Assessing readiness for implementing results-based budgeting at the local government level: The case of Ho Chi Minh City
TS. Nguyễn Thị Ngọc Loan
Trường Đại học Tài chính – Marketing
Email: nguyenloan@ufm.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Ngân sách theo kết quả (Performance-Based Budgeting – PBB) đang trở thành xu hướng cải cách quản lý tài chính công tại nhiều quốc gia. Việc triển khai thành công PBB đòi hỏi chính quyền địa phương phải đáp ứng các điều kiện nền tảng về thể chế, quản lý và dữ liệu. Trên cơ sở lý thuyết quản trị công mới (NPM), quản lý theo kết quả (RBM), lý thuyết thể chế và các nghiên cứu quốc tế, bài viết đề xuất khung đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại chính quyền địa phương và áp dụng cho trường hợp TP. Hồ Chí Minh gồm các trụ cột: (1) Thể chế và pháp lý; (2) Nền tảng quản lý theo kết quả; (3) Hạ tầng dữ liệu và thông tin; (4) Môi trường cải cách và quản trị, với 20 tiêu chí được đo bằng thang năm mức độ sẵn sàng. Kết quả cho thấy, TP. Hồ Chí Minh đạt mức sẵn sàng cao (35/40 điểm), song vẫn còn khoảng trống về cơ chế gắn kết kết quả thực hiện với phân bổ ngân sách và tích hợp dữ liệu phục vụ đánh giá hiệu suất. Bài viết đề xuất lộ trình triển khai theo ba giai đoạn cùng các giải pháp nâng cao mức độ sẵn sàng.
Từ khóa: Ngân sách theo kết quả; mức độ sẵn sàng; PBB; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Performance-Based Budgeting (PBB) has emerged as a reform trend in public financial management across many countries. Successful implementation of PBB requires local governments to meet foundational conditions in institutional, managerial, and data-related domains. Drawing on New Public Management (NPM) theory, Results-Based Management (RBM), institutional theory, and international research, this article proposes an assessment framework for the readiness of local governments to implement PBB and applies it to the case of Ho Chi Minh City. The framework comprises four pillars: (1) Institutional and legal foundations; (2) Foundations for results-based management; (3) Data and information infrastructure; and (4) Reform and governance environment, operationalized through 20 criteria measured on a five-level readiness scale. The findings indicate that Ho Chi Minh City has achieved a high level of readiness (35/40 points). However, gaps remain in mechanisms linking performance results to budget allocation and in data integration for performance evaluation. The article proposes a three-phase implementation roadmap together with solutions to enhance readiness levels.
Keywords: Performance-Based Budgeting; readiness level; PBB; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cải cách quản lý tài chính công toàn cầu, ngân sách theo kết quả đã trở thành một trong những công cụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công và tăng cường trách nhiệm giải trình. Khác với phương thức lập ngân sách truyền thống vốn tập trung vào kiểm soát đầu vào và tuân thủ các quy định chi tiêu, PBB hướng đến việc gắn kết phân bổ nguồn lực tài chính với các mục tiêu, kết quả đầu ra và kết quả cuối cùng của chính sách công (Curristine, 2005). OECD (2024) khẳng định, PBB giúp chuyển trọng tâm quản lý từ câu hỏi “chi bao nhiêu tiền” sang “đạt được kết quả gì với nguồn lực được phân bổ”.
Tại Việt Nam, yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công ngày càng trở nên cấp thiết. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã từng bước đặt nền tảng cho việc quản lý ngân sách theo định hướng kết quả. Đặc biệt, Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội khóa XV đã tạo điều kiện thuận lợi về phân quyền, phân cấp và tự chủ trong quản trị địa phương, để Thành phố thúc đẩy các phương thức quản lý công hiện đại, trong đó có PBB.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc triển khai PBB chỉ có thể thành công khi địa phương đáp ứng được những điều kiện nền tảng về thể chế, dữ liệu, năng lực quản trị và cơ chế trách nhiệm giải trình (Andrews, 2004; OECD, 2024; Schick, 1998). Nhiều chương trình cải cách ngân sách thất bại không phải do bản thân mô hình PBB thiếu hiệu quả mà do các điều kiện triển khai chưa sẵn sàng (Schick, 1998). Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết về việc đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại các địa phương trước khi áp dụng mô hình này.
