(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “An sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”. TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện và PGS.TS. Đặng Khắc Ánh, Trưởng khoa Quản lý phát triển xã hội đồng chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các phân hiệu của Học viện.

Tham dự Hội thảo, về phía các đại biểu khách mời, có: TS. Đoàn Hữu Bảy, Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam; PGS.TS. Trần Viết Lưu, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam; ThS. Nguyễn Trung Thành,Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Y tế; ông Trần Chí Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ công phường Tăng Nhơn Phú, TP. Hồ Chí Minh.
Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có: PGS.TS. Lương Thanh Cường, Phó Giám đốc Học viện; lãnh đạo các khoa, ban, đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên và sinh viên Học viện quan tâm đến chủ đề hội thảo, tham dự trực tiếp và trực tuyến.

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS. TS. Đặng Khắc Ánh khẳng định, trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, an sinh xã hội luôn là một trong những trụ cột quan trọng thể hiện bản chất nhân văn của chế độ, chất lượng quản trị quốc gia và mức độ phát triển của mỗi xã hội. Trong hệ thống an sinh xã hội, người cao tuổi là một nhóm xã hội cần được quan tâm đặc biệt, không chỉ bởi những thay đổi về sức khỏe, thu nhập và khả năng lao động khi tuổi cao, mà còn bởi những đóng góp to lớn của người cao tuổi đối với gia đình, cộng đồng và xã hội.
Thực tiễn cho thấy, hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam dành cho người cao tuổi đã từng bước được hoàn thiện với nhiều chính sách về bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe, giảm nghèo, trợ giúp cộng đồng và phát huy vai trò người cao tuổi. Tuy nhiên, trước những biến đổi nhanh chóng của cơ cấu dân số và điều kiện kinh tế – xã hội, hệ thống an sinh xã hội vẫn đứng trước nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và đổi mới. Trong bối cảnh ấy, Hội thảo “An sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” được tổ chức nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý cùng trao đổi, phân tích và đề xuất những định hướng chính sách phù hợp.
Định hướng nội dung trao đổi tại Hội thảo, PGS. TS. Đặng Khắc Ánh đề nghị các ý kiến tập trung vào một số nhóm vấn đề chủ yếu:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về an sinh xã hội cho người cao tuổi trong điều kiện già hóa dân số; nghiên cứu những cách tiếp cận mới về an sinh, chăm sóc xã hội, già hóa chủ động, già hóa khỏe mạnh và bảo đảm quyền của người cao tuổi.
Thứ hai, đánh giá thực trạng hệ thống chính sách và các chương trình an sinh xã hội hiện nay, bao gồm bảo đảm thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn và cung cấp các dịch vụ xã hội cho người cao tuổi.
Thứ ba, phân tích những thách thức mới đối với an sinh xã hội trong bối cảnh già hóa dân số nhanh, thay đổi cấu trúc gia đình, đô thị hóa, di cư và sự gia tăng nhu cầu chăm sóc dài hạn. Qua đó, xác định những vấn đề cần được ưu tiên trong hoạch định và thực thi chính sách thời gian tới.
Thứ tư, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhất là các mô hình bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dài hạn, phát triển dịch vụ xã hội và thúc đẩy sự tham gia của người cao tuổi.
Thứ năm, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng bao trùm, công bằng, bền vững và thích ứng với già hóa dân số; tăng cường phối hợp giữa Nhà nước, gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội; đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ số trong cung cấp dịch vụ và quản lý an sinh xã hội.

