5 học sinh, sinh viên thuộc diện hộ nghèo vượt khó học tập.
Ba là, chính sách nội trú. Đây là chính sách cốt lõi tạo điều kiện ăn ở tại chỗ cho học sinh xa nhà, đặc biệt là các em nhỏ tuổi học hệ trung cấp phân luồng sau trung học cơ sở. Trong đợt 1 năm học, có tổng số 53 học sinh, sinh viên được thụ hưởng chính sách hỗ trợ nội trú (bao gồm: 46 học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; 4 học sinh, sinh viên tốt nghiệp từ các trường phổ thông dân tộc nội trú và 3 học sinh, sinh viên là người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.
Như vậy, có thể thấy chính sách hỗ trợ người học có tính thực tiễn và tính nhân văn vô cùng sâu sắc. Số lượng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở chuyển thẳng lên học trung cấp chiếm tỷ trọng áp đảo trong nhóm miễn học phí (175/198 em, tương đương 88,38%). Điều này khẳng định chính sách phân luồng của Nhà nước đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, mở ra cơ hội học nghề sớm cho học sinh nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, số lượng học sinh dân tộc thiểu số thụ hưởng trợ cấp xã hội (135 em) và chính sách nội trú (46 em) chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng quy mô đào tạo thực tế cuối năm, đạt 249 em. Hệ thống chính sách hỗ trợ là nguồn lực tài chính chủ yếu, giúp duy trì sĩ số và tránh tình trạng bỏ học giữa chừng do điều kiện kinh tế khó khăn tại các buôn làng Tây Nguyên.
2.4. Đánh giá hiệu quả và thách thức thực tiễn
Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai chính sách hỗ trợ và quản trị đào tạo tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk trong năm học 2025 – 2026 đối mặt với nhiều thách thức từ thực tiễn đòi hỏi phải tháo gỡ từ góc độ quản lý vĩ mô. Cụ thể:
(1) Bất cập về định mức giáo viên do đặc thù dạy “một thầy một trò”. Đào tạo nghệ thuật năng khiếu có quy chuẩn đào tạo đặc thù. Đối với các môn biểu diễn nhạc cụ chuyên sâu (như: Piano, Guitar, các nhạc cụ phương Tây, nhạc cụ truyền thống) và Thanh nhạc, hình thức dạy học bắt buộc là “một thầy một trò” (1 giáo viên kèm 1 học sinh). Điều này dẫn đến sự không tương thích nghiêm trọng khi áp dụng các quy định định mức giờ dạy và sĩ số lớp học của giáo dục nghề nghiệp phổ thông. Nhà trường rơi vào tình trạng thừa – thiếu cục bộ giảng viên.
(2) Hạ tầng cơ sở vật chất và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Diện tích đất nhà trường được sử dụng chật hẹp, không có quỹ đất dự phòng để mở rộng các hạng mục hạ tầng kỹ thuật đạt chuẩn của trường cao đẳng theo quy định mới của pháp luật. Hạ tầng công nghệ – thông tin còn yếu kém, chưa được đầu tư đồng bộ dẫn đến hoạt động chuyển đổi số, xây dựng thư viện số, học liệu số và tổ chức dạy học trực tuyến hỗ trợ người học tự học vẫn chưa thể triển khai. Điều này hạn chế khả năng tự học và nghiên cứu của học sinh, sinh viên nghèo không có điều kiện tiếp cận thiết bị công nghệ cá nhân.
(3) Sự thiếu hụt cơ chế đào tạo văn hóa trung học phổ thông tích hợp tại chỗ cho học sinh trung cấp phân luồng.Đối với học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, các em phải học song song chương trình trung cấp nghệ thuật tại Trường và chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông để có bằng tốt nghiệp cấp 3. Hiện tại, Trường chưa được cấp phép giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông tại chỗ, cũng như chưa được giao chỉ tiêu phối hợp chính thức với các trung tâm giáo dục thường xuyên địa phương. Việc học sinh phải di chuyển giữa hai địa điểm khác nhau để học văn hóa và học nghệ thuật gây lãng phí lớn về thời gian, chi phí đi lại, tăng rủi ro tai nạn giao thông và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phân bổ thời gian luyện tập năng khiếu của học sinh nhỏ tuổi.
3. Giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghệ thuật đặc thù tại Trường
3.1. Đối với nhà trường
Cần chủ động triển khai các giải pháp nội bộ nhằm thích ứng với bối cảnh mới và tối ưu hóa hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ hiện có.
