Administrative reform and public governance for sustainable development in Vietnam
TS. Nguyễn Thị Yến
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: yennt@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Cải cách hành chính và quản trị công có mối quan hệ tương hỗ, cùng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Cải cách hành chính là động lực để nâng cao hiệu quả quản trị công thông qua tinh giản bộ máy, minh bạch hóa quy trình, tăng cường chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, quản trị công hiện đại hướng tới lấy người dân làm trung tâm, dựa trên nguyên tắc công khai, hiệu quả… tạo nền tảng cho cải cách hành chính sâu rộng hơn. Sự kết hợp giữa cải cách hành chính và quản trị công góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh, công bằng xã hội và quản lý hiệu quả nguồn lực. Bài viết làm rõ thực trạng cải cách hành chính và quản trị công ở Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, chỉ rõ mối liên hệ, thành tựu, kết quả và hạn chế, bất cập; từ đó, đề xuất giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị công hướng tới phát triển bền vững trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Cải cách hành chính; quản trị công; phát triển bền vững; tinh giản bộ máy; chuyển đổi số.
Abstract: Administrative reform and public governance are mutually reinforcing and share the common goal of sustainable development. Administrative reform serves as a driving force to enhance the effectiveness of public governance by streamlining the bureaucracy, increasing the transparency of processes, accelerating digital transformation, and strengthening accountability. At the same time, modern public governance is people-centered and based on the principles of openness and efficiency, laying the foundation for more far-reaching administrative reform. The combination of administrative reform and public governance helps promote green growth, social equity, and effective resource management. This article clarifies the current state of administrative reform and public governance in Vietnam as they relate to sustainable development, highlighting the connections, achievements, outcomes, and limitations; from there, it proposes solutions to accelerate administrative reform and enhance the effectiveness of public governance toward sustainable development in the new context.
Keywords: Administrative reform; public governance; sustainable development; streamlining the bureaucracy; digital transformation.
1. Quan điểm, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững
Từ Đại hội IX, Đảng đã đề ra quan điểm “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr. 168). Đến Đại hội X, Đảng khẳng định “Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh, bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr. 179). Ổn định chính trị – xã hội để phát triển nhanh, bền vững là quan điểm bao trùm của Đảng trong nhiệm kỳ này. Đến Đại hội XI, Đảng khẳng định phát triển nhanh và bền vững có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại, khi xác định “Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững”; “Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế – xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.99); cùng với phải “thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”. Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển bền vững khi đề ra yêu cầu: “phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 217).
Tại Đại hội XIII (năm 2021), trên cơ sở đánh giá các kết quả đạt được, chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục, Đảng nhận định “các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 được triển khai tích cực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 84) và đề ra nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô”. Trong nhiệm kỳ này, quan điểm, định hướng của Đảng từ Nghị quyết Đại hội đã được chuyển hóa và đề cập cụ thể hơn, nhiều hơn trong các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Đó là:
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định “Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược” (Bộ Chính trị, 2024).
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới xác định: “… cùng với việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, phấn đấu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải được đổi mới căn bản, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (Bộ Chính trị, 2025a).
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, đề ra mục tiêu, đến năm 2030, xác định đến năm 2045, “Kinh tế tư nhân Việt Nam phát triển nhanh, mạnh, bền vững, chủ động tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu” (Bộ Chính trị, 2025b).
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo khẳng định tầm quan trọng của xã hội học tập và phải gắn với sự nghiệp phát triển nhanh, bền vững: “Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, khơi dậy mạnh mẽ các phong trào thi đua trong Nhân dân và trong toàn xã hội về học tập, tự học tập, học tập không ngừng, học tập suốt đời vì sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (Bộ Chính trị, 2025c).
Đại hội XIV với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, trên cơ sở đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và 40 năm đổi mới đất nước, xác định tầm nhìn, định hướng phát triển trong giai đoạn mới, kế thừa, phát triển quan điểm, tư duy, kết quả của Đại hội XIII đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo lớn, trong đó, 3 quan điểm đề cập trực tiếp đến phát triển nhanh, bền vững.
