Policies for informal workers in urban areas in the context of policy changes in contemporary Vietnam
TS. Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email:nguyetntm@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Lao động phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc việc làm của các nền kinh tế đang phát triển; đồng thời, là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước biến động chính sách và môi trường kinh tế – xã hội. Tại Việt Nam, quá trình hoàn thiện thể chế, điều chỉnh chính sách quản lý và tăng cường công tác quản lý nhà nước đô thị đang tạo ra những tác động bất lợi đối với lao động phi chính thức tại khu vực đô thị. Bài viết phân tích thực trạng lao động phi chính thức ở các đô thị trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi số và siết chặt quản lý đô thị. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng chính sách hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động phi chính thức.
Từ khóa: Lao động phi chính thức; đô thị; không gian kinh tế; thích ứng; chuyển đổi việc làm.
Abstract: Informal workers play a significant role in the employment structure of developing economies and constitute a group particularly vulnerable to fluctuations in policy and socio-economic conditions. In Viet Nam, the ongoing process of institutional refinement, adjustments to management policies, and the strengthening of state management of urban areas is generating adverse impacts on informal workers in urban areas. This article analyses the current situation of informal workers in Vietnamese cities against the backdrop of economic restructuring, digital transformation, and the tightening of urban management. On this basis, it proposes several policy orientations to support employment transition for informal workers.
Keywords: Informal workers; urban areas; economic space; adaptation; employment transition.
1. Đặt vấn đề
Lao động phi chính thức ở đô thị Việt Nam là một hiện tượng phổ biến và có vai trò quan trọng trong phát triển của các đô thị. Lao động phi chính thức ở các đô thị có quy mô lớn, đảm nhiệm nhiều việc làm linh hoạt và đa dạng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự thay đổi nhanh chóng của các chính sách việc làm, thu nhập, thuế và trật tự đô thị đã tạo rất nhiều sức ép lên đối tượng lao động phi chính thức. Sự thay đổi trong chính sách của các đô thị là cần thiết để đẩy mạnh chính thức hóa nền kinh tế, thu hẹp khu vực phi chính thức, phù hợp với xu thế và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình thay đổi chính sách cần quan tâm giải quyết các khoảng trống và khó khăn về kinh tế – xã hội đối với lao động phi chính thức ở các đô thị nhằm bảo đảm công bằng giữa các nhóm xã hội và bảo đảm “không ai bị bỏ lại phía sau”, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm xã hội và không gián tiếp gây ra các hệ lụy mới về chính sách và kinh tế – xã hội đối với lao động phi chính thức.
2. Lao động phi chính thức ở đô thị Việt Nam hiện nay
Khái niệm về khu vực phi chính thức lần đầu tiên được chính thức thông qua năm 1993 tại Hội nghị quốc tế về thống kê lao động lần thứ 15, khu vực phi chính thức là những cơ sở sản xuất – kinh doanh thuộc sở hữu của các hộ gia đình và không được thành lập với tư cách pháp nhân riêng, không độc lập với các hộ gia đình hoặc các thành viên hộ gia đình sở hữu chúng. Các cơ sở này không có bảng tài khoản hoàn chỉnh (kể cả bảng cân đối tài sản và nợ phải trả) để giúp phân biệt giữa hoạt động sản xuất của cơ sở với các hoạt động khác của chủ sở hữu và để phân tách luồng thu nhập và vốn của cơ sở với các chủ sở hữu (Tổng cục Thống kê, 2022).
Người lao động có việc làm phi chính thức (hay lao động phi chính thức) là những người làm các công việc mà theo luật định hoặc trên thực tế không được pháp luật lao động bảo vệ, không phải đóng thuế thu nhập hoặc không được hưởng các chế độ bảo hiểm, an sinh xã hội và chế độ việc làm khác, như: không được thông báo trước về việc sa thải, không được trợ cấp thôi việc hoặc không được nghỉ phép khi ốm đau… Công việc đó thường không được khai báo, có tính chất tạm thời hoặc ngắn hạn, có số giờ làm việc hay mức lương dưới ngưỡng quy định, đôi khi không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật (Tổng cục Thống kê, 2022).
