Chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam

Credit quality at listed joint-stock commercial banks in Vietnam

Hồ Hồng Phúc
NCS Học viện Tài chính
Email: hongphuc.hvtc@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng mở rộng tín dụng, mức độ an toàn vốn, hiệu quả sinh lời và năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng cao, cơ cấu tín dụng còn tập trung vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro và yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực an toàn ngày càng chặt chẽ, việc nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tại Việt Nam. Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực trạng chất lượng tín dụng của 27 ngân hàng trong giai đoạn 2019 – 2024 thông qua các chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng, cơ cấu tài sản, khả năng sinh lời, an toàn vốn, nợ xấu và dự phòng rủi ro. Kết quả cho thấy, quy mô tín dụng, khả năng sinh lời và năng lực tài chính được cải thiện; hệ số an toàn vốn cơ bản đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên, nợ xấu có xu hướng gia tăng sau đại dịch Covid-19, chất lượng tài sản chưa đồng đều và công tác quản trị rủi ro tại một số ngân hàng còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp về tài chính, xử lý nợ xấu, chính sách tín dụng, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ.

Từ khóa: Chất lượng tín dụng; ngân hàng thương mại cổ phần; niêm yết; nợ xấu; quản trị rủi ro tín dụng.

Abstract: Credit quality is a composite indicator reflecting the capacity for credit expansion, the level of capital adequacy, profitability, and the risk management capability of commercial banks. In the context of high credit growth, a credit structure still concentrated in certain sectors that potentially harbor risks, and increasingly stringent requirements for compliance with prudential standards, the enhancement of credit quality holds significant importance for listed joint-stock commercial banks in Vietnam. This article systematizes the theoretical foundation and analyzes the current state of credit quality at 27 banks during the period 2019–2024 through indicators of credit growth, asset structure, profitability, capital adequacy, non-performing loans, and loan-loss provisions. The results indicate that credit scale, profitability, and financial capacity have improved; the capital adequacy ratio generally meets the requirements. However, non-performing loans have tended to increase after the Covid-19 pandemic, asset quality remains uneven, and risk management practices at some banks are still limited. On this basis, the article proposes solutions concerning finance, non-performing loan resolution, credit policy, risk management, internal control, human resource development, and technology application.

Keywords: Credit quality; joint-stock commercial banks; listing; non-performing loans; credit risk management.

1. Đặt vấn đề

Tín dụng là hoạt động cốt lõi và là nguồn tạo thu nhập chủ yếu của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tín dụng cũng là lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro lớn nhất, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh khoản, an toàn vốn, hiệu quả kinh doanh và sự ổn định của toàn hệ thống ngân hàng. Vì vậy, chất lượng tín dụng không chỉ phản ánh khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi mà còn thể hiện mức độ hợp lý của quy mô tín dụng, khả năng sinh lời, mức độ an toàn, chất lượng tài sản và năng lực quản trị rủi ro của mỗi ngân hàng thương mại.

Những năm gần đây, tín dụng ngân hàng tại Việt Nam tăng trưởng nhanh, góp phần tích cực cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng tín dụng cao, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn lớn trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn, cùng với mức độ tập trung tín dụng vào một số lĩnh vực, như: bất động sản, xây dựng và tiêu dùng đã làm gia tăng áp lực đối với chất lượng tín dụng. Bên cạnh đó, những biến động kinh tế sau đại dịch Covid-19, khó khăn của doanh nghiệp, sự suy giảm của thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và áp lực cạnh tranh từ các công ty công nghệ tài chính khiến yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng trở nên cấp thiết hơn.

2. Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị từ người cho vay sang người đi vay trong một thời gian nhất định, với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng thương mại và khách hàng, trong đó ngân hàng thương mại chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng theo thời hạn và điều kiện thỏa thuận, còn khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ gốc, lãi và các khoản phí có liên quan.