Qua tổng quan tài liệu, các nghiên cứu trong nước hiện nay chủ yếu tập trung vào nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng PBB hoặc xây dựng mô hình nghiên cứu về PBB (Lê Thị Cẩm Hồng, 2019; Võ Văn Nhị & cộng sự, 2020), trong khi chưa có công trình nào đánh giá một cách hệ thống mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại một địa phương cụ thể ở Việt Nam. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà bài viết hướng đến giải quyết.
Mục tiêu của nghiên cứu là: (1) Xây dựng khung đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB cho chính quyền địa phương; (2) Đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại TP. Hồ Chí Minh; (3) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại TP. Hồ Chí Minh.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Các lý thuyết nền tảng
Bài viết được xây dựng trên ba nền tảng lý thuyết chính.
Thứ nhất, lý thuyết quản trị công mới (New Public Management – NPM) của Hood (1991) và Hughes (2018) cho rằng, khu vực công cần áp dụng các nguyên tắc quản trị của khu vực tư nhân để nâng cao hiệu quả, trong đó việc chuyển từ quản lý dựa trên đầu vào sang quản lý dựa trên kết quả là một trong những đặc trưng cốt lõi.
Thứ hai, lý thuyết quản lý theo kết quả (Results-Based Management – RBM) của OECD (2022) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu, xây dựng hệ thống chỉ số đo lường và theo dõi kết quả nhằm bảo đảm các nguồn lực được sử dụng hiệu quả (OECD, 2022; Zall Kusek & cộng sự, 2004).
Thứ ba, lý thuyết thể chế (Institutional Theory) của DiMaggio & Powell (1983) và Andrews (2004) giải thích tại sao các tổ chức áp dụng hoặc không áp dụng các mô hình quản lý mới, trong đó khả năng triển khai PBB phụ thuộc vào thẩm quyền thực thi, sự chấp nhận của tổ chức, năng lực triển khai và động lực thực hiện.
Từ các nghiên cứu tiêu biểu trên, có thể nhận thấy, mức độ sẵn sàng triển khai PBB phụ thuộc vào sự hội tụ của nhiều điều kiện nền tảng. Nghiên cứu này đề xuất 4 nhóm điều kiện tiên quyết: (1) Thể chế và pháp lý; (2) Nền tảng quản lý theo kết quả; (3) Hạ tầng dữ liệu và thông tin; (4) Môi trường cải cách và quản trị.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
(1) Khung đánh giá.
Bài viết tiến hành cụ thể hóa khung đánh giá thành bốn trụ cột với 20 tiêu chí thành phần nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại chính quyền địa phương.