Tổng Cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) xác định lao động phi chính thức bao gồm các loại sau:
(1) Lao động gia đình không được hưởng lương, hưởng công;
(2) Người chủ của cơ sở, lao động tự làm trong khu vực kinh tế phi chính thức;
(3) Người làm công hưởng lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng lao động nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc;
(4) Xã viên hợp tác xã không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
(5) Lao động tự làm hoặc lao động làm công hưởng lương trong các hộ gia đình hoặc các hộ nông, lâm, thủy sản (Cục Thống kê, 2025).
Theo các định nghĩa này, lao động phi chính thức ở Việt Nam hiện nay có quy mô rất lớn. Giai đoạn từ 2020 – 2050, lao động phi chính thức ở Việt Nam luôn chiếm khoảng 2/3 tổng số lao động cả nước và có quy mô hơn 30 triệu người (Bảng 1).
Bảng 1. Quy mô lao động phi chính thức Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025
| Năm | Số lượng (triệu người) | Tỷ lệ/lực lượng lao động (%) | Theo nơi cư trú | |
| Thành thị (%) | Nông thôn (%) | |||
| 2020 | 38,40 | 70,3 | 52,7 | 78,8 |
| 2021 | 34,66 | 68,5 | 52,0 | 77,9 |
| 2022 | 34,00 | 65,8 | 50,3 | 74,9 |
| 2023 | 33,50 | 65,1 | 49,7 | 74,3 |
| 2024 | 33,20 | 64,5 | 49,0 | 74,1 |
| 2025 | 32,70 | 61,9 | 47,0 | 73,3 |
Ở khu vực đô thị, lao động phi chính thức thường chiếm khoảng 50% tổng số lao động thành thị, thấp hơn so với khu vực nông thôn. Nhóm lao động này chủ yếu làm các công việc, như: bán hàng rong, lái xe công nghệ, bán hàng online, tiểu thương, cung cấp dịch vụ nhỏ lẻ hoặc dịch vụ ăn uống vỉa hè… Việc làm của họ khá đa dạng và thường có mức thu nhập cao hơn so với lao động phi chính thức ở nông thôn. Đáng chú ý, ngay cả trong khu vực kinh tế chính thức vẫn tồn tại một tỷ lệ lao động phi chính thức, khi một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất – kinh doanh cố tình che giấu hoặc lách luật để không ký hợp đồng lao động và không tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Hằng năm, thị trường lao động vẫn tiếp tục được bổ sung một lượng lớn lao động phi chính thức. Nhóm này chủ yếu bao gồm lao động trung niên và lao động trình độ thấp bị sa thải do xu hướng số hóa, tự động hóa trong các nhà máy, xí nghiệp (Quỳnh Chi, 2026). Ở độ tuổi trung niên, họ có nguy cơ mất việc cao và gần như ít có cơ hội quay trở lại khu vực lao động chính thức. Do đó, họ buộc phải gia nhập thị trường lao động phi chính thức.
3. Đặc điểm của lao động phi chính thức ở đô thị
Từ năm 2020 – 2025, lao động phi chính thức ở khu vực thành thị có xu hướng giảm từ 52,7% (năm 2020) xuống 47% (năm 2025) (Bảng 1). Việc làm của lao động phi chính thức ở đô thị có các đặc điểm sau:
(1) Việc làm của lao động phi chính thức ở đô thị chủ yếu là việc làm tự do, mặt bằng tiền lương thấp và điều kiện làm việc bấp bênh do không có bằng cấp. Năm 2024, lao động phi chính thức chiếm 77,1% trong tổng số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (Tổng cục Thống kê, 2024, tr. 176). Lao động phi chính thức ở thành thị chủ yếu làm các công việc không yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật, như: nghề giản đơn (91,4%), thợ thủ công và thợ khác có liên quan (73,8%); dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng (75,6%)… (Tổng cục Thống kê, 2024, tr. 177). Phần lớn lao động phi chính thức ở thành thị không có hợp đồng lao động và không tham gia bảo hiểm xã hội.
