Vai trò của Đảng trong kiểm soát quyền lực đối với chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam

The role of the Communist Party of Vietnam in power control over Vietnam’s two – tier local government

TS. Trần Thị Thu Hằng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: tranthithuhang.napa@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực gắn với phân cấp, phân quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng thẩm quyền, đúng chủ trương của Đảng, của Hiến pháp và pháp luật. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực đối với chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời phân tích những yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực ở địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung vào 4 trụ cột: hoàn thiện thể chế lãnh đạo; đổi mới tổ chức và công tác cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; phát huy trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch gắn với chuyển đổi số. Qua đó, đề xuất các định hướng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.

Từ khóa: Đảng Cộng sản Việt Nam; kiểm soát quyền lực; chính quyền địa phương hai cấp; phân cấp, phân quyền; kiểm tra, giám sát; trách nhiệm giải trình.

Abstract: The two-tier local government model requires innovation in power control mechanisms in conjunction with decentralization, delegation of authority, and the renewal of the Party’s leadership methods to ensure that state power is exercised within the proper scope of authority and in accordance with the Party’s guidelines, the Constitution, and the law. This article clarifies the theoretical foundations of the Communist Party of Vietnam’s role in controlling power under the two-tier local government model. It analyzes emerging requirements for organizing and exercising power at the local level. Accordingly, the article focuses on four pillars: strengthening the institutional framework for Party leadership; reforming organizational structures and cadre management; enhancing Party inspection, supervision, and discipline; and promoting accountability, openness, transparency, and digital transformation. On this basis, the article proposes orientations for improving the Party’s power control mechanisms in accordance with the two-tier local government model, thereby contributing to enhancing the effectiveness and efficiency of Party leadership and the performance of local governments.

Keywords: Communist Party of Vietnam; power control; two-tier local government; decentralization and delegation of authority; inspection and supervision; accountability.

1. Đặt vấn đề

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả. Quá trình mở rộng phân cấp, phân quyền phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương, đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm quyền lực được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và vì lợi ích của Nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp, các ngành; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 134–136). Trong bối cảnh đó, việc kiểm soát quyền lực của Đảng đối với hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp trở thành yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện đúng nguyên tắc, qua đó nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.

2. Cơ sở lý luận

Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc nền tảng của quản trị quốc gia hiện đại, bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Đối với Việt Nam, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt bởi Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Kiểm soát quyền lực bảo đảm hiệu lực lãnh đạo của Đảng và quyết định chất lượng tổ chức, vận hành của bộ máy nhà nước.

Vai trò của Đảng trong kiểm soát quyền lực là tổng thể các nguyên tắc, cơ chế và phương thức bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng được thực hiện đúng Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật; phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các biểu hiện lạm quyền, tha hóa quyền lực, lợi ích nhóm và tham nhũng, tiêu cực trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Vai trò của Đảng trong kiểm soát quyền lực bảo đảm sự lãnh đạo được thực hiện đúng Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và củng cố niềm tin của Nhân dân.

Quan điểm này được cụ thể hóa trong Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Quy định yêu cầu kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực, phòng ngừa lạm quyền, lợi dụng quyền lực và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, tạo cơ sở chính trị quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng (Bộ Chính trị, 2023).

Kiểm soát quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng được xác lập thống nhất trên phương diện chính trị và pháp lý. Về chính trị, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các văn kiện của Đảng khẳng định rằng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Về phương diện pháp lý, Điều 4 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; đồng thời quy định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Quy định này vừa xác lập cơ sở hiến định đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa đặt ra yêu cầu quyền lực của Đảng phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tạo nền tảng pháp lý cho việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Quốc hội, 2013).

Cơ chế kiểm soát quyền lực đối với chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng có sự phát triển cả về phạm vi lẫn phương thức. Việc mở rộng phân cấp, phân quyền tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương, đồng thời làm gia tăng yêu cầu kiểm soát quyền lực nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, buông lỏng quản lý hoặc lợi dụng quyền hạn trong quá trình thực thi công vụ. Kiểm soát quyền lực phải được thực hiện đồng bộ từ khâu ban hành chủ trương, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát đến trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị. Đây cũng chính là yêu cầu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra khi xác định phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và bảo đảm mọi quyền lực đều được kiểm soát bằng thể chế và pháp luật theo tinh thần Đại hội XIX của Đảng.