Có thể thấy, điểm mới của nhiệm kỳ này là yêu cầu về thể chế phát triển nhanh, bền vững phải được đẩy mạnh xây dựng và xây dựng một cách đồng bộ. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV đã xác định nhiệm vụ trọng tâm số một của giai đoạn 2026 – 2030 và cả nhiệm kỳ: “tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”, “tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, …hoàn thiện thể chế với các chuyển đổi trọng tâm, toàn diện trên mọi lĩnh vực, phù hợp với mô hình chính quyền 3 cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.9). Đây là yêu cầu vừa cụ thể, trực tiếp vừa có tính xuyên suốt, toàn diện, lâu dài, giải quyết trúng “điểm nghẽn” biến “thể chế” trở thành lợi thế nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
2. Mối liên hệ giữa cải cách hành chính, quản trị công và phát triển bền vững
Năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước. Trong đó xác định rõ mục tiêu đó là: “…xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; …đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2007, tr.2].
Mười năm sau, Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững được ban hành. Trong đó, xác định 17 mục tiêu phát triển bền vững, trong đó mục tiêu thứ 16 được coi là một yêu cầu đặt ra đối với quản trị công và cải cách hành chính nhà nước, đó là: “Thúc đẩy xã hội hòa bình, dân chủ, công bằng, bình đẳng, văn minh vì sự phát triển bền vững, tạo khả năng tiếp cận công lý cho tất cả mọi người; xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm giải trình và có sự tham gia ở các cấp” (Thủ tướng Chính phủ, 2017, tr.4).
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021 – 2030, đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng và gắn trực tiếp mục tiêu, yêu cầu về phát triển bền vững trong mục tiêu của cải cách hành chính “Tiếp tục xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, có năng lực kiến tạo phát triển, liêm chính, phục vụ nhân dân,…” (Thủ tướng Chính phủ, 2021, tr.2].
Xây dựng nền hành chính “dân chủ”, hướng đến “phục vụ nhân dân” đến nay vẫn là mục tiêu xuyên suốt của cải cách hành chính nhà nước. Bằng việc sử dụng các bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả cải cách hành chính (Par Index) có tính định lượng gắn với tiêu chí đánh giá tác động của cải cách hành chính đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, kết hợp với chỉ số đo lường mức độ hài lòng của người dân (SIPAS), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) và các chỉ số khác như chuyển đổi số (DTI), năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) cho thấy cải cách hành chính, quản trị công và phát triển bền vững có mối liên hệ rất chặt chẽ và ngày càng được thể chế hóa dưới nhiều cấp độ khác nhau.
Từ những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và thực tiễn triển khai thời gian quan, có thể rút ra mối liên hệ cải cách hành chính, quản trị công và phát triển bền vững trên ba khía cạnh, như sau:
Một là, cải cách hành chính và quản trị công hiện đại là động lực của phát triển bền vững
Cải cách hành chính và quản trị công là quá trình đổi mới toàn diện các hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, vận hành và chất lượng phục vụ Nhân dân. Cải cách hành chính và quản trị công bao gồm các nội dung cơ bản như cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, công vụ – công chức, tài chính công và hiện đại hóa hành chính gắn với sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự hài lòng của người dân. Thông qua đó, bộ máy hành chính nhà nước từng bước chuyển từ mô hình “quản lý – cai trị” sang mô hình “phục vụ – kiến tạo”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phát triển bền vững là mục tiêu và thước đo chất lượng các thể chế hành chính. Cải cách hành chính là điều kiện tiên quyết của quản trị công hiện đại, góp phần tạo dựng chính phủ điện tử, chính phủ số – công cụ thúc đẩy quản trị công minh bạch, liêm chính và tương tác hai chiều với người dân. Từ đó, thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các công việc của nhà nước, thực hiện hóa mô hình quản trị đồng kiến tạo, mà cụ thể là cùng lãnh đạo – quản lý, cùng phát triển và thụ hưởng.
