Establishing an economic growth model driven by science, technology, innovation, and digital transformation: the Party’s strategic vision for the new era
ThS. Phan Thị Việt Hà
Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung
Email: phanviethavic@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có vai trò đặc biệt quan trọng để xây dựng, phát triển đất nước, tạo ra những lợi thế mới trong huy động các nguồn lực, mục tiêu đó thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế; thực trạng xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới; từ đó, đề xuất một số nội dung, giải pháp xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế mới trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Từ khóa: mô hình tăng trưởng kinh tế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; kỷ nguyên mới.
Abstract: Establishing an economic growth model that assigns a pivotal role to science, technology, innovation, and digital transformation, thereby creating new advantages for resource mobilization, reflects the Party’s strategic vision for the new era. This article clarifies the theoretical and practical foundations for establishing such an economic growth model and assesses the current status of its implementation; it subsequently proposes specific measures and solutions to establish a new economic growth model grounded in science, technology, innovation, and digital transformation.
Keywords: Economic growth model; science, technology, and innovation; digital transformation; new era.
1. Đặt vấn đề
Một trong những quan điểm được Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước xác định là: “kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”. Vì vậy, việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có ý nghĩa quan trọng thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong định hình con đường phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “tăng trưởng bằng gia tăng nguồn lực” sang tư duy “tăng trưởng bằng nâng cao chất lượng nguồn lực và năng lực sáng tạo”; từ khai thác lợi thế sẵn có sang kiến tạo lợi thế mới… Từ đó, mở ra cơ hội để Việt Nam tạo dựng một mô hình tăng trưởng hiện đại, tự chủ, có sức chống chịu cao, có khả năng bứt phá về năng suất và năng lực cạnh tranh, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
2. Cơ sở khoa học của việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Một là, quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất là động lực cơ bản của tiến bộ xã hội; trong đó, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đòi hỏi quan hệ sản xuất và phương thức tổ chức, quản lý kinh tế phải không ngừng được đổi mới phù hợp. Tư tưởng Hồ Chí Minh nhất quán đề cao vai trò của tri thức, khoa học, kỹ thuật, giáo dục và con người trong sự nghiệp kiến thiết đất nước, đồng thời nhấn mạnh kết hợp sức mạnh nội sinh với chủ động tiếp thu thành tựu tiến bộ của nhân loại, bảo đảm độc lập, tự chủ và phát triển bền vững.
Kế thừa và phát triển những quan điểm đó, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng, đột phá để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng xuất và năng lực cạnh tranh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.31). Đó chính là sự chuyển biến từ tư duy phát triển dựa chủ yếu vào gia tăng các yếu tố đầu vào sang phát triển dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ, sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực; qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Hai là, thế giới đang thay đổi mang tính chất thời đại, tạo ra những thời cơ, vận hội nhưng cũng tiềm ẩn những khó khăn, thách thức.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “thế giới, khu vực biến động nhanh, rộng, phức tạp, khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, sự phân hoá kinh tế toàn cầu… Biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống và trí tuệ nhân tạo vừa mở ra cơ hội, vừa tạo ra rủi ro mới, đòi hỏi chúng ta phải nâng cao tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng và năng lực hành động quốc gia” (Báo Chính phủ, 2026). Những biến đổi đó mở ra thời cơ, vận hội mới để các quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tận dụng thành tựu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số để tạo bước phát triển nhanh, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Tuy nhiên, đi cùng với đó là những khó khăn, thách thức ngày càng phức tạp về đổi mới tư duy, nâng cao năng lực sáng tạo và chủ động làm chủ công nghệ để không bị cuốn vào vòng xoáy của các quan hệ quốc tế.
Ba là, yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới, nhất là mục tiêu tăng trưởng “hai con số” để hiện thực hoá quan điểm, đường lối của Đảng trở thành quốc gia phát triển năm 2045 theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã xác định mục tiêu: “Hoàn thành chuyển đổi số sang mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững, hội nhập… Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây vừa là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, vừa là nhiệm vụ chiến lược nhằm chuyển hóa quyết tâm chính trị và đường lối của Đảng thành năng lực phát triển thực tế, tạo nền tảng vật chất – kỹ thuật vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các động lực tăng trưởng truyền thống ngày càng bộc lộ giới hạn, việc dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên không thể bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Vì vậy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành những động lực chủ yếu để nâng cao năng suất lao động, tạo giá trị gia tăng, mở rộng không gian phát triển và hình thành những động lực tăng trưởng mới.
3. Thực tiễn xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam
Thời gian vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Tư duy tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác các yếu tố đầu vào đã chuyển sang chú trọng hơn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả và các động lực tăng trưởng mới.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được đặt ở vị trí quan trọng trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV/2026 và năm 2025 của Cục Thống kế, Bộ tài Chính đã chỉ rõ: “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quýe 4/2025 ước tính tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2025… Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,70%, đóng góp 5,13% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,73%, đóng góp 45,80%; khu vực dịch vụ tăng 8,882%, đóng góp 49,07% (Báo Chính phủ, 2026).