Tuy nhiên, những năm gần đây, do sự phát triển của khoa học, công nghệ nên xuất hiện một số mô hình kinh tế mới, như: kinh tế chia sẻ, kinh tế Gig, kinh tế nền tảng… do đó, rất nhiều người lao động có trình độ cao chủ động chuyển đổi việc làm và gia nhập khu vực phi chính thức thông qua việc làm tự do, việc làm từ xa hoặc việc làm cho các nền tảng công nghệ, như: xe công nghệ, sáng tạo nội dung số, bán hàng online, tư vấn online, các nhà huấn luyện cá nhân… Tuy nhiên, việc gia tăng các công việc phi chính thức này cũng tiềm ẩn nhiều bất ổn do lao động phi chính thức dễ bị tổn thương khi công nghệ hoặc chính sách thay đổi.
(2) Địa điểm và điều kiện làm việc của lao động phi chính thức thường không cố định và không bảo đảm, họ thường phải làm việc ở những nơi có điều kiện không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn lao động, tỷ lệ địa điểm làm việc của lao động phi chính thức như sau: làm việc tại nhà và nhà khách hàng (49,2%), lưu động (10,5%), chợ/trung tâm thương mại (8,6%), ngoài trời (6,4%). Chỉ có 25% lao động phi chính thức được làm việc ở văn phòng so với 79,5% của lao động chính thức.
Việc làm của lao động phi chính thức ở thành thị đang đối mặt với những thay đổi to lớn do tác động của sự thay đổi trong các quy định của chính quyền. Những năm đây đây, một số đô thị lớn, như: thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tăng cường thực hiện các quy định về quản lý giao thông đường bộ, trật tự đô thị và vệ sinh môi trường (Quang Minh, 13/4/2026). Cụ thể, từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026, Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh đã ban hành hướng dẫn mới về quản lý, thu phí sử dụng tạm thời lòng đường, vỉa hè, theo đó không còn cho phép sử dụng vỉa hè để kinh doanh, buôn bán hàng hóa (chỉ còn một số trường hợp đặc biệt, như: tổ chức tang lễ, đám cưới, thi công công trình…) (Sỹ Đông, 01/3/2026). Tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch số 373/KH-UBND ngày 26/12/2025 về triển khai các giải pháp xử lý “chợ cóc” và điểm kinh doanh tự phát, với mục tiêu giải tỏa 100% các điểm này theo lộ trình đến năm 2027 (Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2025). Những quy định này đã trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế của nhiều lao động phi chính thức làm nghề bán hàng rong, dịch vụ nhỏ lẻ trên vỉa hè và lòng lề đường, khiến thu nhập giảm sút hoặc mất việc làm.
Bên cạnh đó, chính sách chuyển đổi xanh trong giao thông tại các thành phố lớn đang được triển khai quyết liệt nhằm hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050, đặt ra yêu cầu buộc các nền tảng xe công nghệ phải dần chuyển đổi từ xe xăng sang xe điện. Điển hình, TP. Hồ Chí Minh đang triển khai đề án chuyển đổi 100% xe máy của shipper và tài xế công nghệ sang xe điện đến năm 2029, với quy mô khoảng 400.000 xe. Đề án này đưa ra lộ trình cụ thể theo từng giai đoạn (đạt 30% vào cuối năm 2025, 50% vào cuối năm 2026, 80% vào cuối năm 2027 và 100% vào năm 2029); đồng thời, kèm theo các gói hỗ trợ tín dụng, cho thuê xe điện và ưu đãi tài chính nhằm giảm bớt áp lực chi phí đầu tư ban đầu cho người lao động (Lê Nguyễn, 18/7/2025). Mặc dù có các gói hỗ trợ tín dụng, cho thuê xe và ưu đãi tài chính, chi phí đầu tư ban đầu vẫn tạo áp lực đáng kể đối với nhiều tài xế và shipper thu nhập thấp, tiềm ẩn nguy cơ giảm việc làm hoặc thu nhập trong giai đoạn chuyển tiếp nếu không tiếp cận được hỗ trợ kịp thời.
