Capacity for delivering social services to children in Da Nang city
TS. Bùi Thị Ngọc Mai
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích năng lực cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp qua trường hợp thành phố Đà Nẵng, theo 6 chiều năng lực: chính sách – pháp luật, nhân lực, tài chính, hạ tầng – mạng lưới dịch vụ, dữ liệu, phối hợp liên ngành, trên 3 lĩnh vực: y tế, giáo dục và bảo vệ trẻ em/công tác xã hội. Kết hợp các báo cáo của địa phương với dữ liệu khảo sát thực địa (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) tại 3 địa bàn có đặc điểm khác nhau, bài viết chỉ ra những điểm mạnh nổi bật, những thách thức mang tính hệ thống, cũng như sự phân tầng năng lực đô thị – nông thôn – miền núi trong cùng một thành phố. Trên cơ sở đó, đề xuất khuyến nghị theo cấp thành phố, xã, phường và các giải pháp nhằm thu hẹp bất bình đẳng vùng miền trong việc cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em.
Từ khóa: Dịch vụ xã hội cho trẻ em; năng lực cung cấp dịch vụ; chính quyền địa phương hai cấp; bất bình đẳng vùng miền; thành phố Đà Nẵng.
Abstract: This article analyzes the capacity to provide social services for children in the context of the transition to a two-tier local government model, using Da Nang as a case study. The analysis is based on six dimensions of capacity: policy and law, human resources, finance, infrastructure and service networks, data, and interagency coordination across three sectors: health, education, and child protection/social work. By combining local reports with field survey data (in-depth interviews and focus groups) from three areas with distinct characteristics, the article identifies notable strengths, systemic challenges, and disparities in capacity between urban, rural, and mountainous areas within the same city. Based on this analysis, the article proposes recommendations at the city and commune/ward levels, along with solutions to reduce regional inequalities in the provision of social services for children.
Keywords: Social services for children; service delivery capacity; two-tier local government; regional inequalities; Da Nang City.
1. Đặt vấn đề
Việc tổ chức lại chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp là một trong những cải cách hành chính có phạm vi tác động sâu rộng nhất đối với hệ thống cung cấp dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay. Đối với lĩnh vực cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em – nhóm dân số có nhu cầu bảo vệ, chăm sóc mang tính liên tục, đa ngành – cải cách này đặt ra yêu cầu kép, vừa phải bảo đảm không đứt gãy dịch vụ đang vận hành, vừa xây dựng lại cơ chế điều phối phù hợp với cấu trúc quản trị mới. Để làm rõ những yêu cầu này được đáp ứng đến đâu trong thực tiễn, bài viết lấy thành phố Đà Nẵng làm trường hợp nghiên cứu. Bài viết là một phần kết quả của nghiên cứu: “Đánh giá năng lực cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp” – (Nghiên cứu trường hợp tại Điện Biên, Đắk Lắk, Cần Thơ và Đà Nẵng), do nhóm nghiên cứu liên ngành thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội Xã hội học Việt Nam thực hiện từ tháng 11/2025 – 6/2026 với sự hỗ trợ kỹ thuật của UNICEF Việt Nam.
Bài viết sử dụng khung phân tích sáu chiều năng lực: chính sách – pháp luật, nhân lực, tài chính, hạ tầng – mạng lưới dịch vụ, dữ liệu, phối hợp liên ngành, xem cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em là một hệ thống phức hợp gồm nhiều cấu phần phụ thuộc lẫn nhau, chỉ vận hành hiệu quả khi được kết nối thông suốt thành chuỗi hỗ trợ liên tục từ phát hiện sớm, phòng ngừa, can thiệp đến phục hồi, phát triển. Bên cạnh việc sử dụng các tài liệu thứ cấp là các báo cáo của địa phương, bài viết khai thác dữ liệu khảo sát thực địa – phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với lãnh đạo sở, ngành, cán bộ cấp cơ sở, giáo viên, nhân viên y tế và phụ huynh – được thu thập tại cấp thành phố và ba địa bàn có đặc điểm khác nhau của thành phố: phường Ngũ Hành Sơn (đô thị), xã Đại Lộc (nông thôn) và xã Thạnh Mỹ (miền núi). Dữ liệu khảo sát thực địa mang tính chất nghiên cứu định tính theo phương pháp trường hợp, nên các phát hiện được hiểu là bằng chứng phân tích về xu hướng và điểm nghẽn, không mang tính đại diện thống kê; đồng thời phản ánh trạng thái thích ứng ban đầu của hệ thống trong giai đoạn chuyển tiếp (thời điểm đến tháng 4/2026), chưa phản ánh tác động dài hạn của cải cách.