Với tham luận “Một số giải pháp tăng cường công tác người cao tuổi thích ứng với già hoá dân số”, ThS. Nguyễn Trung Thành phân tích những vấn đề đặt ra đối với công tác người cao tuổi trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh. Năm 2025, Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm khoảng 16% dân số; dự báo đến năm 2036, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn dân số già và đến năm 2050 người cao tuổi có thể chiếm trên 25% dân số. Trong đó, nhóm từ 80 tuổi trở lên tăng nhanh, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam khoảng 74,7 năm nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 năm. Tình trạng đa bệnh lý, suy giảm khả năng vận động và nhu cầu chăm sóc dài hạn ngày càng gia tăng, cho thấy thách thức “già hóa trước khi giàu” và yêu cầu cấp thiết phải chuyển từ cách tiếp cận ứng phó sang chủ động thích ứng với già hóa dân số.
ThS. Nguyễn Trung Thành cho biết, trong chăm sóc sức khỏe, khoảng 80% người cao tuổi đã được lập hồ sơ quản lý, hơn 69% được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần mỗi năm; mạng lưới khoa, đơn nguyên lão khoa, giường điều trị ưu tiên, nhân viên y tế được đào tạo và tình nguyện viên chăm sóc tại nhà từng bước được mở rộng. Về an sinh xã hội, hơn 2,5 triệu người cao tuổi đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội và hơn 2 triệu người hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Các chính sách chăm sóc đời sống văn hóa, tinh thần, thể dục, thể thao cũng đạt kết quả đáng kể với gần 80.000 câu lạc bộ thu hút trên 3 triệu người cao tuổi. Tuy nhiên, công tác người cao tuổi vẫn còn nhiều hạn chế. Năm 2025, chỉ khoảng 42% người cao tuổi được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hưu trí xã hội, thấp hơn mục tiêu 55%. Một bộ phận người cao tuổi, nhất là tại vùng sâu, vùng xa còn khó khăn; hệ thống dịch vụ và cơ sở chăm sóc còn thiếu cả về số lượng và chất lượng; nhân lực chăm sóc tại gia đình và cộng đồng chưa đáp ứng nhu cầu; cơ hội tiếp cận thị trường lao động còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như: chênh lệch kinh tế – xã hội giữa các vùng; nguồn lực hỗ trợ còn hạn hẹp; tác động của đô thị hóa, di cư, thiên tai và biến đổi khí hậu. Đồng thời, ở một số địa phương, nhận thức, trách nhiệm, phối hợp liên ngành, kiểm tra giám sát và đầu tư cho cơ sở dữ liệu, công nghệ thông tin chưa được quan tâm đúng mức.
ThS. Nguyễn Trung Thành đề xuất nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường công tác người cao tuổi thích ứng với già hoá dân số, gồm: tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách đối với người cao tuổi; tăng cường chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ người cao tuổi tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch; bảo đảm khả năng tiếp cận công trình, giao thông và công nghệ thông tin cho người cao tuổi; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và cải cách thủ tục hành chính; phát triển mạng lưới chăm sóc người cao tuổi và nguồn nhân lực của mạng lưới; tăng cường kiểm tra, giám sát và mở rộng hợp tác quốc tế đối với công tác người cao tuổi.

Ông Trần Chí Nghĩa phân tích việc thực thi chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2025 – 2026, trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh và thành phố mở rộng quy mô sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. TP. Hồ Chí Minh đã áp dụng trợ cấp hưu trí xã hội từ ngày 01/7/2025, hạ độ tuổi hưởng từ 80 xuống 75 tuổi đối với người không có lương hưu và mở rộng cho nhóm 70 – 74 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Thành phố cũng tiếp tục vận dụng chính sách đặc thù khi nâng mức trợ cấp từ 500.000 lên 650.000 đồng/người/tháng. Đến cuối năm 2025, có 164.724 người từ đủ 75 tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, cùng hơn 28.000 người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng. Đồng thời, thành phố triển khai miễn phí vé xe buýt, tàu điện cho người cao tuổi; điều chỉnh chính sách chúc thọ, mừng thọ; duy trì Quỹ chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi và thúc đẩy các mô hình cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống, như: nhóm người từ 70 – 74 tuổi không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nhưng không có lương hưu vẫn chưa được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; tỷ lệ người cao tuổi có bảo hiểm y tế sau hợp nhất được báo cáo khoảng 87,5%, thấp hơn chỉ tiêu 95%; trong chăm sóc sức khỏe, số người được lập hồ sơ quản lý và khám định kỳ mới đạt 28,5% mục tiêu, trong khi tỷ lệ bệnh viện có khoa hoặc đơn vị lão khoa khoảng 36%, điều này cho thấy sự thiếu hụt nhân lực và năng lực chuyên môn lão khoa.
Để khắc phục, ông Trần Chí Nghĩa đề xuất năm định hướng chính: (1) Hoàn thiện hệ thống an sinh tuổi già đa tầng và nghiên cứu mở rộng hỗ trợ cho nhóm 70 – 74 tuổi chưa được bao phủ; (2) Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp và hồ sơ điện tử thống nhất cho từng người cao tuổi; (3) Chuyển từ quản lý đối tượng sang quản lý trường hợp đối với nhóm có nguy cơ cao; (4) Phát triển dịch vụ chăm sóc dài hạn, chăm sóc tại nhà và chăm sóc bán trú, đồng thời đào tạo nhân lực chuyên môn lão khoa; và (5) Tăng cường quyền tham gia của người cao tuổi trong toàn bộ chu trình chính sách.