Chất lượng tín dụng là mức độ ngân hàng thương mại đạt được các mục tiêu về quy mô, an toàn và sinh lời trong hoạt động tín dụng, phù hợp với quy định pháp luật và thông lệ quốc tế. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của hoạt động tín dụng, năng lực quản lý tín dụng, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế; đồng thời, kiểm soát được rủi ro và bảo đảm khả năng thu hồi vốn.

Để đánh giá chất lượng tín dụng, nhiều nghiên cứu khuyến nghị sử dụng các nhóm tiêu chí trọng tâm sau:

(1) Tiêu chí về quy mô và tăng trưởng tín dụng, bao gồm: tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản, cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn, ngành, nghề và khách hàng. Quy mô tín dụng tăng hợp lý phản ánh năng lực đáp ứng nhu cầu vốn, song tăng trưởng quá nhanh có thể làm suy giảm chất lượng thẩm định và gia tăng rủi ro;

(2) Tiêu chí về khả năng sinh lời, tiêu biểu là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân, thu nhập lãi thuần và mức đóng góp của tín dụng vào lợi nhuận. Khả năng sinh lời cao và ổn định cho thấy, ngân hàng thương mại phân bổ vốn hiệu quả, nhưng nếu lợi nhuận phụ thuộc quá lớn vào tín dụng thì ngân hàng thương mại có thể dễ bị tổn thương khi chu kỳ kinh tế đảo chiều;

(3) Tiêu chí về mức độ an toàn, bao gồm: hệ số an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ nhóm 2, mức trích lập dự phòng, tỷ lệ bao phủ nợ xấu và khả năng thu hồi nợ. Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh trực tiếp khả năng chống chịu rủi ro và mức độ an toàn của danh mục tín dụng.

3. Thực trạng chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam

Tính đến năm 2025, có 27 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên ba thị trường HOSE, HNX và UPCoM. Nhóm ngân hàng thương mại này chiếm khoảng 70 – 75% tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng thương mại; đồng thời, nắm giữ tỷ trọng lớn về vốn chủ sở hữu và lợi nhuận. Sự phát triển của nhóm ngân hàng thương mại niêm yết phản ánh quá trình chuyển đổi từ mô hình quy mô nhỏ sang các ngân hàng thương mại có mạng lưới rộng, năng lực vốn lớn, quản trị hiện đại và mức độ hội nhập cao. Giai đoạn 2019 – 2024 có nhiều biến động, như: đại dịch Covid-19, chính sách tiền tệ hỗ trợ phục hồi kinh tế, biến động lãi suất, tăng trưởng tín dụng nhanh, chuyển đổi số và yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro. Đây là bối cảnh phù hợp để đánh giá cả khả năng tăng trưởng và sức chống chịu của hệ thống ngân hàng thương mại.

(1) Quy mô và tăng trưởng tín dụng

Tổng dư nợ cho vay của 27 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết tăng từ 5.565.870,7 tỷ đồng năm 2019 lên 11.645.423,5 tỷ đồng năm 2024. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân trong giai đoạn đạt khoảng 15,93%/năm. Riêng các năm 2023 và 2024, tăng trưởng tín dụng lần lượt đạt 18,02% và 18,12% (xem Bảng 1).

Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng trung bình tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024

Năm201920202021202220232024
Số tiền5.565.870,76.306.337,77.213.633,88.353.260,19.858.716,811.645.423,5
Tăng trưởng766.136,9740.466,9907.296,21.139.626,31.505.456,71.786.707,7
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình (%)15,9613,3014,3915,8018,0218,12
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại.

Sự gia tăng nhanh của dư nợ thể hiện vai trò tích cực của ngân hàng thương mại trong cung cấp vốn cho nền kinh tế; đồng thời, phản ánh năng lực tài chính và khả năng mở rộng thị trường của các ngân hàng thương mại niêm yết. Tuy nhiên, mức tăng trưởng cao cũng tạo áp lực lên hoạt động thẩm định, giám sát sau cho vay và quản lý rủi ro. Đặc biệt, sự chênh lệch về tốc độ tăng trưởng giữa các ngân hàng thương mại đã phản ánh mức độ phân hóa lớn về chiến lược kinh doanh, khẩu vị rủi ro và năng lực quản trị của từng ngân hàng thương mại.