Bảng 1. Khung đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại chính quyền địa phương
| Mã hóa | Tiêu chí đánh giá | Nội dung đánh giá |
| Tiêu chí 1: Thể chế và pháp lý | ||
| PL1 | Khung pháp lý về PBB | Mức độ hiện diện của các quy định cho phép quản lý ngân sách theo kết quả |
| PL2 | Kế hoạch tài chính trung hạn | Sự tồn tại của kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn |
| PL3 | Phân cấp quản lý ngân sách | Mức độ chủ động trong quản lý và phân bổ ngân sách |
| PL4 | Tự chủ tài chính | Mức độ tự chủ của các đơn vị công lập |
| PL5 | Chính sách cải cách tài chính công | Sự tồn tại của các chương trình cải cách tài chính công |
| Trụ cột 2: Nền tảng quản lý theo kết quả | ||
| KQ1 | Mục tiêu phát triển được lượng hóa | Mục tiêu kinh tế – xã hội có chỉ tiêu cụ thể hay không |
| KQ2 | Hệ thống chỉ tiêu/KPI | Có hệ thống chỉ tiêu để theo dõi kết quả hay không |
| KQ3 | Cơ chế giám sát thực hiện | Có hoạt động theo dõi, đánh giá kết quả |
| KQ4 | Báo cáo kết quả định kỳ | Có báo cáo đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu |
| KQ5 | Sử dụng thông tin kết quả | Kết quả thực hiện có được sử dụng trong điều hành hay không |
| Trụ cột 3: Hạ tầng dữ liệu và thông tin | ||
| DL1 | Cơ sở dữ liệu dùng chung | Có hệ thống dữ liệu tập trung phục vụ quản lý |
| DL2 | Hệ thống báo cáo điện tử | Có nền tảng báo cáo điện tử |
| DL3 | Khả năng chia sẻ dữ liệu | Dữ liệu có được liên thông giữa các cơ quan |
| DL4 | Dữ liệu mở | Có công khai dữ liệu phục vụ giám sát |
| DL5 | Chuyển đổi số trong quản lý công | Mức độ ứng dụng công nghệ số trong quản lý ngân sách |
| Trụ cột 4: Môi trường cải cách và quản trị | ||
| QT1 | Cải cách hành chính | Các chương trình và kết quả cải cách hành chính |
| QT2 | Minh bạch thông tin | Công khai và minh bạch trong quản lý công |
| QT3 | Trách nhiệm giải trình | Cơ chế giải trình của cơ quan nhà nước |
| QT4 | Chính quyền số | Mức độ phát triển chính quyền số |
| QT5 | Cam kết cải cách | Cam kết của lãnh đạo địa phương đối với đổi mới quản lý công |
(2) Phương pháp đánh giá.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá theo mức độ trưởng thành, phù hợp với khuyến nghị của OECD (2024). Mỗi tiêu chí được chấm điểm theo thang ba mức: 0 điểm (chưa đáp ứng), 1 điểm (đáp ứng một phần), 2 điểm (đáp ứng đầy đủ), với tổng điểm tối đa của khung đánh giá là 40 điểm. Trên cơ sở đó, mức độ sẵn sàng được phân thành năm cấp độ (Bảng 2).
Bảng 2. Thang đánh giá mức độ sẵn sàng
| Tổng điểm | Tỷ lệ đạt | Mức độ sẵn sàng |
| 0 – dưới 8 | <20% | Mức 1: Chưa sẵn sàng |
| 8 – dưới 16 | 20% – dưới 40% | Mức 2: Sẵn sàng thấp |
| 16 – dưới 24 | 40% – dưới 60% | Mức 3: Sẵn sàng trung bình |
| 24 – dưới 32 | 60% – dưới 80% | Mức 4: Sẵn sàng khá |
| 32 – 40 | ≥80% | Mức 5: Sẵn sàng cao |
(3) Nguồn dữ liệu
Để áp dụng khung đánh giá và chấm điểm các tiêu chí, bài viết sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo và tài liệu chính thức của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và UBND TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2021 – 2026. Các nguồn dữ liệu, bao gồm: Luật Ngân sách nhà nước, các nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh, các quyết định và chương trình về cải cách hành chính, chuyển đổi số, chính quyền số, kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn, cùng các báo cáo công khai về ngân sách, cải cách hành chính (PAR Index), Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) và Chỉ số chuyển đổi số (DTI).
Để bảo đảm tính khách quan, việc đánh giá từng tiêu chí trong khung nghiên cứu chỉ dựa trên các thông tin đã được công bố chính thức và có thể kiểm chứng. Mỗi tiêu chí được đối chiếu với các bằng chứng thu thập từ nhiều nguồn nhằm hạn chế sai lệch do phụ thuộc vào một nguồn dữ liệu đơn lẻ. Trong trường hợp chưa có bằng chứng rõ ràng về việc đáp ứng đầy đủ tiêu chí, nghiên cứu lựa chọn mức đánh giá thận trọng theo nguyên tắc bảo đảm tính tin cậy của kết quả.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Kết quả đánh giá tổng hợp tại TP. Hồ Chí Minh
Kết quả đánh giá mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại TP. Hồ Chí Minh được tổng hợp tại Bảng 3.