2. Thực trạng năng lực cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em tại Đà Nẵng
Tại Đà Nẵng, sáp nhập địa giới hành chính đã khiến quy mô quản lý lớn hơn với diện tích 11.859,59 km2, dân số 3.065.628 người, tổ chức thành 94 xã, phường, đặc khu, trong đó 37 xã miền núi, vùng dân tộc thiểu số; tổng số trẻ em toàn thành phố là 698.959 em, chiếm 22,8% dân số, trong đó 16.020 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026).
2.1. Khung chính sách, pháp luật
Sau sáp nhập,thành phố đã rà soát, ban hành hoặc điều chỉnh nhiều nghị quyết, chương trình, kế hoạch về trẻ em phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm bảo đảm tính liên tục của chính sách. Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố ban hành loạt nghị quyết mới liên quan đến trẻ em, có hiệu lực từ 11/12/2025, như Nghị quyết số 41, 43, 50/2025/NQ-HĐND, thay thế các quy định trước đây. Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố Đà Nẵng đã ban hành các chương trình, kế hoạch về công tác trẻ em sau khi thực hiện chính quyền 2 cấp và nhiều chương trình, kế hoạch khác liên quan đến bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, xác định rõ Sở Y tế là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về trẻ em sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy; đồng thời ban hành các quy chế phối hợp và kiện toàn Ban Chỉ đạo về trẻ em (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026).
Tuy nhiên, việc bãi bỏ cấp huyện tạo khoảng trống trong công tác điều phối, giám sát và hỗ trợ chuyên môn cho cấp cơ sở, đòi hỏi cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp. Một số chính sách mới làm gia tăng nhiệm vụ cho cấp xã trong khi hướng dẫn triển khai và năng lực thực thi chưa theo kịp. Quy chế phối hợp liên ngành xử lý xâm hại, bạo lực trẻ em vẫn đang ở dạng dự thảo (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026, mục 2), tạo ra khoảng trống thể chế kéo dài gần 1 năm kể từ khi mô hình hai cấp vận hành. Dữ liệu thực địa cho thấy bản chất của khoảng trống này không hẳn là thiếu văn bản mà là chính sách, hướng dẫn hiện hành chưa kịp điều chỉnh theo vai trò mới của cấp xã sau khi mất đi điểm tựa chuyên môn từ cấp huyện.
2.2. Nhân lực
Thành phố duy trì đội ngũ cán bộ chuyên trách ở cấp thành phố, mạng lưới 3.319 cộng tác viên Dân số – Y tế – Trẻ em và đội ngũ nhân viên công tác xã hội thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn. So với một số địa phương như Điện Biên, Đắk Lắk, Đà Nẵng vẫn giữ được một số cấu trúc chuyên môn tối thiểu, như mô hình quản lý ca và tổ tư vấn tâm lý học đường, nhờ nền tảng quản trị đô thị và tài chính tốt hơn. Đây là một điểm mạnh tương đối của Đà Nẵng.