(2) Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản

Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản của các ngân hàng thương mại niêm yết duy trì quanh mức hai phần ba tổng tài sản. Tỷ lệ này tăng từ khoảng 66,28% năm 2019 lên 67,72% năm 2024 (Hình 1). Mức biến động không lớn cho thấy, hoạt động cho vay vẫn là cấu phần chủ yếu trong cơ cấu tài sản, song các ngân hàng thương mại đã duy trì tương đối ổn định tỷ trọng tín dụng so với tổng tài sản.

Hình 1. Tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tài sản của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết.

Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản ổn định có thể được xem là tín hiệu tích cực vì ngân hàng thương mại không mở rộng tín dụng vượt quá mức tăng của năng lực tài chính. Tuy nhiên, khi dư nợ chiếm tỷ trọng lớn, ngân hàng thương mại vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và dễ chịu tác động khi rủi ro tín dụng gia tăng.

(3) Khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại niêm yết có xu hướng cải thiện. ROAA tăng từ 1,20% năm 2019 lên 1,66% năm 2022, sau đó giảm nhẹ xuống 1,50% năm 2024. ROAE tăng từ khoảng 17% năm 2019 lên gần 20% năm 2022, rồi điều chỉnh giảm trong hai năm sau đó (Hình 2).

Hình 2. ROAA và ROAE của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết, năm 2026.

Kết quả này cho thấy, các ngân hàng thương mại đã nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu, đặc biệt trong giai đoạn phục hồi sau Covid-19. Tuy nhiên, việc ROA và ROE giảm nhẹ sau năm 2022 phản ánh áp lực từ chi phí vốn, trích lập dự phòng, cạnh tranh lãi suất và suy giảm chất lượng tài sản. Mức sinh lời chưa thực sự bền vững, nhất là ở các ngân hàng thương mại phụ thuộc nhiều vào thu nhập lãi.

(4) Hệ số an toàn vốn

Hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại niêm yết trong giai đoạn 2019 – 2024 nhìn chung đáp ứng yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. CAR bình quân thấp nhất khoảng 10,99% và cao nhất khoảng 14,41%. Năm 2021, CAR giảm xuống mức thấp nhất do tác động của đại dịch, rủi ro tín dụng tăng và nhu cầu sử dụng vốn lớn hơn (Hình 3). Sau đó, hệ số này dần phục hồi.

Hình 3. Tỷ lệ an toàn vốn trung bình của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết, năm 2026.

Việc duy trì CAR trên mức tối thiểu cho thấy, khả năng chống chịu của nhóm ngân hàng thương mại niêm yết được cải thiện. Tuy nhiên, sự khác biệt về CAR giữa các ngân hàng thương mại vẫn khá lớn. Một số ngân hàng thương mại có quy mô tín dụng tăng nhanh nhưng tốc độ tăng vốn chậm, dẫn tới áp lực lên hệ số an toàn vốn. Trong bối cảnh hướng tới Basel III, yêu cầu tăng vốn tự có sẽ ngày càng cấp thiết.

(5) Nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại niêm yết giảm trong giai đoạn đầu của đại dịch, từ mức cao hơn năm 2019 xuống 1,28% năm 2020 và 1,19% năm 2021. Tuy nhiên, sau đại dịch, tỷ lệ nợ xấu tăng trở lại, đạt 1,38% năm 2022, 1,73% năm 2023 và 1,78% năm 2024. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu vẫn dưới ngưỡng 3%, xu hướng tăng liên tục trong giai đoạn 2022 – 2024 là tín hiệu cần quan tâm. Nguyên nhân chủ yếu là tác động kéo dài của Covid-19, khả năng phục hồi không đồng đều của doanh nghiệp, khó khăn của thị trường bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp, cùng với việc tăng trưởng tín dụng nhanh có thể dẫn tới nới lỏng một số chuẩn mực cấp tín dụng (Hình 4).