Bảng 3. Kết quả đánh giá tổng hợp mức độ sẵn sàng triển khai PBB của TP. Hồ Chí Minh
| Trụ cột | Điểm tối đa | Điểm đạt | Mức đánh giá |
| Thể chế và pháp lý | 10 | 9 | Cao |
| Nền tảng quản lý theo kết quả | 10 | 9 | Cao |
| Dữ liệu và chuyển đổi số | 10 | 8 | Khá cao |
| Cải cách hành chính và trách nhiệm giải trình | 10 | 9 | Cao |
| Tổng cộng | 40 | 35 | Mức sẵn sàng cao |
TP. Hồ Chí Minh đạt 35/40 điểm (87,5%), phản ánh mức độ sẵn sàng cao để triển khai ngân sách theo kết quả. Ba trụ cột: thể chế và pháp lý; nền tảng quản lý theo kết quả; cải cách hành chính và trách nhiệm giải trình đều đạt 9/10 điểm. Trụ cột dữ liệu và chuyển đổi số đạt 8/10 điểm, là trụ cột có điểm số thấp nhất nhưng vẫn ở mức khá cao.
3.2. Phân tích kết quả theo từng trụ cột
Thứ nhất, về thể chế và pháp lý (9/10 điểm): TP. Hồ Chí Minh được hưởng các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15, tạo không gian thể chế thuận lợi cho việc áp dụng các công cụ quản trị công hiện đại. Hệ thống pháp luật về ngân sách, đầu tư công và kế hoạch tài chính trung hạn tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định rõ việc sử dụng kết quả đầu ra và kết quả cuối cùng làm căn cứ bắt buộc cho phân bổ hoặc điều chỉnh ngân sách.
Thứ hai, nền tảng quản lý theo kết quả (9/10 điểm): TP. Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống mục tiêu phát triển được lượng hóa rõ ràng, duy trì các bộ chỉ số đánh giá, như: PAR Index, DTI và cơ chế giám sát thường xuyên thông qua UBND và HĐND Thành phố. Tuy nhiên, quản lý theo kết quả hiện nay chủ yếu phục vụ lập kế hoạch và giám sát, trong khi kết quả thực hiện chưa được liên kết trực tiếp với quyết định phân bổ ngân sách.
Thứ ba, dữ liệu và chuyển đổi số (8/10 điểm): Là địa phương tiên phong trong chuyển đổi số, đã ban hành các chiến lược và chương trình về chuyển đổi số, phát triển chính quyền số và đô thị thông minh. Tuy nhiên, dữ liệu ngân sách, dữ liệu đầu ra và dữ liệu kết quả của các chương trình chi tiêu công chưa được tích hợp đồng bộ trên một hệ thống thống nhất phục vụ trực tiếp cho việc phân bổ ngân sách theo kết quả.
Thứ tư, cải cách hành chính và trách nhiệm giải trình (9/10 điểm): TP. Hồ Chí Minh duy trì thường xuyên việc đánh giá cải cách hành chính thông qua PAR Index và SIPAS, thực hiện công khai ngân sách theo quy định và tăng cường giám sát của HĐND. Tuy nhiên, cơ chế giải trình hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ quy định, chấp hành dự toán và tiến độ giải ngân; trong khi việc giải trình dựa trên kết quả đầu ra, kết quả cuối cùng và hiệu quả sử dụng ngân sách của từng chương trình, đơn vị sử dụng ngân sách còn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và hệ thống.
3.3. Thảo luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, TP. Hồ Chí Minh đạt mức sẵn sàng cao để triển khai ngân sách theo kết quả với tổng điểm 35/40, phản ánh địa phương đã hình thành tương đối đầy đủ các điều kiện nền tảng về thể chế, quản lý theo kết quả, dữ liệu và môi trường quản trị. Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy, mức độ phát triển giữa các trụ cột chưa hoàn toàn đồng đều, đặc biệt ở các nội dung liên quan đến sử dụng thông tin hiệu suất trong phân bổ ngân sách và tích hợp dữ liệu phục vụ đánh giá kết quả.