Tiếp cận chủ đề Hội thảo dưới góc độ “Khoảng trống an sinh trong chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay”, TS. Trương Thị Ngọc Lan cho rằng, già hóa không còn đơn thuần là vấn đề nhân khẩu học mà đã trở thành vấn đề phát triển và quản trị xã hội, bởi sự gia tăng số lượng người cao tuổi kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về bảo đảm thu nhập, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ đời sống và đặc biệt là chăm sóc dài hạn. TS. Trương Thị Ngọc Lan nhấn mạnh, cần phân biệt bảo đảm an sinh về thu nhập với bảo đảm an sinh trong chăm sóc. Một người cao tuổi có thể có bảo hiểm y tế nhưng vẫn thiếu người hỗ trợ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày; tương tự, người có lương hưu vẫn phải phụ thuộc vào gia đình khi mất khả năng tự phục vụ. Ngược lại, gia đình có thể đảm nhận việc chăm sóc nhưng phải gánh chịu chi phí về thời gian, thu nhập và sức khỏe. Vì vậy, khoảng trống an sinh nằm ở sự chênh lệch giữa nhu cầu chăm sóc thực tế và khả năng cung ứng của hệ thống chính thức.
TS. Trương Thị Ngọc Lan xác định bốn khoảng trống an sinh trong chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Thứ nhất, hệ thống chăm sóc phụ thuộc quá lớn vào gia đình, trong khi quy mô gia đình giảm, di cư lao động và sự tham gia ngày càng cao của phụ nữ vào thị trường lao động đang làm suy giảm năng lực chăm sóc truyền thống. Thứ hai, tồn tại khoảng cách giữa chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội: bệnh viện có thể điều trị bệnh nhưng chưa bảo đảm được quá trình hỗ trợ người cao tuổi sau khi xuất viện. Thứ ba, hệ thống chăm sóc dài hạn còn hạn chế về quy mô, chất lượng và khả năng tiếp cận, trong khi nhu cầu được dự báo tiếp tục tăng mạnh. Thứ tư, quyền lợi của người chăm sóc, chủ yếu là phụ nữ, chưa được bảo đảm tương xứng với thời gian, công sức và chi phí mà họ bỏ ra.
Để thu hẹp các khoảng trống này, TS. Trương Thị Ngọc Lan đề xuất một số giải pháp, như: chuyển từ cách tiếp cận “an sinh cho người cao tuổi” sang “an sinh trong chăm sóc người cao tuổi”, đưa chăm sóc dài hạn trở thành một cấu phần ngay trong thiết kế chính sách; phát triển hệ thống chăm sóc theo hướng đa tầng, ưu tiên chăm sóc tại nhà và cộng đồng; hình thành hệ sinh thái chăm sóc đa chủ thể, trong đó, Nhà nước bảo đảm quyền được chăm sóc và xác lập trách nhiệm của gia đình, cộng đồng, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cơ sở y tế; xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho chăm sóc dài hạn; nghiên cứu khả năng hình thành bảo hiểm chăm sóc dài hạn phù hợp với điều kiện Việt Nam; đào tạo nhân lực về chăm sóc cơ bản, dinh dưỡng, phục hồi chức năng, sức khỏe tâm thần và sa sút trí tuệ.