Hình 4. Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay và nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết, năm 2026.

Đáng chú ý, tỷ lệ nợ xấu công bố có thể chưa phản ánh đầy đủ mức độ rủi ro nếu ngân hàng thương mại còn các khoản nợ tái cơ cấu, nợ nhóm 2 hoặc tài sản bảo đảm khó thanh khoản. Vì vậy, đánh giá chất lượng tín dụng cần kết hợp cả nợ xấu nội bảng, nợ tiềm ẩn và khả năng thu hồi tài sản bảo đảm.

(6) Dự phòng rủi ro tín dụng

Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ trong giai đoạn 2019 -2024 dao động trong khoảng 1,2 – 1,8%. Việc duy trì trích lập dự phòng thể hiện nỗ lực chủ động xây dựng bộ đệm tài chính để ứng phó với tổn thất tín dụng. Tuy nhiên, mức dự phòng cần được xem xét cùng với chất lượng tài sản, tỷ lệ bao phủ nợ xấu và cơ cấu nợ. Một số ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu thấp nhưng tỷ lệ bao phủ chưa cao, trong khi các ngân hàng thương mại lớn có bộ đệm dự phòng tốt hơn và khả năng chống chịu rủi ro cao hơn.

Như vậy, các ngân hàng thương mại niêm yết đã đạt được một số kết quả quan trọng: (1) Quy mô tín dụng tăng mạnh; (2) Cơ cấu tín dụng có sự chuyển dịch; (3) Tài sản và nguồn vốn được cải thiện; (4) Khả năng sinh lời tăng; (5) Hệ số an toàn vốn cơ bản đáp ứng yêu cầu; (6) Dự phòng rủi ro được trích lập tương đối đầy đủ.

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, thể hiện: (1) Tăng trưởng tín dụng chưa thật sự bền vững và còn phụ thuộc vào các lĩnh vực có rủi ro cao; (2) Chất lượng tài sản giữa các ngân hàng thương mại chưa đồng đều; (3) Nợ xấu và nợ tiềm ẩn có xu hướng tăng; (4) Cơ cấu nguồn vốn còn mất cân đối, nhất là giữa nguồn vốn ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn; (5) Quản trị rủi ro chưa đồng bộ theo Basel III; (6) Một số ngân hàng thương mại chậm chuyển đổi số, chất lượng nhân sự tín dụng không đồng đều, minh bạch thông tin và quản trị doanh nghiệp còn khoảng cách so với chuẩn mực quốc tế.

Nguyên nhân chủ quan, gồm: hạn chế về vốn, nhận thức quản trị chưa đầy đủ, áp lực cạnh tranh thị phần, nguy cơ nới lỏng chuẩn tín dụng, năng lực quản trị và chất lượng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân khách quan, gồm: khó khăn từ phía khách hàng, biến động kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý và hạn chế trong chất lượng thông tin tín dụng.

4. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết

Một là, nâng cao năng lực tài chính và hệ số an toàn vốn. Các ngân hàng thương mại cần coi tăng vốn tự có là nhiệm vụ chiến lược. Những giải pháp phù hợp, gồm: giữ lại lợi nhuận, phát hành cổ phiếu, trái phiếu cấp 2, trái phiếu xanh, thu hút nhà đầu tư chiến lược và mở rộng nguồn vốn chi phí thấp. Đối với ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, cần tháo gỡ các rào cản trong tăng vốn và giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước khi phù hợp. Việc tăng vốn phải gắn với kiểm soát tăng trưởng tài sản có rủi ro. Ngân hàng thương mại không nên tăng trưởng tín dụng bằng mọi giá mà cần phân bổ vốn theo mức độ rủi ro của từng ngành, từng khách hàng và từng phân khúc. Đồng thời, cần triển khai kế hoạch từng bước đáp ứng Basel III, bao gồm yêu cầu về vốn, thanh khoản và bộ đệm an toàn.