Tuy nhiên, nhân lực chuyên trách còn mỏng, đặc biệt sau sáp nhập địa bàn rộng hơn, nhưng số lượng cán bộ không tăng tương ứng. Cấp thành phố chỉ có 3 cán bộ chuyên trách công tác trẻ em; cấp xã có 93 người cho 94 đơn vị hành chính nhưng phần lớn là kiêm nhiệm (Đảng ủy, UBND thành phố Đà Nẵng, 2026). Với số lượng gần 700.000 trẻ em, tính bình quân, mỗi cán bộ chuyên trách cấp xã theo dõi hơn 7.500 trẻ em.
Đặc biệt, vấn đề hiện nay không chỉ là sự mỏng mà còn là sự gián đoạn trong trải nghiệm sau khi sáp nhập. Lãnh đạo Sở Nội vụ thành phố cho biết trước đây thành phố có một phòng chuyên trách trẻ em với lực lượng tương đối đầy đủ, nhưng phần lớn cán bộ có kinh nghiệm đã nghỉ việc hoặc chuyển vị trí sau sáp nhập, để lại khoảng trống đáng kể. Phần lớn cán bộ cấp xã kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực, nhiều người mới, thiếu kinh nghiệm và chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác trẻ em.
2.3. Nguồn lực tài chính
Thành phố duy trì nhiều chính sách hỗ trợ từ ngân sách như trợ giúp xã hội, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hỗ trợ phẫu thuật tim, hỗ trợ cộng tác viên và huy động thêm nguồn lực từ UNICEF cùng các dự án xã hội hóa. Tuy nhiên, nguồn kinh phí dành cho công tác trẻ em ở cấp địa phương chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng dịch vụ và tăng cường năng lực cơ sở sau khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp.
Điểm đáng chú ý là đại diện Sở Nội vụ thành phố khẳng định rằng khó khăn của Đà Nẵng không nằm ở quy mô ngân sách. Theo đó, thành phố “không thiếu ngân sách”, nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là cơ chế phân bổ, tổ chức thực hiện và thiếu nhân lực để vận hành hiệu quả các dịch vụ trẻ em đã được đầu tư (diễn giải từ phỏng vấn Sở Nội vụ, tháng 4/2026). Tại phường Ngũ Hành Sơn, kinh phí bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi từ ngân sách nhà nước là 10,8 tỷ đồng, kinh phí bảo trợ xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 2,4 tỷ đồng, trong khi ngân sách phường chủ động dành cho thăm hỏi, hỗ trợ trực tiếp chỉ khoảng 322 triệu đồng (UBND phường Ngũ Hành Sơn, 2026). Cơ cấu này cho thấy phần lớn nguồn tài chính được dành để bảo đảm các quyền lợi tối thiểu hơn là để phát triển các dịch vụ chuyên sâu.
Đây là phát hiện có ý nghĩa chính sách quan trọng: đối với một đô thị có năng lực tài khóa tốt, bài toán không còn thuần túy là huy động thêm ngân sách, mà là thiết kế lại cơ chế tổ chức thực hiện, gồm danh mục dịch vụ, định mức kinh tế, kỹ thuật, bộ máy nhân sự, để nguồn lực sẵn có được chuyển hóa thành dịch vụ thực chất, đặc biệt là các dịch vụ chuyên sâu như tư vấn tâm lý, phục hồi chức năng, hỗ trợ sức khỏe tinh thần.
2.4. Hạ tầng, mạng lưới dịch vụ
Thành phố có mạng lưới dịch vụ khá toàn diện, gồm 21 cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, hệ thống y tế, giáo dục, công tác xã hội, thiết chế văn hóa và mạng lưới dịch vụ cộng đồng được duy trì rộng khắp; 93/93 xã, phường có Trung tâm cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và hơn 250 điểm vui chơi cấp xã. Thành phố đã triển khai đầy đủ 3 cấp độ dịch vụ cho trẻ em theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, gồm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp; có nhiều mô hình tốt như Hội đồng trẻ em, Tổng đài 111 khu vực miền Trung – Tây Nguyên, và mô hình chăm sóc trẻ em trong bệnh viện (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026).