Kết quả này phù hợp với Khung ngân sách theo kết quả của OECD (2024). Theo OECD, việc triển khai PBB không chỉ đòi hỏi khung pháp lý và hệ thống lập kế hoạch đầy đủ mà còn yêu cầu thông tin về kết quả thực hiện phải được sử dụng thực chất trong quá trình ra quyết định ngân sách. Đối chiếu với khung này cho thấy, TP. Hồ Chí Minh đã đáp ứng khá tốt các điều kiện thuộc nhóm môi trường hỗ trợ, bao gồm: cải cách hành chính, kế hoạch tài chính trung hạn, chuyển đổi số và cơ chế công khai ngân sách. Tuy nhiên, hai cấu phần cốt lõi là xây dựng thông tin hiệu suất có chất lượng và sử dụng thông tin hiệu suất trong phân bổ nguồn lực vẫn chưa được hoàn thiện. Điều này cho thấy, TP. Hồ Chí Minh hiện ở giai đoạn chuyển tiếp từ quản lý ngân sách truyền thống sang quản lý ngân sách theo kết quả, thay vì đã đạt mức triển khai PBB toàn diện.
Kết quả nghiên cứu cũng nhất quán với quan điểm của Schick (1998) về trình tự cải cách ngân sách. Schick cho rằng, các quốc gia và địa phương không nên áp dụng trực tiếp mô hình ngân sách theo kết quả khi chưa xây dựng được nền tảng thể chế, năng lực quản trị và hệ thống trách nhiệm giải trình phù hợp. Trường hợp TP. Hồ Chí Minh cho thấy, nhiều điều kiện nền tảng, như: phân cấp quản lý, kế hoạch tài chính trung hạn, cải cách hành chính, chuyển đổi số và cơ chế công khai ngân sách đã được hình thành tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc gắn kết kết quả đầu ra và kết quả cuối cùng với quyết định phân bổ hoặc điều chỉnh ngân sách vẫn còn hạn chế. Điều này phản ánh đúng nhận định của Schick rằng, cải cách ngân sách theo kết quả cần được thực hiện theo lộ trình, trong đó việc xây dựng nền tảng thể chế phải đi trước khi áp dụng đầy đủ các cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên kết quả.
Từ góc độ lý thuyết thể chế, kết quả nghiên cứu cũng củng cố lập luận của Andrews (2004) rằng, khả năng triển khai cải cách ngân sách phụ thuộc vào sự hội tụ của bốn điều kiện, gồm: thẩm quyền, sự chấp nhận của tổ chức, năng lực thực thi và động lực cải cách. Đối với TP. Hồ Chí Minh, các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 đã tạo điều kiện thuận lợi về thẩm quyền và không gian thể chế; quá trình cải cách hành chính và chuyển đổi số phản ánh cam kết mạnh mẽ của chính quyền địa phương đối với đổi mới quản trị công; trong khi hệ thống kế hoạch, chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu bước đầu tạo nền tảng cho năng lực triển khai PBB. Tuy nhiên, việc chưa hình thành đầy đủ cơ chế sử dụng thông tin hiệu suất trong quyết định phân bổ ngân sách cho thấy khoảng cách giữa năng lực quản trị hiện có và yêu cầu của mô hình PBB vẫn còn tồn tại. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu kết quả, cơ sở dữ liệu tích hợp và cơ chế giải trình dựa trên kết quả sẽ là điều kiện quan trọng để TP. Hồ Chí Minh chuyển từ trạng thái sẵn sàng cao sang triển khai hiệu quả ngân sách theo kết quả trong thời gian tới.
4. Hàm ý chính sách
Từ kết quả đánh giá và phân tích khoảng trống, nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng triển khai PBB tại TP. Hồ Chí Minh.