Ước tính quy mô nhóm bị ảnh hưởng cho thấy mức độ tác động khá lớn. Tại Hà Nội, Kế hoạch số 373/KH-UBND xác định 231 “chợ cóc” và điểm kinh doanh tự phát cần giải tỏa theo lộ trình đến giữa năm 2027 (nhóm ưu tiên cao nhất gồm khoảng 75 điểm hoàn thành trước cuối tháng 01/2026, các nhóm còn lại theo quy mô hộ kinh doanh). Mỗi điểm thường thu hút từ vài chục đến hơn 100 hộ/tiểu thương và lao động phụ trợ. Ước tính sơ bộ, chính sách này tác động trực tiếp đến hàng nghìn đến hàng chục nghìn lao động phi chính thức (bán hàng rong, dịch vụ ăn uống vỉa hè, tiểu thương tự phát). Các đợt siết trật tự vỉa hè từ cuối năm 2025 đến giữa năm 2026 đã khiến hàng nghìn lao động tự do phải thu hẹp quy mô, chuyển vào ngõ nhỏ, bán lưu động hoặc tạm dừng hoạt động, dẫn đến giảm thu nhập rõ rệt (Lê Trung Hiếu, 07/01/2026). Tương tự, tại TP. Hồ Chí Minh, việc ngừng cho phép sử dụng vỉa hè để kinh doanh buôn bán cũng ảnh hưởng đến nhóm lao động bán hàng rong và dịch vụ nhỏ lẻ vốn phụ thuộc không gian công cộng.
Lao động phi chính thức vốn mang những đặc điểm cố hữu như việc làm bấp bênh, điều kiện lao động thiếu bảo đảm, tiền lương thấp và không được hưởng đầy đủ các chế độ an sinh xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, khi chính sách và quy định pháp luật thay đổi nhanh chóng, nhóm lao động này càng trở nên dễ bị tổn thương và chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn. Điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng thất nghiệp, thiếu việc làm tại các đô thị; tỷ lệ hộ nghèo đô thị tăng cao; cùng với đó là các rủi ro về giáo dục và y tế (bỏ học sớm, không tham gia bảo hiểm y tế…).
Khu vực phi chính thức và lao động phi chính thức là hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển, phương hướng chính sách đối với lao động phi chính thức hiện nay không phải là xóa bỏ hoặc phủ nhận hoàn toàn vai trò của khu vực này mà là từng bước thu hẹp khu vực phi chính thức; đồng thời, hỗ trợ, thúc đẩy việc làm bền vững; tạo môi trường cho khu vực phi chính thức và lao động phi chính thức đóng góp và quá trình phát triển của đất nước. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải có các chính sách bảo đảm lao động phi chính thức có thể thích ứng và chuyển đổi việc làm để bảo đảm việc làm và thu nhập cho người lao động; bảo đảm an sinh xã hội và công bằng xã hội trong mọi lĩnh vực cho lao động phi chính thức; bảo đảm kết quả phát triển kinh tế – xã hội của đất nước được phân phối hài hòa cho tất cả tầng lớp xã hội ở các vùng, miền khác nhau.
4. Một số kiến nghị
Thứ nhất, thúc đẩy chính thức hóa lao động phi chính thức thông qua cơ chế đăng ký và khuyến khích kinh tế.
Cơ chế thực thi cần dựa trên việc triển khai đồng bộ Nghị định số 318/2025/NĐ-CP về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động. Việc đăng ký lao động (bao gồm cả lao động không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) được thực hiện hoàn toàn trực tuyến qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia hoặc ứng dụng VNeID sẽ tạo lập cơ sở dữ liệu cập nhật, làm nền tảng cho hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Để khuyến khích hộ kinh doanh và lao động tự do tham gia, cần gắn đăng ký với các ưu đãi cụ thể: miễn, giảm thuế trong giai đoạn đầu; hỗ trợ kê khai thuế đơn giản và tiếp cận tín dụng ưu đãi khi đã đăng ký.