Hai là, xử lý và kiểm soát nợ xấu. Ngân hàng thương mại cần xây dựng cơ chế quản lý nợ xấu chủ động, thay vì chỉ xử lý khi khoản vay đã chuyển thành nợ nhóm 3, 4 hoặc 5. Việc rà soát, phân loại nợ và cảnh báo sớm cần được thực hiện thường xuyên trên cơ sở dữ liệu dòng tiền, lịch sử giao dịch, thông tin thị trường và các dấu hiệu suy giảm năng lực tài chính của khách hàng. Đối với khách hàng có khả năng phục hồi, ngân hàng thương mại có thể cơ cấu lại thời hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn hoặc tư vấn phương án tài chính. Tuy nhiên, việc cơ cấu nợ phải có điều kiện rõ ràng và không được sử dụng để che giấu nợ xấu. Với các khoản nợ không có khả năng phục hồi, cần đẩy nhanh xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ và sử dụng dự phòng. Ngân hàng thương mại cũng cần nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận ngắn hạn để tăng sức chống chịu dài hạn. Việc phát triển thị trường mua bán nợ minh bạch và nâng cao vai trò của VAMC sẽ hỗ trợ quá trình xử lý nợ xấu hiệu quả hơn.

Ba là, hoàn thiện chiến lược và chính sách tín dụng. Chiến lược tín dụng phải gắn với chiến lược kinh doanh, năng lực vốn và khẩu vị rủi ro của ngân hàng thương mại. Mỗi ngân hàng thương mại cần xác định rõ tốc độ tăng trưởng tín dụng mục tiêu, cơ cấu ngành, nghề, giới hạn đối với lĩnh vực rủi ro, giới hạn khách hàng lớn và giới hạn theo nhóm liên quan. Chính sách tín dụng cần linh hoạt nhưng nhất quán, tránh thay đổi theo mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn. Quy trình phê duyệt phải phân định rõ trách nhiệm giữa bộ phận kinh doanh, thẩm định, quản trị rủi ro và phê duyệt. Các tiêu chí đánh giá khách hàng cần kết hợp cả thông tin tài chính và phi tài chính, dòng tiền, triển vọng ngành, chất lượng quản trị và mức độ minh bạch.

Bốn là, tăng cường quản trị rủi ro tín dụng. Ngân hàng thương mại cần xây dựng hệ thống quản trị rủi ro toàn diện từ nhận diện, đo lường, giám sát đến kiểm soát. Khẩu vị rủi ro phải được lượng hóa và truyền đạt tới từng đơn vị kinh doanh. Danh mục tín dụng cần được đa dạng hóa để hạn chế tập trung vào một số ngành hoặc nhóm khách hàng. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cần được cập nhật thường xuyên, phù hợp với từng phân khúc khách hàng và dựa trên kho dữ liệu đầy đủ. Các mô hình cảnh báo sớm phải sử dụng dữ liệu lịch sử, dòng tiền, giao dịch và thông tin thị trường. Việc ứng dụng AI, dữ liệu lớn và học máy có thể nâng cao khả năng dự báo xác suất vỡ nợ, nhưng cần đi kèm cơ chế kiểm định mô hình và quản trị dữ liệu.

Năm là, nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ và quản lý sau cho vay. Kiểm soát nội bộ phải bảo đảm tính độc lập và bao phủ toàn bộ vòng đời khoản vay. Công tác kiểm tra sau vay cần tập trung vào mục đích sử dụng vốn, tình hình tài chính, dòng tiền, biến động tài sản bảo đảm và các dấu hiệu bất thường. Ngân hàng thương mại cần xây dựng hệ thống báo cáo tín dụng theo chiều dọc, hạn chế chồng chéo; đồng thời, tăng cường giám sát đối với các khoản vay có dấu hiệu suy giảm chất lượng. Những khoản vay thuộc lĩnh vực rủi ro cao phải có tần suất kiểm tra dày hơn và cơ chế cảnh báo tự động.