Tuy nhiên, chính báo cáo của thành phố cũng thừa nhận hệ thống dịch vụ “chưa bao phủ đối với trẻ em vùng miền núi cao, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026, mục 3). Đặc biệt, dữ liệu thực địa bổ sung một thực tế: ngay tại đô thị, hạ tầng phục vụ nhu cầu phát triển mới của trẻ em như sức khỏe tinh thần, giáo dục hòa nhập, phục hồi chức năng, không gian vui chơi phi thương mại vẫn thiếu và phân bố không đồng đều; nhiều trường có phòng tư vấn học đường nhưng dùng chung với phòng Đoàn – Đội hoặc y tế học đường, chưa có không gian chuyên biệt. Đồng thời, các dịch vụ thể thao, nghệ thuật, kỹ năng sống cho trẻ em phát triển nhanh nhưng phần lớn thuộc khu vực tư nhân, chi phí cao, tạo thành một dạng bất bình đẳng “ẩn” trong lòng đô thị, khi cơ hội phát triển toàn diện ngày càng phụ thuộc vào khả năng chi trả của gia đình.
2.5. Hệ thống dữ liệu
Thành phố đã triển khai phần mềm quản lý trẻ em, thực hiện thống kê, theo dõi và quản lý ca; bước đầu định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông với cấp xã là nơi cập nhật dữ liệu và cấp thành phố là nơi điều hành.
Việc quản lý dữ liệu trẻ em bằng phần mềm được triển khai theo Công văn số 2695/SYT-BTXH&TE, phối hợp giữa Phòng Văn hóa – Xã hội và Công an cấp xã theo Đề án 06 (UBND phường Ngũ Hành Sơn, 2026). Đây là bước đi tích cực về mặt chủ trương.
Tuy nhiên, chất lượng thống kê và việc cập nhật dữ liệu vẫn chịu ảnh hưởng bởi tình trạng thiếu nhân lực và sự biến động trong tổ chức sau sáp nhập. Việc chia sẻ dữ liệu và cập nhật thông tin giữa các ngành, địa phương chưa thực sự kịp thời, ảnh hưởng đến việc phát hiện sớm và quản lý các trường hợp trẻ em có nguy cơ. Báo cáo của xã Đại Lộc chỉ rõ: công tác giám sát chủ yếu mang tính hành chính, chưa đi sâu vào chất lượng dịch vụ; chưa có hệ thống theo dõi, đánh giá hiệu quả can thiệp một cách khoa học (UBND xã Đại Lộc, 2026). Dữ liệu thực địa xác nhận đây là một hạn chế phổ biến: dữ liệu trẻ em phân tán theo ngành, thiếu liên thông, làm suy giảm khả năng phát hiện sớm nguy cơ.
2.6. Phối hợp liên ngành và quản lý trường hợp
Thành phố đã hình thành cơ chế phối hợp tương đối đầy đủ từ cấp thành phố đến cấp xã thông qua Ban Chỉ đạo, Ban Bảo vệ trẻ em, quy chế phối hợp liên ngành và quy trình xử lý các vụ việc liên quan đến trẻ em. Hoạt động quản lý ca được duy trì ổn định; sự hỗ trợ của UNICEF góp phần nâng cao hiệu quả giao ban ca, phối hợp can thiệp và giám sát.
Ở cấp thành phố, Sở Y tế được giao là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về trẻ em, đồng thời tham mưu, hướng dẫn chuyên môn và điều phối liên ngành thông qua Ban Chỉ đạo và các quy chế phối hợp liên ngành. Ở cấp xã, UBND cấp xã chịu trách nhiệm quản lý toàn diện công tác trẻ em, trong đó Phòng Văn hóa – Xã hội là cơ quan tham mưu, đầu mối triển khai chính sách. Các địa phương cũng đang kiện toàn Ban Bảo vệ trẻ em và hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền hai cấp (Đảng ủy UBND thành phố, 2026)
Trung tâm Công tác xã hội thành phố vận hành quy trình quản lý ca tương đối bài bản: năm 2025 tiếp nhận, xử lý 4.708 cuộc gọi qua Tổng đài 111, đồng thời tư vấn, tham vấn, can thiệp, trị liệu cho 923 trường hợp (qua điện thoại, tại văn phòng trung tâm và trực tiếp tại địa phương), trong đó 6 ca can thiệp khẩn cấp (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026).
Thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cơ chế điều phối trực tiếp giữa thành phố và cơ sở chưa thực sự hoàn thiện, làm giảm vai trò hỗ trợ chuyên môn. Sự phối hợp giữa một số ngành và địa phương chưa đồng bộ; việc trao đổi thông tin, báo cáo và cập nhật các vụ việc liên quan đến trẻ em của thành phố còn chậm. Nguy cơ này xuất phát từ việc thiếu nhân lực chuyên trách và chưa có danh mục dịch vụ xã hội chính thức để làm cơ sở đặt hàng. Ở cấp xã, khoảng cách giữa quy trình chuẩn và thực tế vận hành càng rõ: báo cáo của xã Đại Lộc tự đánh giá rằng việc quản lý ca hiện nay “chủ yếu mang tính hành chính, chưa áp dụng đầy đủ quy trình quản lý ca chuyên nghiệp” (UBND xã Đại Lộc, 2026). Tại xã Thạnh Mỹ, một địa bàn miền núi, khi được phỏng vấn sâu, một cán bộ mô tả rõ hơn độ trễ của quy trình hành chính so với tính cấp thiết của can thiệp bảo vệ trẻ em: để xử lý một vụ việc, địa phương phải ban hành quyết định hành chính, dẫn đến tình trạng “khi đến nơi thì đã xong việc”.
3. Một số đánh giá
3.1. Điểm mạnh nổi bật
So với một số địa phương miền núi kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn cùng được khảo sát, Đà Nẵng nổi lên với bốn điểm mạnh tương đối:
Một là, nền tảng quản trị đô thị và năng lực tài khóa giúp duy trì một số cấu trúc chuyên môn (quản lý ca, tổ tư vấn tâm lý học đường) mà nhiều địa phương khác chưa có hoặc đã suy yếu.
Hai là, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trẻ em và khả năng xử lý cấp cứu nhi khoa ở tuyến bệnh viện thành phố được duy trì ở mức cao.
Ba là, mạng lưới trung tâm công tác xã hội, cơ sở trợ giúp xã hội và bảo vệ trẻ em đã hình thành tương đối đồng bộ từ thành phố đến cơ sở.
Bốn là, kinh nghiệm hợp tác quốc tế lâu năm qua dự án “Thành phố thân thiện với trẻ em” của UNICEF, với 7/7 Hội đồng trẻ em cấp huyện hoạt động hiệu quả và 36/47 Hội đồng trẻ em cấp xã được hoàn thiện trước tháng 6/2025 (Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng, 2026).
Điểm đáng lưu ý là các điểm mạnh này chủ yếu mang tính “nền tảng, tồn tại” từ giai đoạn trước sáp nhập, hơn là kết quả của việc thích ứng với mô hình hai cấp.
3.2. Thách thức chính
Một là, nguy cơ mất dần năng lực chuyên môn đã xây dựng được do chưa thể chế hóa danh mục dịch vụ, định mức kinh tế – kỹ thuật… để duy trì tính bền vững của mô hình quản lý ca.
Hai là, nghịch lý “có ngân sách nhưng thiếu cơ chế tài chính hóa dịch vụ chuyên sâu và người vận hành”: Đà Nẵng khác về mức độ so với các địa phương khác trong khó khăn ngân sách, nhưng đây vẫn là một dạng giới hạn tài chính, chỉ khác ở chỗ nằm ở khâu chuyển hóa ngân sách thành dịch vụ, không phải ở quy mô ngân sách.