Điều kiện áp dụng quan trọng là phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan lao động – việc làm, cơ quan thuế và chính quyền địa phương; đồng thời, hệ thống đăng ký phải đơn giản, chi phí giao dịch thấp, tránh tạo thêm gánh nặng hành chính. Nếu thủ tục phức tạp hoặc thiếu liên thông dữ liệu, nguy cơ chính sách chỉ dừng ở mức hình thức sẽ rất cao.
Thứ hai, quy hoạch không gian kinh tế phù hợp cho hoạt động phi chính thức trong đô thị.
Thay vì chỉ “cấm” hoặc “giải tỏa”, chính quyền đô thị cần chuyển sang cơ chế quy hoạch không gian linh hoạt: xác định các khu vực được phép kinh doanh lưu động (gần khu du lịch, ga, bến xe, khu dân cư mật độ cao), bố trí điểm bán hàng cố định có kiểm soát và hỗ trợ chuyển đổi tiểu thương vào chợ dân sinh hoặc khu thương mại với mức phí hợp lý. Cơ chế thực thi cần được thể chế hóa bằng quy hoạch chi tiết không gian công cộng và quy chế quản lý tạm thời lòng đường, vỉa hè, trong đó quy định rõ thời gian, địa điểm và điều kiện hoạt động.
Điều kiện để chính sách này hiệu quả là phải có sự tham vấn thực chất với các nhóm lao động bị ảnh hưởng trước khi ban hành quy định; đồng thời, chính quyền cần bảo đảm quỹ đất hoặc không gian công cộng đủ để bố trí. Nếu chỉ giải tỏa mà không tạo không gian thay thế, chính sách sẽ đẩy lao động vào tình trạng mất việc hoặc chuyển sang hoạt động “chui”, làm suy giảm hiệu lực quản lý.
Thứ ba, hỗ trợ tài chính, kỹ năng và an sinh xã hội theo hướng gắn với quá trình chuyển đổi.
Cơ chế hỗ trợ cần được thiết kế theo chuỗi: sau khi đăng ký lao động, người lao động được tiếp cận gói tín dụng nhỏ (qua ngân hàng chính sách hoặc quỹ hỗ trợ việc làm) để đầu tư công cụ lao động hoặc chuyển đổi nghề; đồng thời, được hỗ trợ đào tạo kỹ năng ngắn hạn phù hợp với nhu cầu thị trường (đặc biệt các nghề liên quan đến kinh tế số, dịch vụ đô thị và chuyển đổi xanh). Về bảo hiểm xã hội, bên cạnh tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với cơ sở sử dụng lao động, cần có chính sách hỗ trợ một phần mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện trong giai đoạn chuyển tiếp, kết hợp với tuyên truyền và đơn giản hóa thủ tục tham gia.
Điều kiện áp dụng then chốt là nguồn lực tài chính phải được bố trí ổn định từ ngân sách trung ương và địa phương; đồng thời, có cơ chế giám sát để tránh trục lợi. Nếu thiếu nguồn lực hoặc thủ tục hỗ trợ còn phức tạp, nhóm lao động thu nhập thấp sẽ khó tiếp cận, làm giảm hiệu quả chính sách.
Thứ tư, giảm áp lực di cư lao động vào đô thị thông qua phát triển kinh tế vùng cân bằng.
Cơ chế thực thi cần gắn kết giữa chính sách đô thị và chính sách phát triển vùng: đầu tư hạ tầng, khu công nghiệp, khu kinh tế tại các địa phương có tỷ lệ di cư cao; đồng thời, triển khai hiệu quả các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và xuất khẩu lao động tại chỗ. Chính quyền địa phương cần được trao quyền chủ động hơn trong thiết kế mô hình sinh kế phù hợp với đặc thù vùng, thay vì áp dụng đồng loạt các giải pháp từ trung ương.
Điều kiện thành công là phải có sự phân bổ nguồn lực đầu tư công theo hướng ưu tiên các vùng có nguy cơ di cư cao, cùng với cơ chế đánh giá hiệu quả theo chỉ tiêu việc làm tại chỗ và giảm tỷ lệ lao động phi chính thức đô thị. Nếu phát triển vùng không đủ hấp dẫn về thu nhập và cơ hội việc làm, áp lực di cư vào các đô thị lớn sẽ tiếp tục duy trì, làm gia tăng quy mô lao động phi chính thức cần hỗ trợ.