Hai là, quản trị công hiện đại thúc đẩy cải cách hành chính thực chất, hiệu quả để thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững.
Quản trị công là quá trình hoạch định, tổ chức và điều hành các chính sách công theo nguyên tắc công khai, hiệu quả, trách nhiệm với sự tham gia của các chủ thể xã hội. Một hệ thống quản trị công hiệu quả không chỉ bảo đảm thực thi cải cách hành chính mà còn góp phần định hình các chính sách phát triển bền vững thông qua phân bổ hợp lý nguồn lực, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời, việc triển khai các chương trình cải cách và hiện đại hóa nền hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030 cho thấy quản trị công ngày càng đóng vai trò trung tâm trong việc kết nối các mục tiêu phát triển với hành động thực tiễn của Nhà nước. Khi các nguyên tắc quản trị công hiện đại như minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và hiệu quả được thể chế hóa sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững trên cả ba phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường.
Ba là, các mục tiêu phát triển bền vững tác động đến các nội dung của cải cách hành chính và mô hình quản trị công các cấp.
Các mục tiêu phát triển bền vững tham gia vào quá trình định hình nội dung chỉ số cải cách hành chính và quản trị, thúc đẩy mối quan hệ giữa cải cách hành chính và quản trị công làm cho cải cách hành chính và quản trị công không tồn tại tách biệt. Trong đó, cải cách hành chính là điều kiện cần để quản trị công vận hành hiệu quả, trong khi quản trị công lại là cơ chế bảo đảm cải cách hành chính được thực hiện thực chất và bền vững. Khi hai quá trình này được triển khai đồng bộ, chúng tạo thành “hệ sinh thái quản trị” thúc đẩy đổi mới thể chế, nâng cao hiệu quả điều hành, khuyến khích sự tham gia xã hội và tăng cường lòng tin của người dân đối với Nhà nước – cơ sở của các quyết định có tính chiến lược cho tương lai. Trong dài hạn, sự kết hợp giữa cải cách hành chính và quản trị công hiện đại giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là các mục tiêu liên quan đến thể chế, tăng trưởng kinh tế, dân chủ, công bằng xã hội và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Đây cũng là hướng đi phù hợp với xu thế quản trị quốc gia hiện đại, kiến tạo, liêm chính, hành động và phục vụ nhân dân.
3. Thực trạng cải cách hành chính và quản trị công hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam
3.1. Thành tựu đạt được và những kết quả nổi bật
Một là, hệ thống thể chế về cải cách hành chính, quản trị công gắn với phát triển bền vững tiếp tục được hoàn thiện, bảo đảm thống nhất và có hiệu quả. Bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức tinh gọn, chức năng – nhiệm vụ được phân định rõ ràng, hình thành các mô hình hành chính phục vụ, chính quyền thân thiện, chính quyền thông minh. Từ 01/7/2025, mô hình chính quyền đại phương hai cấp chính thức đi vào hoạt động. Đây là một đột phá lớn trong cải cách hành chính và cải cách tổ chức bộ máy hành chính, thể hiện nỗ lực và quyết tâm lớn trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Đảng và Chính phủ. Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được triển khai ngày càng có hiệu quả và đồng bộ với mô hình Cổng dịch vụ công quốc gia và các Trung tâm phục vụ hành chính công một cấp, hai cấp ở địa phương; góp phần giảm đáng kể thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.Việc thiết lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với đổi mới cơ chế quản lý tài chính công, phân cấp, phân quyền và tăng cường tự chủ cho các địa phương, cho các đơn vị sự nghiệp công lập đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, góp phần bảo đảm tính bền vững về kinh tế – xã hội.Việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử và chuyển đổi sang Chính phủ số được đẩy mạnh, tạo nền tảng cho một nền hành chính hiện đại, công khai, minh bạch và thân thiện với người dân.