Một là, hoàn thiện hệ thống quy chế nội bộ thích ứng với các văn bản pháp luật mới. Ban Giám hiệu cần tập trung chỉ đạo rà soát và hoàn thiện hệ thống văn bản quy định, quy chế nội bộ theo thẩm quyền để bảo đảm đồng bộ, thích ứng kịp thời với các bộ luật mới vừa ban hành hoặc điều chỉnh, như: Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2025, Luật Nhà giáo năm 2025, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025, Luật Viên chức năm 2025… và các nghị định, thông tư hướng dẫn. Việc xây dựng hành lang pháp lý nội bộ minh bạch, chặt chẽ sẽ giúp bảo đảm các quyền lợi, chế độ chính sách hỗ trợ người học được thực thi đúng pháp luật, tránh lúng túng trong khâu áp dụng thực tế.
Hai là, đổi mới phương thức tuyển sinh và đa dạng hóa chương trình đào tạo đặc thù. Đổi mới phương pháp tiếp cận học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông thông qua việc tăng cường truyền thông kỹ thuật số và tổ chức tư vấn năng khiếu sớm. Cần kết hợp hoạt động biểu diễn thực tế của giảng viên và học sinh, sinh viên ưu tú tại các trường phổ thông vùng sâu, vùng xa để khơi dậy đam mê nghệ thuật trong học sinh đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu cập nhật chương trình đào tạo theo hướng tích hợp kỹ năng mềm, kỹ năng số. Đặc biệt, tập trung nguồn lực xây dựng và thẩm định chương trình đào tạo ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống Tây Nguyên trình độ trung cấp để thu hút con em đồng bào gìn giữ di sản Chiêng Êđê, nhạc cụ truyền thống địa phương.
Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ – thông tin và chuyển đổi số trong quản lý người học. Nhà trường cần ưu tiên bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách được giao để nâng cấp hạ tầng số cơ bản; số hóa cơ sở dữ liệu quản lý giáo dục nghề nghiệp; từng bước số hóa quy trình giảng dạy, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên. Thực hiện số hóa ngân hàng câu hỏi, đề thi kết thúc môn học và thi tốt nghiệp để bảo đảm tính khách quan và tiết kiệm chi phí in ấn hành chính.
3.2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
(1) Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề nghị nghiên cứu xây dựng và ban hành cơ chế chính sách riêng biệt đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là quy định cụ thể về định mức giờ dạy, quy mô lớp học đối với mô hình giảng dạy cá nhân hóa “một thầy một trò” nhằm giải quyết căn cơ bài toán thừa – thiếu cục bộ giảng viên. Cùng với đó, xem xét đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính, điều kiện cấp phép để tạo cơ chế thông thoáng cho địa phương.
(2) Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị quan tâm quy hoạch, đầu tư ngân sách nâng cấp cơ sở vật chất, mở rộng diện tích đất sử dụng để đáp ứng tiêu chuẩn diện tích và điều kiện hoạt động của trường cao đẳng theo quy định pháp luật. Quan tâm chỉ đạo kiện toàn chức danh Hiệu trưởng nhà trường (hiện đang do Phó Hiệu trưởng phụ trách) theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về nhất thể hóa chức danh Bí thư cấp ủy là người đứng đầu cơ sở giáo dục, nhằm ổn định bộ máy lãnh đạo, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý hành chính công trong giai đoạn mới.
(3) Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk. Xem xét đặc cách cho phép nhà trường được tổ chức tuyển sinh và trực tiếp giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông ngay tại khuôn viên của Trường từ năm học 2026 – 2027; hoặc phê duyệt cơ chế giao chỉ tiêu liên kết, cử giáo viên từ trung tâm giáo dục thường xuyên về giảng dạy văn hóa tại Trường cho đối tượng học sinh trung cấp nghệ thuật tốt nghiệp trung học cơ sở. Việc dạy và học song song tích hợp tại một địa điểm sẽ giải quyết triệt để khó khăn về đi lại, bảo đảm an toàn giao thông, tiết kiệm chi phí tối đa cho gia đình học sinh, đồng thời giúp các em tập trung thời gian luyện tập năng khiếu nghệ thuật hiệu quả nhất.
4. Kết luận
Thực thi chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên nghệ thuật đặc thù tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk trong năm học 2025 – 2026 đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Hệ thống chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ nội trú và trợ cấp xã hội đã thực sự trở thành bệ đỡ nhân văn vững chắc giúp bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho con em đồng bào dân tộc thiểu số và học sinh nghèo vùng Tây Nguyên. Chính sự hỗ trợ kịp thời này là động lực giúp duy trì quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng học tập và bảo tồn văn hóa truyền thống địa phương.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng bộc lộ những nút thắt về thể chế, về cơ sở vật chất… cần có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ và những chính sách đặc thù từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Giáo dục và Đào tạo. Việc giải phóng các nút thắt này sẽ giúp Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk phát huy tối đa tiềm năng, tiếp tục đóng vai trò là cái nôi gìn giữ và phát huy hồn cốt văn hóa Tây Nguyên đậm đà bản sắc dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Đắk Lắk (2026). Báo cáo số 235/BC-CĐVHNT ngày 15/7/2026 về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2025 – 2026; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2026 – 2027.