Một là, hoàn thiện khung pháp lý bằng cách bổ sung các quy định về quản lý ngân sách theo kết quả trong quá trình sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn; ban hành hướng dẫn thí điểm về lập dự toán gắn với chỉ tiêu đầu ra đối với các lĩnh vực ưu tiên như y tế, giáo dục. Tăng cường quyền tự chủ tài chính cho các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập gắn với trách nhiệm giải trình về kết quả thực hiện.
Hai là, xây dựng bộ chỉ số đánh giá kết quả thống nhất giữa các sở, ngành và địa phương, bảo đảm các chỉ tiêu tuân thủ nguyên tắc SMART; hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đầu ra và kết quả cuối cùng, bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh mức độ hài lòng của người dân, chất lượng dịch vụ công và hiệu quả đầu tư công.
Ba là, xây dựng kho dữ liệu dùng chung tích hợp thông tin về dự toán, phân bổ, thực hiện, kết quả đầu ra và kết quả cuối cùng của các chương trình chi tiêu công. Phát triển Dashboard điều hành phục vụ lãnh đạo các cấp theo dõi tình hình thực hiện ngân sách theo thời gian thực.
Ba là, công khai mức độ hoàn thành các mục tiêu, kết quả đầu ra và hiệu quả của các chương trình sử dụng ngân sách. Xây dựng báo cáo hiệu suất ngân sách cho các chương trình và dự án sử dụng ngân sách nhà nước, phản ánh mức độ hoàn thành mục tiêu và tác động đối với xã hội.
Về lộ trình triển khai, nghiên cứu đề xuất ba giai đoạn: Giai đoạn 2027 – 2028, tập trung chuẩn bị điều kiện nền tảng (hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa chỉ tiêu, xây dựng kho dữ liệu, đào tạo cán bộ). Giai đoạn 2029 – 2030, thí điểm triển khai tại một số lĩnh vực có hệ thống chỉ tiêu tương đối hoàn thiện, như: giáo dục, y tế và đầu tư công. Giai đoạn sau năm 2030, mở rộng áp dụng trên phạm vi toàn Thành phố.
Tài liệu tham khảo:
Andrews, M. (2004). Authority, acceptance, ability and performance-based budgeting reforms. International Journal of Public Sector Management, 17(4), 332-344. https://doi.org/10.1108/09513550410539811
Curristine, T. (2005). Performance Information in the Budget Process: Results of the OECD 2005 Questionnaire. OECD Journal on budgeting, 5(2).
DiMaggio, P., & Powell, W. W. (1983). The Iron Cage Revisited: Institutional Isomorphism and Collective Rationality in Organizational Fields. Journal of Economic Sociology, 11(1), 34-56. https://doi.org/10.17323/1726-3247-2010-1-34-56
Hood, C. (1991). A Public Administration for all seasons. 69, 3-19.
Hughes, O. E. (2018). Public Management & Administration An Introduction Fifth Edition (Fifth Edition). RED GLOBE PRESS.
Lê Thị Cẩm Hồng (2019). Cơ sở lý luận lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động và tình hình áp dụng tại Việt Nam. Tạp chí Kế Toán và kiểm toán, tháng 9/2019, tr. 42-45.
OECD (2022). Glossary of Key Terms in Evaluation and Results-Based Management.
OECD (2024). Performance budgeting framework.
Quốc hội (2015, 2025). Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 11/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh.
Schick, A. (1998). Why Most Developing Countries Should Not Try New Zealand Reforms. In The World Bank Research Observer (Vol. 13, Number 1).
Võ Văn Nhị, Mai Thị Hoàng Minh & Lê Thị Cẩm Hồng (2020). Thiết lập mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Tạp chí nghiên cứu Tài chính – Marketing, (60).
Zall Kusek, Jody, Rist, & Ray C. (2004). Ten Steps to a Results-Based Monitoring and Evaluation Sys-tem : A Handbook for Development Practitioners. World Bank. https://openknowledge.worldbank.org/entities/publication/84e1b3ba-74a2-5a19-a68d-a4b9632b74ad