Năng lực đổi mới sáng tạo và tiềm lực khoa học, công nghệ của Việt Nam từng bước được nâng lên, tạo nền tảng cho các động lực tăng trưởng mới. Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu, Việt Nam được xếp hạng 44/133 quốc gia, nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2023. Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo, tăng 4 bậc so năm 2023, từ vị trí 57 lên 53 (Tuấn Anh, 2024). Những kết quả trên cho thấy, năng lực tiếp nhận, ứng dụng và từng bước tạo ra giá trị từ tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế đã có bước tiến rõ rệt. Hạ tầng số, dịch vụ số, thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và chính phủ số tiếp tục được mở rộng, tạo điều kiện hình thành các mô hình kinh doanh và phương thức cung ứng dịch vụ mới; năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng có đóng góp trực tiếp hơn vào phát triển kinh tế – xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được việc xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam còn một số hạn chế: mô hình tăng trưởng của Việt Nam chưa thực sự chuyển mạnh sang chiều sâu, mức độ phụ thuộc vào các động lực truyền thống vẫn còn lớn. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đánh giá: “tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp”.
Mặc dù khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng được xác định là động lực quan trọng, song đóng góp của các yếu tố này vào tăng trưởng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Năng suất lao động, năng lực công nghệ và hàm lượng giá trị gia tăng nội địa của nhiều ngành, lĩnh vực còn hạn chế; tăng trưởng vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể bởi vốn đầu tư, lao động và mở rộng quy mô sản xuất. Theo ước tính, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng khoảng 11% của Singapore, 26% của Malaysia và 40% của Thái Lan (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, còn thiếu và chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới. Thể chế, cơ chế chính sách và môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo vẫn còn những điểm chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
4. Một số giải pháp
Một là, đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng kinh tế.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, bởi nếu tư duy phát triển và thể chế chưa được đổi mới tương thích thì những thành tựu của khoa học, công nghệ khó có thể chuyển hóa đầy đủ thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị quốc gia; phát triển kinh tế – xã hội… đưa đất nước bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Tạo chuyển biến trong nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với tăng trưởng. Không xem đây là lĩnh vực riêng của ngành khoa học – công nghệ hay một nhiệm vụ mang tính kỹ thuật, mà phải coi là nền tảng và phương thức phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế. Từ đó, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và địa phương cần được xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng vai trò của tri thức, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo trong nâng cao năng suất. Kết quả ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực phát triển của các cấp, các ngành.
Tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện đồng bộ các quy định về khoa học, công nghệ, đầu tư, tài chính, ngân sách, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, chuyển giao công nghệ và thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới; kịp thời tháo gỡ những rào cản đang làm hạn chế khả năng nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Đặc biệt, phải xây dựng cơ chế chấp nhận và quản trị rủi ro phù hợp đối với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, tạo không gian để các nhà khoa học, doanh nghiệp và chủ thể sáng tạo dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm và dám chịu trách nhiệm. Chuyển từ cách thức đầu tư dàn trải sang tập trung cho những lĩnh vực công nghệ chiến lược, có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng lớn, đồng thời phát huy mạnh mẽ nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và đầu tư cho những lĩnh vực nền tảng, có độ rủi ro cao mà khu vực tư nhân khó tự đảm nhận; doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của quá trình ứng dụng và thương mại hóa công nghệ; viện nghiên cứu, trường đại học trở thành những chủ thể quan trọng của sáng tạo tri thức và công nghệ. Qua đó hình thành mối liên kết chặt chẽ Nhà nước – nhà khoa học – nhà trường – doanh nghiệp, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ sáng chế đến sản phẩm và từ công nghệ đến năng lực cạnh tranh.
Gắn hoàn thiện thể chế với xây dựng hạ tầng số, phát triển dữ liệu và bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bởi dữ liệu đang trở thành một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế số. Hình thành hệ sinh thái dữ liệu có tính liên thông, đồng bộ và an toàn; phát triển hạ tầng số hiện đại; thúc đẩy chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội trên cơ sở bảo đảm quyền riêng tư, an ninh và chủ quyền số quốc gia. Không chạy theo số lượng dự án công nghệ, tỷ lệ số hóa hay mức độ đầu tư, mà phải lấy những kết quả thực chất như năng suất lao động, hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng, khả năng làm chủ công nghệ, số lượng sản phẩm và mô hình kinh doanh mới làm thước đo.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định nhà khoa học là nhân tố then chốt, đồng thời nhấn mạnh phải chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao, có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy coi nhân lực khoa học, công nghệ là một yếu tố đầu vào sang coi nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh cốt lõi và động lực nội sinh của tăng trưởng. Với tinh thần đó, đổi mới căn bản giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tập trung ưu tiên đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ số và các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, công nghệ xanh; đồng thời nâng cao năng lực số, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng công nghệ cho lực lượng lao động.
Có cơ chế đặc thù để thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia công nghệ, kỹ sư trình độ cao và người Việt Nam có năng lực đang làm việc ở nước ngoài. Tạo môi trường nghiên cứu, sáng tạo có tính cạnh tranh, đề cao tự chủ học thuật, khuyến khích chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và coi trọng kết quả thực chất thay vì nặng về thủ tục. Đồng thời, hình thành mạng lưới kết nối chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và các trung tâm đổi mới sáng tạo có khả năng giải quyết những bài toán lớn của quốc gia.