Ba là, áp lực của nhu cầu mới về dịch vụ xã hội cho trẻ em như rối loạn lo âu, trầm cảm học đường, tự kỷ… vượt quá năng lực đáp ứng của hệ thống y tế và giáo dục công lập hiện nay, vốn vẫn được tổ chức theo logic xử lý khi vấn đề đã phát sinh.
Bốn là, phối hợp liên ngành còn nặng tính hành chính, phụ thuộc vào văn bản, làm giảm khả năng phản ứng nhanh, nhất là ở cấp xã.
Năm là, bất bình đẳng “ẩn” trong lòng đô thị do xu hướng thương mại hóa dịch vụ phát triển trẻ em.
3.3. Nhận định chung
Thứ nhất, năng lực cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em của Đà Nẵng đang ở trạng thái “đủ về khung, thiếu về chiều sâu và có nguy cơ xói mòn dần các điểm mạnh sẵn có”. Điều này có nghĩa là không chỉ cần xây thêm năng lực còn thiếu mà còn cần giữ lại năng lực chuyên môn hiện có.
Thứ hai, khó khăn cốt lõi của Đà Nẵng khác về bản chất so với các địa phương khác trong cùng đợt khảo sát: đây không chỉ là vấn đề quy mô ngân sách mà chủ yếu là thiếu cơ chế tổ chức thực hiện, thiếu nhân lực vận hành và thiếu khả năng “tài chính hóa” các dịch vụ chuyên sâu vốn chưa được luật hóa và định mức đầy đủ. Điều này đòi hỏi giải pháp tập trung vào tái cấu trúc thể chế, nhân sự và cơ chế tài chính dịch vụ, chứ không chỉ đơn thuần tăng chi ngân sách.
Thứ ba, khoảng cách năng lực giữa đô thị, nông thôn và miền núi trong cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em tại Đà Nẵng là khoảng cách về mức độ và bản chất của vấn đề, không chỉ về số lượng cơ sở dịch vụ. Do đó, một chính sách đồng nhất cho toàn thành phố sẽ không giải quyết hiệu quả cả 3 vấn đề này. Tại đô thị, vấn đề nổi bật là thiếu chiều sâu chuyên môn và thủ tục hành chính còn vướng mắc, trong khi độ bao phủ dịch vụ cơ bản tương đối tốt. Tại địa bàn nông thôn, độ bao phủ dịch vụ cơ bản cũng khá tốt nhờ mạng lưới thôn, nhưng gần như hoàn toàn thiếu vắng các dịch vụ chuyên sâu và đội ngũ chuyên nghiệp. Tại địa bàn miền núi, vừa thiếu các dịch vụ cơ bản, vừa không giữ chân được nhân lực.
3.4. Một số hàm ý đối với việc cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em
Từ những đánh giá nêu trên, có thể rút ra một nguyên tắc tổ chức dịch vụ tham chiếu trực tiếp cho Đà Nẵng: “dịch vụ gần dân, chuyên môn tập trung”. Theo đó, các chức năng đòi hỏi chuyên môn cao (như tham vấn tâm lý, công tác xã hội chuyên nghiệp, quản lý ca phức tạp, hỗ trợ trẻ em bị bạo lực, xâm hại hoặc khuyết tật) nên tổ chức theo cụm liên xã hoặc cấp thành phố để bảo đảm chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực khan hiếm; còn việc phát hiện, theo dõi, quản lý trường hợp ban đầu và kết nối, chuyển gửi trẻ thì thực hiện tại cộng đồng, gắn với cấp xã, phường.