Sáu là, nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định và quyết định cấp tín dụng. Vì vậy, ngân hàng thương mại cần nâng cao tiêu chuẩn tuyển dụng, tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng phân tích tài chính, kiến thức ngành, công nghệ và đạo đức nghề nghiệp. Cơ chế đánh giá hiệu quả công việc không nên chỉ dựa trên tăng trưởng dư nợ hoặc doanh số mà phải gắn với chất lượng khoản vay, tỷ lệ nợ xấu, mức độ tuân thủ và hiệu quả thu hồi nợ. Cần có cơ chế thưởng, phạt rõ ràng và luân chuyển vị trí phù hợp để giảm nguy cơ thông đồng, gian lận hoặc xung đột lợi ích.

Bảy là, phát triển công nghệ và hệ thống thông tin tín dụng. Các ngân hàng thương mại cần xây dựng hạ tầng công nghệ hiện đại, an toàn và có khả năng tích hợp dữ liệu. Cơ sở dữ liệu tín dụng phải tập trung, thống nhất và được cập nhật thường xuyên. Việc kết nối dữ liệu nội bộ với CIC, dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và dữ liệu giao dịch sẽ giúp nâng cao chất lượng thẩm định. Ứng dụng ngân hàng thương mại số, AI và phân tích Big Data có thể rút ngắn thời gian phê duyệt, giảm chi phí và nâng cao khả năng phát hiện rủi ro. Tuy nhiên, ngân hàng thương mại phải tăng cường bảo mật, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro mô hình và phòng chống gian lận công nghệ.

Tám là, hoàn thiện môi trường pháp lý và vai trò của cơ quan quản lý. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm, mua bán nợ, phá sản doanh nghiệp và quyền thu giữ tài sản. Thị trường mua bán nợ cần được phát triển theo hướng minh bạch, cạnh tranh và có sự tham gia của nhiều chủ thể. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát theo hướng dựa trên rủi ro; nâng cao hiệu quả CIC; tăng năng lực xử lý nợ của VAMC; đồng thời, kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo hướng phù hợp với chất lượng tài sản và năng lực vốn của từng ngân hàng thương mại.

5. Kết luận

Giai đoạn 2019 – 2024, các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực về mở rộng quy mô tín dụng, cải thiện khả năng sinh lời, tăng cường năng lực tài chính và duy trì hệ số an toàn vốn. Tổng dư nợ tín dụng tăng hơn hai lần trong giai đoạn nghiên cứu, thể hiện vai trò quan trọng của nhóm ngân hàng thương mại niêm yết trong cung cấp vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Tỷ lệ nợ xấu tăng trở lại sau đại dịch, cơ cấu tín dụng còn tập trung vào một số lĩnh vực rủi ro, mức độ an toàn và chất lượng tài sản giữa các ngân hàng thương mại chưa đồng đều. Một số ngân hàng thương mại còn hạn chế về vốn, công nghệ, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và chất lượng nhân sự.

Để nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết đến năm 2030, các ngân hàng thương mại cần triển khai đồng bộ các giải pháp về tăng vốn, xử lý nợ xấu, hoàn thiện chính sách tín dụng, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao chất lượng thông tin tín dụng, phát triển thị trường mua bán nợ và tăng cường giám sát hệ thống. Nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ là yêu cầu đối với từng ngân hàng thương mại mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Fredric S. Mishkin (1994). The Economic of Money, Banking and Finacial Markets. Bản dịch tiếng Việt. Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (2019 – 2024). Báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán, Báo cáo thường niên: BIDV, CTG, VCB, TCB, VPB, SHB, ACB, VIB, MBB, HDB, EIB, TPB, MSB, LPB, STB…
Peter S. Rose (2001). Quản trị ngân hàng thương mại. Nxb Tài chính.
Phạm Ngọc Dũng & Đinh Xuân Hạng (2011). Giáo trình tài chính tiền tệ. Nxb Tài chính.
Trung tâm thông tin tín dụng (2019 – 2024). Bản tin thông tin tín dụng, số phát hành thường niên.
Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (2019 – 2024). Báo cáo tổng quan thị trường tài chính.