Đặc biệt, cần xây dựng hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; viện, trường là nơi tạo ra tri thức, công nghệ và đào tạo nhân lực; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, đầu tư cho những lĩnh vực nền tảng và dẫn dắt các chương trình nghiên cứu có tính chiến lược. Phải rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ sáng chế đến sản phẩm, từ công nghệ đến thị trường, lấy hiệu quả ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa làm những thước đo quan trọng của hoạt động khoa học, công nghệ. Gắn phát triển nhân lực với chuyển đổi số toàn diện và hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Không chỉ đào tạo một lực lượng chuyên gia công nghệ tinh hoa, mà phải nâng cao năng lực số, kỹ năng đổi mới và khả năng sử dụng công nghệ của đông đảo người lao động, doanh nghiệp và người dân. Qua đó, tạo ra một xã hội học tập, xã hội số và lực lượng lao động có khả năng thích ứng liên tục với sự thay đổi của công nghệ.
Ba là, phát triển đồng bộ hạ tầng khoa học, công nghệ, hạ tầng số và dữ liệu; thúc đẩy doanh nghiệp trở thành trung tâm chuyển hóa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực tăng trưởng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định hạ tầng, nhân lực, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, trong đó yêu cầu phát triển hạ tầng số hiện đại, đồng bộ, an toàn và đưa dữ liệu trở thành một nguồn lực quan trọng của sản xuất. Với tinh thần đó, đầu tư phát triển hạ tầng số và hạ tầng khoa học, công nghệ có tính chiến lược, bảo đảm năng lực kết nối, tính liên thông và khả năng đáp ứng sự phát triển nhanh của kinh tế số. Ưu tiên xây dựng các nền tảng tính toán, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, mạng lưới kết nối tốc độ cao và các hạ tầng phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm những công nghệ mới; đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu quốc gia. Hạ tầng phải được nhìn nhận không chỉ là điều kiện kỹ thuật mà là một bộ phận của lực lượng sản xuất hiện đại, có khả năng mở rộng không gian phát triển và giảm chi phí giao dịch, sản xuất, quản trị của nền kinh tế.
Khai thác dữ liệu như một nguồn lực phát triển mới. Tập trung hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành; tăng cường kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm an toàn thông tin, quyền riêng tư và lợi ích hợp pháp của người dân. Cần chuyển mạnh từ tư duy coi dữ liệu là sản phẩm phụ của hoạt động quản lý sang coi dữ liệu là tài sản và yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất, qua đó tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Khi dữ liệu được kết nối, làm sạch, chuẩn hóa và khai thác hiệu quả, nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng ra quyết định, tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Phát huy vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Doanh nghiệp là nơi trực tiếp biến tri thức và công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm và giá trị gia tăng; vì vậy, cần tạo cơ chế để doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể đầu tư, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khuyến khích doanh nghiệp tăng chi cho nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ, xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và các quỹ đổi mới sáng tạo; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, nền tảng số và nguồn lực tài chính. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, đặt hàng và dẫn dắt thị trường đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược, thay vì bao cấp hoặc làm thay doanh nghiệp.
Gắn phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số với cơ cấu lại nền kinh tế và hình thành các ngành, lĩnh vực tăng trưởng mới. Ưu tiên nguồn lực cho những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá về năng suất và giá trị gia tăng như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ xanh, năng lượng mới và các dịch vụ số. Phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao và các cụm liên kết ngành có khả năng kết nối doanh nghiệp trong nước với mạng lưới công nghệ toàn cầu.
5. Kết luận
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: “Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển, lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo… trở thành động lực chủ yếu” (Báo Chính phủ, 2026). Xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế lấy khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực then chốt chính là một bước chuyển có ý nghĩa chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đó là con đường để nâng cao năng suất, tạo ra các ngành và sản phẩm mới, mở rộng không gian phát triển, củng cố năng lực tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia. Thành công của quá trình này sẽ không chỉ được đo bằng những con số tăng trưởng, mà còn bằng khả năng tạo dựng một nền kinh tế hiện đại, sáng tạo, tự chủ, có sức cạnh tranh và phát triển bền vững; trong đó, khoa học, công nghệ mở đường, đổi mới sáng tạo tạo động lực, chuyển đổi số tạo phương thức, doanh nghiệp tạo sức lan tỏa và con người là chủ thể quyết định. Đó chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam biến khát vọng phát triển thành năng lực phát triển thực chất, tạo bước tiến mạnh mẽ trên con đường hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
(Chính phủ, 20/7/2026). Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khoá XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Cục Thống kê (08/01/2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
Tuấn Anh (26/9/2024). Việt Nam tăng 2 bậc, xếp hạng 44/133 quốc gia, nền kinh về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu. https://nhandan.vn.
Bộ Khoa học và Công nghệ (14/10/2025). Năng suất lao động – thước đo năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong kỷ nguyên số. https://mst.gov.vn.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(Chính phủ, 29/7/2026). Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV của Đảng. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.