Hai là, tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước cũng như sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý. Các chỉ số quốc tế và quốc gia phản ánh kết quả cải cách hành chính, chất lượng quản trị, sự hài lòng của người dân có xu hướng cải thiện tích cực. Các chỉ số EGDI, PAPI, SIPAS, DTI, PAR Index đều tăng ổn định qua các năm. Tháng 9/2024, Liên hợp quốc công bố Việt Nam vươn lên vị trí thứ 71 trong xếp hạng Chính phủ điện tử, tăng 15 bậc so với năm 2022. Đây là lần đầu tiên Việt Nam được xếp vào nhóm EGDI “Rất cao”, đạt mục tiêu xếp hạng Chính phủ điện tử năm 2024 (Mạnh Tuyền, 17/01/2025). Kết quả chỉ số PAPI năm 2024 cho thấy, 21 địa phương tăng điểm kiểm soát tham nhũng so với bốn năm trước, nổi bật là Tây Ninh (8,2 điểm) – địa phương duy nhất đạt trên 8 điểm, cùng các tỉnh Quảng Ninh, Sóc Trăng, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu… (Mạnh Tuyền, 17/01/2025).
Ba là, việc đảm bảo công bằng, dân chủ và phát triển ngày càng được quan tâm. Kết quả xây dựng chính phủ số, xã hội số, công dân số được ghi nhận, đánh giá, báo cáo định kỳ từ Trung ương đến cơ sở. Thực hiện Đề án 06, đến nay, có hơn 87 triệu thẻ căn cước công dân gắn chip được cấp; 87,08% người dân trưởng thành có tài khoản thanh toán điện tử; hơn 13 triệu chữ ký số đã được cấp, đạt tỷ lệ 25% tổng số người trưởng thành có chữ ký số. 100% người dân sử dụng VNeID để đăng nhập Dịch vụ công trực tuyến với hơn 93,7 triệu lượt truy cập vào cuối tháng 11/2024. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 45%, tăng 28% so với 2023, trong đó khối bộ đạt 62,48%. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp 4.475 dịch vụ công trực tuyến, chiếm 70,8% tổng số thủ tục hành chính và đồng bộ hơn 382 triệu hồ sơ trạng thái xử lý, tăng 82,5 triệu so với năm 2023 (Mạnh Tuyền, 17/01/2025). Việc đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến, xử lý hồ sơ, phản ánh kiến nghị và thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường mạng đã góp phần giảm đáng kể sự can thiệp tiêu cực, gây bức xúc, phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, làm cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và xã hội phát triển văn minh, hiện đại hơn.
Việc sử dụng các chỉ số Par Index, SIPAS, PAPI, PCI trong theo dõi cải cách hành chính, đánh giá hiệu quả quản trị công đã làm thay đổi nhanh chóng tư duy, thói quen làm việc quan liêu của cán bộ, công chức và thúc đẩy người dân tham gia mạnh vào quản trị nhà nước. Điều này đã, đang và tiếp tục có tác động tích cực đến các ngành, lĩnh vực nói riêng và hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội nói chung.
3.2. Hạn chế, rào cản và nguyên nhân
Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được, một số mặt, lĩnh vực của cải cách hành chính và quản trị công trong hướng tới phát triển bền vững vẫn còn những hạn chế, rào cản nhất định. Vẫn còn những quy định, thủ tục hành chính, thể chế hành chính ban hành phải sửa đổi hoặc chưa được đánh giá đầy đủ về tính hiệu quả lâu dài và tính thực tiễn. Vẫn còn những thủ tục hành chính thực hiện trên môi trường điện tử chưa thực sự thân thiện với người dân. Việc hỗ trợ người dân về kỹ năng số mới chỉ dừng ở các hoạt động, phong trào chưa thành thể chế bắt buộc.
Công tác tuyên truyền cho người dân, phong trào bình dân học vụ số chưa phát huy tốt tác dụng, hiệu quả. Nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền chưa phù hợp. Các ứng dụng, phần mềm, dịch vụ công được đẩy mạnh, đầu tư rất lớn nhưng số lượng, tỷ lệ người dùng còn khá thấp. Kết quả khảo sát về hình thức cung cấp thông tin phù hợp với bản thân là trực tiếp hay trực tuyến, hơn 52% người dân chọn hình thức trực tiếp, chỉ có hơn 7% chọn hình thức trực tuyến (SIPAS, 2022, tr.74). Đối với đô thị, người dân dễ tiếp cận và tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến cao, nhưng với nông thôn và miền núi vẫn là bài toán khó. Cùng với đó là tâm lý e ngại về bảo mật thông tin cá nhân cũng khiến cho tỷ lệ người dùng không cao.