Với chủ đề “Phát huy nguồn lực, trí tuệ và kinh nghiệm của đội ngũ “Nhân tài bạc” trong kỷ nguyên số”, PGS.TS. Trần Viết Lưu đặt vấn đề phát huy nguồn lực trí tuệ, kinh nghiệm và tâm huyết của người cao tuổi, đặc biệt là bộ phận được ông khái niệm hóa bằng thuật ngữ “Nhân tài bạc”. Theo ông, thuật ngữ này không đồng nhất với toàn bộ người cao tuổi mà chỉ một bộ phận có trí tuệ, kinh nghiệm, năng lực và tâm huyết tiếp tục cống hiến sau khi nghỉ chế độ. Nhóm này có thể gồm các chuyên gia cao cấp, lãnh đạo, người có học hàm, học vị hoặc từng được Nhà nước ghi nhận, nhưng cũng bao gồm những người không giữ chức vụ hay có bằng cấp cao song có sáng kiến thiết thực, tạo giá trị cho cộng đồng. “Nhân tài bạc” hiện diện trong nhiều lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học, giáo dục và y tế. Trong kỷ nguyên số, khi nguồn lực trí tuệ ngày càng có vai trò quan trọng, tác giả cho rằng cần tiếp tục khai thác vốn tri thức và kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thập niên của nhóm người này.
PGS.TS. Trần Viết Lưu đề xuất các giải pháp phát huy “Nhân tài bạc” theo từng nhóm chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế và văn học – nghệ thuật. Trong lĩnh vực chính trị, ông nhấn mạnh việc xây dựng cơ chế, chính sách để những người đã nghỉ chế độ nhưng còn năng lực và kinh nghiệm có thể tham gia góp ý, phản biện và đóng góp vào quá trình xây dựng chính sách. Trong kinh tế, cần hình thành hệ sinh thái “kinh tế bạc”, đồng thời hoàn thiện các chính sách về thuế, tài chính, đất đai và nguồn nhân lực để khuyến khích người cao tuổi tiếp tục khởi nghiệp, sản xuất và kinh doanh. Đối với khoa học, công nghệ, giáo dục và y tế, ông đề xuất xây dựng chiến lược nhân tài có tính liên tục, từ phát hiện, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng, đồng thời tạo cơ chế để “Nhân tài bạc” tham gia dìu dắt, định hướng và phát triển “Nhân tài trẻ”. Đối với văn học, nghệ thuật, người cao tuổi được xác định là lực lượng quan trọng trong trao truyền các giá trị văn hóa và tinh hoa dân tộc cho thế hệ sau; chính sách cần vừa tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, vừa có cơ chế quản lý phù hợp.





Phát biểu kết luận Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện đánh giá cao những tham luận và ý kiến trao đổi tâm huyết, khoa học của các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu tham dự Hội thảo. Các nội dung thảo luận đã góp phần làm rõ những vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội và chăm sóc người cao tuổi trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình già hóa dân số. Từ kết quả Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình gợi mở ba định hướng để Khoa Quản lý phát triển xã hội tiếp tục nghiên cứu. Thứ nhất, tiếp cận an sinh xã hội đối với người cao tuổi theo vòng đời chính sách, theo đó chính sách cần được thiết kế từ sớm để chuẩn bị cho tuổi già. Thứ hai, phát triển các loại hình dịch vụ công do Nhà nước bảo đảm nhưng không tách rời chính sách an sinh xã hội với thiết chế gia đình và sự bền vững của gia đình Việt Nam. Việc củng cố năng lực của gia đình trong chăm sóc người cao tuổi không chỉ góp phần bảo đảm an sinh mà còn duy trì và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống, trong đó có “đạo hiếu”. Thứ ba, nghiên cứu mô hình an sinh xã hội đa chủ thể, bao gồm Nhà nước, gia đình và cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
TS. Bùi Phương Đình đề nghị Khoa quản lý phát triển xã hội tiếp tục chắt lọc kết quả Hội thảo, xây dựng báo cáo tổng hợp gửi Ban Giám đốc Học viện làm cơ sở tham khảo cho công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách; đồng thời, cung cấp thêm luận cứ để Cục Bảo trợ xã hội nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về an sinh và chăm sóc người cao tuổi trong thời gian tới.

Đinh Hương