Áp dụng tại Đà Nẵng, đối với các xã miền núi như Thạnh Mỹ, ưu tiên hàng đầu là bảo đảm “gói năng lực tối thiểu”, gồm đầu mối được đào tạo cơ bản, quy trình chuẩn, quyền truy cập dữ liệu liên thông, kinh phí tối thiểu cho phát hiện sớm, đi kèm chính sách giữ chân nhân lực. Đối với xã nông thôn như Đại Lộc, nơi độ bao phủ dịch vụ cơ bản đã tương đối tốt, ưu tiên là kết nối với dịch vụ chuyên sâu thông qua cụm liên xã hoặc tổ hỗ trợ kỹ thuật lưu động từ thành phố, thay vì yêu cầu xã tự xây dựng đội ngũ chuyên môn. Đối với phường ở đô thị, ưu tiên là chuyên biệt hóa không gian và nhân lực hiện có (ví dụ: tách tổ tư vấn tâm lý học đường khỏi việc kiêm nhiệm y tế học đường) và kiểm soát xu hướng thương mại hóa dịch vụ bằng cách đầu tư thêm không gian công cộng phi thương mại.
4. Một số khuyến nghị và giải pháp
Trên cơ sở nguyên tắc “dịch vụ gần dân, chuyên môn tập trung”, khuyến nghị được đưa ra theo cấp tỉnh, cấp xã và đề xuất các giải pháp nhằm thu hẹp bất bình đẳng giữa các vùng miền.
4.1. Khuyến nghị đối với cấp thành phố
Xác định Sở Y tế và Trung tâm Công tác xã hội thành phố là trung tâm điều phối hệ thống; thành lập tổ hỗ trợ kỹ thuật lưu động xuống cấp xã, ưu tiên tần suất cao hơn cho địa bàn miền núi.
Khẩn trương ban hành danh mục dịch vụ xã hội cho trẻ em kèm định mức kinh tế – kỹ thuật, làm cơ sở duy trì và đặt hàng mô hình quản lý ca hiện có. Xây dựng vị trí việc làm chuyên trách/bán chuyên trách về công tác trẻ em tại cấp xã, ưu tiên trước hết cho địa bàn miền núi, đông trẻ em hoặc có nguy cơ cao.
Tách bạch dòng ngân sách bảo đảm quyền lợi tối thiểu với dòng ngân sách phát triển dịch vụ chuyên sâu; chuyển từ phân bổ bình quân theo đơn vị hành chính sang phân bổ theo nhu cầu và mức độ rủi ro, ưu tiên rõ hơn cho các xã miền núi. Xây dựng cơ sở dữ liệu trẻ em liên thông giữa các ngành, kèm đào tạo sử dụng và phân tích dữ liệu cho cán bộ cấp xã.
4.2. Khuyến nghị đối với cấp xã
Xã miền núi (Thạnh Mỹ và tương tự): tập trung vào 4 chức năng cốt lõi: phát hiện sớm; quản lý trường hợp cơ bản tại cộng đồng; kết nối, chuyển gửi đến các dịch vụ chuyên sâu; huy động gia đình, nhà trường, đoàn thể tham gia. Rà soát trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (mồ côi, khuyết tật) chưa thuộc diện chính sách để kiến nghị bổ sung cơ chế hỗ trợ phù hợp với nhu cầu thực tế. Đề xuất phụ cấp, đãi ngộ đặc thù để giữ chân cán bộ, cộng tác viên tại địa bàn xa trung tâm, đi lại khó khăn.
Xã nông thôn (Đại Lộc và tương tự): bổ sung biên chế hoặc bố trí cán bộ chuyên trách công tác trẻ em, thay vì tiếp tục để một công chức Văn hóa – Xã hội kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực. Kết nối với các dịch vụ chuyên sâu (công tác xã hội, tư vấn tâm lý) qua cơ chế cụm liên xã hoặc tổ hỗ trợ kỹ thuật từ thành phố, tận dụng nền tảng có độ bao phủ dịch vụ cơ bản tương đối tốt. Rà soát, điều chỉnh phân bổ cộng tác viên đồng đều hơn giữa các thôn, khắc phục tình trạng chênh lệch trong nội bộ xã đã được chính địa phương tự nhận diện.
Phường (Ngũ Hành Sơn và tương tự): kiến nghị tách chức năng tư vấn tâm lý học đường khỏi việc kiêm nhiệm y tế học đường. Đơn giản hóa thủ tục xác nhận khuyết tật để trẻ em không bị bỏ sót do vướng mắc về hồ sơ. Phát triển thêm không gian sinh hoạt cộng đồng phi thương mại cho trẻ em.