Một số thể chế pháp lý còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Nguồn nhân lực hành chính, quản trị chưa đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; bộ máy hành chính ở một số lĩnh vực vẫn còn cồng kềnh, hiệu quả chưa cao. Dữ liệu quản lý nhà nước còn phân tán, thiếu liên thông, làm giảm hiệu quả của quản trị điện tử. Kết quả PAPI năm 2023 cho thấy đa số người dân chưa dùng dịch vụ công trực tuyến với chỉ khoảng 8,3% người được hỏi cho biết đã sử dụng Cổng dịch vụ công quốc gia, và 7,6% sử dụng Cổng dịch vụ công cấp tỉnh (Hiền Chi, 02/04/2024). Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng 2 bậc xong chỉ số thực thi pháp luật (thể chế) lại giảm 2 bậc so với năm 2022. Nhóm chỉ số bền vững sinh thái dù tăng 3 bậc so với năm 2022 nhưng thứ hạng vẫn rất thấp, xếp hạng 110. Trong đó, đáng chú ý nhất là chỉ số kết quả về môi trường xếp hạng 130, tiếp tục giảm 2 bậc so với năm 2022. Đây là chỉ số luôn có thứ hạng thấp từ năm 2017 đến nay. Chỉ số hiệu quả thực thi pháp luật xếp hạng 72, giảm 2 bậc so với năm 2022. Chỉ số chất lượng các quy định pháp luật sau khi cải thiện 10 bậc từ hạng 93 lên 83 vào năm 2022, năm 2023 giảm xuống vị trí 94 (Vân Anh, 27/9/2023). Cải cách hành chính chưa gắn chặt với chuyển đổi phương thức phục vụ, đổi mới quản trị và hành động sáng tạo.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ: (1) Năng lực và vai trò lãnh đạo cải cách hành chính và quản trị công gắn với phát triển bền vững của cấp ủy, tổ chức đảng chưa được đẩy mạnh; (2) Chuyển đổi tư duy quản lý hành chính truyền thống sang tư duy quản trị chưa đồng đều trong toàn hệ thống chính trị cho nên việc đổi mới chưa đồng bộ, triệt để; (3) Cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình còn hình thức, thiếu thực chất, thiên về định tính; (4) Nguồn lực tài chính và nhân sự có chất lượng cho cải cách hành chính, quản trị công, phát triển bền vững chưa đáp ứng được yêu cầu của sự biến đổi của xã hội và cuộc cách mạng công nghệ 4.0.
4. Giải pháp tăng cường hiệu quả quản trị công và đẩy mạnh cải cách hành chính hướng tới phát triển bền vững
Một là, nâng cao năng lực lãnh đạo cải cách hành chính và quản trị công hiện đại gắn chặt với các mục tiêu phát triển bền vững cho các cấp ủy, tổ chức Đảng ở các cấp, các ngành.
Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình quản trị công hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng là yêu cầu có ý nghĩa quyết định. Cần tăng cường nhận thức và thống nhất trong hành động về vai trò của quản trị công hiện đại gắn với mục tiêu phát triển bền vững; coi đây là nội dung trọng tâm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Các cấp ủy, tổ chức Đảng ở các cấp, các ngành cần đổi mới tư duy lãnh đạo cải cách hành chính và quản trị công từ lãnh đạo, quản trị theo mệnh lệnh, khẩu hiệu hành chính sang lãnh đạo bằng mục tiêu, kết quả và giá trị phục vụ; tăng cường năng lực hoạch định chính sách công, bảo đảm tính dự báo, minh bạch và khả thi. Nâng cao trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ và năng lực số của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, bộ phận. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong lãnh đạo, hình thành phong cách lãnh đạo linh hoạt, khoa học, dựa trên dữ liệu. Đưa nội dung quản trị công hiện đại vào chương trình bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, đảng viên, nhất là đối tượng thuộc cấp ủy. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, tạo bước tiến mới trong xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, chuyên nghiệp và phát triển bền vững.