5. Kết luận
Lao động phi chính thức ở đô thị vừa là bộ phận dễ bị tổn thương, vừa là lực lượng quan trọng đóng góp vào phát triển kinh tế và cung ứng dịch vụ đô thị. Trong bối cảnh các đô thị đẩy mạnh quản lý trật tự, chuyển đổi số và phát triển xanh, nhiều lao động phi chính thức đang phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm, giảm thu nhập và khó thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường lao động. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ chuyển đổi việc làm phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu hiện đại hóa đô thị với bảo đảm sinh kế cho người lao động. Việc hỗ trợ lao động phi chính thức thích ứng với quá trình chuyển đổi không chỉ góp phần bảo đảm công bằng xã hội mà còn tạo nền tảng cho phát triển kinh tế bền vững và bao trùm ở Việt Nam hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Đỗ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Thu Hiền, Hồ Thị Mai Sương & Lương Nguyệt Ánh (2024). Thực trạng về lao động phi chính thức phi nông nghiệp ở Việt Nam. https://kinhtevadubao.vn/thuc-trang-ve-lao-dong-phi-chinh-thuc-phi-nong-nghiep-o-viet-nam-
IUCN (2021). Quản lý chất thải rắn và vai trò của khối phi chính thức tại Việt Nam. Nxb Giao thông vận tải.
Lê Nguyễn (18/7/2025). Đến 2029, chuyển đổi toàn bộ xe 2 bánh xăng sang điện cho tài xế công nghệ. https://tphcm.chinhphu.vn/den-2029-chuyen-doi-toan-bo-xe-2-banh-xang-sang-dien-cho-tai-xe-cong-nghe-10125071807192361.html
Lê Trung Hiếu (07/01/2026). Dẹp bỏ 231 chợ cóc: Từ ký ức “Kẻ Chợ” đến kiến tạo Hà Nội đáng sống. https://dantri.com.vn/tam-diem/dep-bo-231-cho-coc-tu-ky-uc-ke-cho-den-kien-tao-ha-noi-dang-song-20260106142013126.html
Quang Minh (13/4/2026). Hà Nội: Kiên quyết xử lý vi phạm trật tự đô thị, đường phố thông thoáng. https://cand.vn/ha-noi-kien-quyet-xu-ly-vi-pham-trat-tu-do-thi-duong-pho-thong-thoang-post802461.html
Quỳnh Chi (2026). Sức ì tuổi 40 và cuộc thanh lọc lao động khốc liệt thời đại số. https://laodong.vn/cong-doan/suc-i-tuoi-40-va-cuoc-thanh-loc-lao-dong-khoc-liet-thoi-dai-so-1746705.ldo
Sỹ Đông (01/3/2026). TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn thu phí vỉa hè: Không cho buôn bán, kinh doanh. https://ttbc-hcm.gov.vn/tp-hcm-huong-dan-thu-phi-via-he-khong-cho-buon-ban-kinh-doanh-1020755.html
Thảo Thu (16/6/2025). Nhiều hộ kinh doanh ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đóng cửa, nghỉ bán: Cục Thuế nêu lý do. https://dantri.com.vn/kinh-doanh/nhieu-ho-kinh-doanh-o-ha-noi-tphcm-dong-cua-nghi-ban-cuc-thue-neu-ly-do-20250616013455388.htm
Tổng cục Thống kê (2022). Tổng quan về lao động có việc làm phi chính thức ở Việt Nam. Nxb Thanh niên.
Tổng cục Thống kê (2026). Niên giám thống kê 2025. Nxb Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê 2024. Nxb Thống kê.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2025). Kế hoạch 373/KH-UBND ngày 26/12/2025 triển khai các giải pháp xử lý “chợ cóc”, điểm kinh doanh tự phát trên địa bàn thành phố Hà Nội.