4.3. Đề xuất giải pháp thu hẹp bất bình đẳng vùng miền
Áp dụng nguyên tắc công bằng phát triển: các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông trẻ em dân tộc thiểu số cần được ưu tiên đầu tư lớn hơn mức bình quân của toàn thành phố, thay vì phân bổ đồng đều theo đơn vị hành chính.
Thiết kế các gói chính sách khác nhau về bản chất theo mức độ: gói “năng lực tối thiểu và giữ chân nhân lực” cho địa bàn miền núi; gói “kết nối dịch vụ chuyên sâu qua cụm liên xã” cho địa bàn nông thôn đã có nền tảng dịch vụ cơ bản; và gói “chuyên biệt hóa dịch vụ, kiểm soát thương mại hóa” cho địa bàn đô thị.
Tổ chức dịch vụ chuyên môn cao theo cụm liên xã để các xã nhỏ, ít nguồn lực vẫn tiếp cận được các dịch vụ chuyên sâu. Xây dựng bộ chỉ số giám sát theo vùng miền về việc tiếp cận dịch vụ trẻ em, công bố định kỳ để tạo trách nhiệm giải trình, tránh việc số liệu tổng hợp toàn thành phố che lấp chênh lệch giữa các nội vùng.
Khi xã hội hóa, đặt hàng dịch vụ từ khu vực ngoài công lập, cần có cơ chế trợ giá hoặc ưu tiên đặt hàng cho trẻ em tại các địa bàn khó khăn, nhằm tránh làm sâu sắc thêm bất bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ.
5. Kết luận
Đánh giá năng lực cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em cần được nhìn nhận như một hệ thống đa chiều, đặt trong bối cảnh so sánh với các địa phương khác và soi chiếu vào sự phân tầng nội vùng. Trường hợp Đà Nẵng cho thấy, bức tranh hai mặt: thành phố có nền tảng, điểm mạnh tương đối, nhưng chính những điểm mạnh đó đang đứng trước nguy cơ xói mòn nếu không được thể chế hóa kịp thời; đồng thời khoảng cách năng lực giữa đô thị, nông thôn và miền núi trong nội bộ thành phố vẫn còn đáng kể và khác nhau về mức độ, đòi hỏi các nhóm giải pháp phân tầng thay vì một chính sách đồng nhất. Những phát hiện này có ý nghĩa tham chiếu đối với các đô thị lớn khác có năng lực tài khóa tốt nhưng đang tái cấu trúc bộ máy quản lý dịch vụ xã hội cho trẻ em trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ (2017). Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.
Đảng ủy UBND thành phố Đà Nẵng (2026). Báo cáo cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, tháng 4/2026.
HĐND thành phố Đà Nẵng (2025). Nghị quyết số 41/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 quy định một số chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
HĐND thành phố Đà Nẵng (2025). Nghị quyết số 43/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 quy định đối tượng, mức thăm hỏi, quà tặng nhân dịp các ngày kỷ niệm, Tháng hành động hằng năm về bảo trợ xã hội và bình đẳng giới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
HĐND thành phố Đà Nẵng (2025). Nghị quyết số 50/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 quy định chính sách hỗ trợ cho trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; học sinh, sinh viên khuyết tật và mức hỗ trợ kinh phí phục vụ nấu ăn đối với các trường có tổ chức nấu ăn cho trẻ em mầm non, học sinh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
UBND phường Ngũ Hành Sơn (2026). Báo cáo việc thực hiện cung ứng dịch vụ xã hội cho trẻ em trên địa bàn phường trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, phục vụ Đoàn tọa đàm, khảo sát của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 4/2026.
UBND xã Đại Lộc (2026). Báo cáo phục vụ Đoàn tọa đàm, khảo sát của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 4/2026.