Hai là, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý cho quản trị phát triển bền vững.
Thể chế là nền tảng của sự gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính, quản trị công và phát triển bền vững. Cơ quan hành chính, bộ phận tham mưu, giúp việc cho các Bộ, Ban, Ngành, ủy ban nhân dân các cấp cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận và có khả năng dự báo cao. Việc xây dựng, ban hành chính sách phải dựa trên bằng chứng và đánh giá tác động xã hội, môi trường, bảo đảm phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, liên cấp và thúc đẩy phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực, nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản trị ở mọi cấp chính quyền, các ngành, lĩnh vực.
Gắn phân cấp, phân quyền với phân bổ nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Cần thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện phân cấp; gắn với chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị địa phương (PAPI, PAR Index). Cấp nào được giao quyền phải chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả, không đùn đẩy hay né tránh.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và hiện đại hóa nền hành chính.
Chuyển đổi số là động lực trung tâm của nền hành chính hiện đại và cải cách hành chính, tạo sự phát triển lâu dài trong tương lai. Cần xây dựng và vận hành hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, bảo đảm chia sẻ, liên thông và khai thác hiệu quả thông tin giữa các cơ quan nhà nước. Hoàn thiện thể chế và kiến trúc dữ liệu quốc gia. Xây dựng Chiến lược dữ liệu quốc gia gắn với Chiến lược chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, xác định dữ liệu là tài sản công đặc biệt, được quản lý thống nhất và khai thác phục vụ lợi ích công.
Ban hành khung pháp lý về chia sẻ, kết nối dữ liệu, quy định rõ cơ quan nào tạo lập dữ liệu, cơ quan nào quản lý, ai được quyền truy cập, trách nhiệm bảo mật và bảo vệ quyền riêng tư cá nhân. Đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, thanh toán không dùng tiền mặt, hướng tới mô hình “chính phủ số – xã hội số – công dân số”. Bên cạnh đó, cần chú trọng bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giúp họ chủ động làm chủ công nghệ, sử dụng dữ liệu hiệu quả và thích ứng với phương thức quản trị công hiện đại. Mục tiêu hướng tới là hình thành mô hình “Chính phủ số – Xã hội số – Công dân số”, trong đó người dân được đặt ở vị trí trung tâm, có thể tương tác, phản hồi và tham gia vào quá trình ra quyết định công, góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững.
Bốn là, nâng cao năng lực, đạo đức và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức gắn với đạo đức và trách nhiệm xã hội của công dân.
Đội ngũ cán bộ, công chức là nhân tố quyết định chất lượng cải cách hành chính và quản trị công gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Do đó, cần đổi mới toàn diện công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ theo hướng công khai, cạnh tranh, dựa trên năng lực và gắn với các yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cơ quan, đơn vị, ngành, lĩnh vực. Xây dựng văn hóa công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, lấy phục vụ nhân dân làm trung tâm, lấy phát triển bền vững là tiêu chí thử thách và thu hút người có tài năng vào làm việc và bổ nhiệm cán bộ. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế trách nhiệm giải trình, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm để bảo đảm mọi hoạt động hành chính đều minh bạch, đúng pháp luật, người tài được khuyến khích, người sáng tạo được bảo vệ, góp phần củng cố niềm tin xã hội đối với bộ máy nhà nước.
Năm là, tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và xã hội vào công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia và quản trị công gắn với các mục tiêu phát triển bền vững.
Phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi người dân và doanh nghiệp được tham gia thực chất vào quá trình hoạch định, giám sát và đánh giá chính sách công. Nhà nước cần mở rộng các kênh đối thoại, tham vấn công khai; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp và truyền thông trong giám sát, phản biện xã hội. Minh bạch thông tin, công khai dữ liệu và khuyến khích sáng kiến của khu vực tư nhân, cộng đồng sẽ giúp cải cách hành chính và quản trị công trở nên bao trùm, linh hoạt và hiệu quả hơn. Sớm hình thành một cách đồng bộ hệ thống các các tổ chức tư vấn độc lập để giải quyết các vấn đề ở cấp cơ sở, kể cả đối với tổ dân phố để huy động đông đảo các lực lượng vào công việc của chính quyền các cấp, nhất là đội ngũ nhà khoa học và người có uy tín trong cộng đồng. Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia vào các nội dung của cải cách hành chính, quản trị công gắn với các mục tiêu phát triển bền vững quốc gia ở nhiều cấp độ khác nhau.
6. Kết luận
Cải cách hành chính không thuần túy là việc tinh giản cơ học hay cắt giảm thủ tục, mà là cuộc tái thiết thể chế nhằm kiến tạo nền quản trị công hiện đại, minh bạch và liêm chính. Đặt trong kỷ nguyên số và bối cảnh chuyển dịch mô hình phát triển, cải cách hành chính đóng vai trò là đòn bẩy thể chế quyết định năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của quốc gia. Một nền hành chính phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, chính là bệ đỡ vững chắc để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).
Hiệu quả cải cách không chỉ đo lường bằng các chỉ số vận hành kỹ thuật số hay tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, mà phải bằng mức độ hài lòng và niềm tin thực chất của xã hội. Do đó, tích hợp triết lý phát triển bền vững vào từng chính sách công đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản từ tư duy quản lý thụ động sang tư duy quản trị kiến tạo và thích ứng. Thành công của tiến trình này phụ thuộc mật thiết vào việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, xóa bỏ cát cứ dữ liệu và xây dựng văn hóa công vụ đổi mới, dám nghĩ, dám làm. Từ nền tảng bài viết, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phân tích về cơ chế quản trị thích ứng đa tầng trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị. Cần chú trọng các khoảng trống học thuật về mối liên kết giữa dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) với trách nhiệm giải trình và tính bao trùm của dịch vụ công. Đồng thời, việc lượng hóa tác động của cải cách hành chính đối với các chỉ tiêu tăng trưởng xanh và công bằng xã hội sẽ là hướng đi giàu giá trị thực tiễn cho các nhà khoa học quản trị. Đổi mới quản trị công thông qua cải cách hành chính toàn diện chính là mệnh lệnh thời đại để xây dựng một nền hành chính kỷ cương, chuyên nghiệp và phát triển bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Vân Anh (27/9/2023). Việt Nam tăng 2 bậc xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2023. https://vov.vn/xa-hoi/viet-nam-tang-2-bac-xep-hang-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-nam-2023-post1048873.vov.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2007). Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 01/8/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hệu lực hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2025c). Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Hiền Chi (02/04/2024). Hà Nội đạt tổng điểm PAPI cao nhất trong số 5 thành phố trực thuộc Trung ương. https://hanoimoi.vn/ha-noi-dat-tong-diem-papi-cao-nhat-5-thanh-pho-truc-thuoc-trung-uong-662507.html.
Gia Chính (16/4/2025). 5 Địa phương đứng cuối về chỉ số kiểm soát tham nhũng. https://vnexpress.net/5-dia-phuong-dung-cuoi-ve-chi-so-kiem-soat-tham-nhung-4874741.html
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb. Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
Minh Minh (07/4/2025). Chỉ số cải cách hành chính năm 2024 của các tỉnh, thành phố. https://moha.gov.vn/tintuc/Pages/listbnv.aspx?Cat=611&ItemID=57037
SIPAS (2022). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2022.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/6/2021 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030.
Mạnh Tuyền (17/01/2025). Kết quả chuyển đổi số quốc gia năm 2024. http://caicachhanhchinh.gov.vn/tin-tuc/ket-qua-chuyen-doi-so-quoc-gia-nam-2024.