3. Yêu cầu mới của Đảng lãnh đạo kiểm soát quyền lực đối với chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay

Một là, chuyển từ kiểm soát theo cấp hành chính sang kiểm soát theo quá trình thực thi quyền lực. Trong mô hình chính quyền địa phương ba cấp trước đây, việc kiểm soát quyền lực chủ yếu được thực hiện thông qua nhiều tầng nấc tổ chức, tạo ra cơ chế giám sát theo chiều dọc giữa các cấp chính quyền. Khi chính quyền cấp huyện không còn tồn tại, khoảng cách giữa cấp tỉnh và cấp xã được rút ngắn, đồng thời phạm vi và thẩm quyền của cấp xã được mở rộng đáng kể. Kiểm soát phải được thiết kế theo hướng theo dõi toàn bộ vòng đời của quyền lực công, bảo đảm mọi quyết định đều có căn cứ, mọi hành vi đều có trách nhiệm và mọi sai phạm đều được phát hiện, xử lý kịp thời.

Hai là, gắn chặt kiểm soát quyền lực với phân cấp, phân quyền và phân định rõ trách nhiệm. Phân cấp không đồng nghĩa với phân tán quyền lực, càng không phải là sự buông lỏng lãnh đạo. Quyền hạn được mở rộng phải đi kèm cơ chế kiểm soát tương ứng và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp, nhiều lĩnh vực được giao trực tiếp cho cấp xã giải quyết, đòi hỏi tổ chức đảng các cấp phải đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, của người đứng đầu và của từng chủ thể tham gia thực thi công vụ. Kiểm soát quyền lực vì vậy phải trở thành cơ chế bảo đảm phân cấp đúng thẩm quyền, thực hiện đúng trách nhiệm và không để phát sinh khoảng trống trong quản lý nhà nước.

Ba là, đổi mới phương thức kiểm soát quyền lực trên nền tảng chuyển đổi số và quản trị số. Việc vận hành chính quyền số, cơ sở dữ liệu dùng chung, hồ sơ điện tử và các nền tảng quản trị thông minh đã tạo điều kiện để chuyển từ việc kiểm soát chủ yếu bằng hồ sơ, giấy tờ sang kiểm soát bằng dữ liệu số và theo dõi theo thời gian thực. Đại hội XIV của Đảng xác định nhiệm vụ “xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 201). Trên cơ sở đó, đổi mới phương thức kiểm soát quyền lực trên nền tảng số trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát, tăng cường tính công khai, minh bạch và đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, quản trị quốc gia. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và hệ thống cảnh báo sớm cũng cần được nghiên cứu để nâng cao khả năng phát hiện nguy cơ vi phạm ngay trong quá trình thực thi quyền lực.

Bốn là, tăng cường kiểm soát quyền lực thông qua trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và sự tham gia của Nhân dân. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khoảng cách giữa chính quyền và người dân được rút ngắn, tạo điều kiện để mở rộng các hình thức giám sát xã hội đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Trách nhiệm giải trình cần trở thành chuẩn mực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện quyền lực nhà nước; công khai, minh bạch phải được coi là phương thức phòng ngừa hữu hiệu đối với tham nhũng, tiêu cực và lạm quyền.

Năm là, kiểm soát quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng phải gắn với việc xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cán bộ là chủ thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước; vì vậy, hiệu quả kiểm soát quyền lực phụ thuộc trước hết vào chất lượng đội ngũ cán bộ và hiệu quả công tác cán bộ. Đại hội XIV của Đảng xác định nhiệm vụ “đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, trong đó tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định về phân cấp quản lý cán bộ và tăng cường thực hiện Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, tạo cơ sở chính trị quan trọng để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực của Đảng trong giai đoạn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 268–269).

4. Thực trạng vai trò của Đảng trong kiểm soát quyền lực đối với hoạt động của chính quyền địa phương

4.1. Những kết quả đạt được

Thể chế kiểm soát quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảngngày càng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và chặt chẽ hơn. Những năm gần đây, Đảng đã ban hành nhiều quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, qua đó tạo lập khuôn khổ thể chế tương đối đầy đủ để kiểm soát việc thực hiện quyền lực trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cùng với việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định về tổ chức chính quyền địa phương và tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực từng bước được chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang quản trị bằng thể chế, trong đó quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế giám sát của từng chủ thể được xác định rõ hơn.

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền địa phương tiếp tục được đổi mới theo hướng tôn trọng tính chủ động của chính quyền nhưng không buông lỏng kiểm soát quyền lực. Trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp ủy các cấp từng bước chuyển mạnh từ lãnh đạo thông qua việc xử lý công việc cụ thể sang lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, xây dựng chủ trương, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Sự đổi mới này góp phần phân định rõ hơn giữa chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của chính quyền, qua đó hạn chế tình trạng bao biện, làm thay hoặc can thiệp hành chính vào hoạt động quản lý nhà nước. Việc xác định rõ trách nhiệm của tập thể cấp ủy, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên đã tạo điều kiện nâng cao trách nhiệm trong thực thi quyền lực, đồng thời tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể trong hệ thống chính trị.

Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng ngày càng trở thành công cụ quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực. Kiểm tra, giám sát không chỉ tập trung vào việc phát hiện và xử lý vi phạm mà còn chuyển mạnh sang phòng ngừa, cảnh báo sớm các nguy cơ phát sinh sai phạm trong quá trình thực thi quyền lực. Việc mở rộng phạm vi kiểm tra đối với những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực như công tác cán bộ, quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính công và tài sản công đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của chính quyền địa phương. Việc xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm trong thời gian qua tiếp tục khẳng định nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát, mọi vi phạm đều phải được xem xét và xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và chuyển đổi số từng bước đã trở thành phương thức hỗ trợ kiểm soát quyền lực hiệu quả. Quá trình xây dựng chính quyền số, phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung và số hóa hoạt động quản lý đã tạo điều kiện để tăng cường tính minh bạch trong quá trình thực thi công vụ, từng bước giảm sự phụ thuộc vào phương thức kiểm tra thủ công và mở rộng khả năng giám sát của cơ quan có thẩm quyền cũng như của Nhân dân. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo cơ sở để kiểm soát toàn bộ quá trình thực hiện quyền lực thông qua dữ liệu, hồ sơ điện tử và các hệ thống thông tin quản lý.

4.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Một là, cơ chế kiểm soát quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng chưa theo kịp yêu cầu đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương. Việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp làm thay đổi đáng kể phương thức phân công, phân cấp và phối hợp trong việc thực thi quyền lực, trong khi một số quy định về kiểm soát quyền lực vẫn được xây dựng trên nền tảng mô hình tổ chức trước đây. Khoảng trống thể chế này thể hiện rõ ở việc chưa hình thành đầy đủ các cơ chế kiểm soát tương ứng với những lĩnh vực được phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, đặc biệt là ở cấp xã sau khi mở rộng thẩm quyền và quy mô quản lý.

Hai là, việc phân cấp, phân quyền ở một số lĩnh vực chưa gắn chặt với cơ chế kiểm soát trách nhiệm. Phân cấp là điều kiện để phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, nhưng nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp thì sẽ làm gia tăng nguy cơ lạm quyền hoặc thực hiện quyền lực không đúng thẩm quyền. Trong thực tiễn, ở một số nơi vẫn còn biểu hiện giao quyền nhưng chưa xác lập đầy đủ cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện; trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong một số khâu chưa được lượng hóa rõ ràng, dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Đại hội XIV của Đảng xác định: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện nghiêm các quy định về phân cấp, phân quyền gắn với phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan và tăng cường kiểm tra, giám sát trong tổ chức thực hiện”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 268-269). Trên cơ sở đó, yêu cầu kiểm soát quyền lực được đặt ra nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trách nhiệm và chịu sự giám sát chặt chẽ trong quá trình thực hiện.

Ba là, phương thức kiểm tra, giám sát chưa theo kịp yêu cầu của nền quản trị hiện đại. Hoạt động kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng ở nhiều địa phương đã có nhiều đổi mới; tuy nhiên, vẫn chủ yếu dựa vào kiểm tra theo kế hoạch hoặc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Trong khi đó, yêu cầu quản trị hiện đại đòi hỏi cơ chế kiểm soát phải chuyển mạnh sang phòng ngừa rủi ro, cảnh báo sớm và giám sát thường xuyên dựa trên dữ liệu số. Việc ứng dụng công nghệ số trong công tác kiểm tra, giám sát tuy đã được triển khai nhưng chưa đồng đều giữa các địa phương; khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị còn hạn chế, làm giảm hiệu quả trong việc phát hiện sớm các nguy cơ phát sinh sai phạm.

Bốn là, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong thực thi quyền lực vẫn là những khâu cần tiếp tục hoàn thiện. Mặc dù nhiều quy trình quản lý đã được chuẩn hóa và công khai hơn trước, song ở một số địa phương việc công khai thông tin chưa thật sự đầy đủ; nội dung giải trình của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu trong một số trường hợp còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng yêu cầu của quản trị công hiện đại. Việc tiếp nhận, phản hồi và xử lý các ý kiến giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân ở một số nơi còn chậm hoặc chưa xây dựng được cơ chế phản hồi hiệu quả.

Sáu là, chất lượng đội ngũ cán bộ vẫn là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kiểm soát quyền lực. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, phạm vi quản lý của nhiều đơn vị hành chính được mở rộng, yêu cầu đối với năng lực quản trị, kỹ năng điều hành và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ ngày càng cao. Năng lực tổ chức thực hiện, khả năng thích ứng với phương thức quản trị số và nhận thức về kiểm soát quyền lực của một bộ phận cán bộ chưa theo kịp yêu cầu mới. Ở một số nơi vẫn còn biểu hiện né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc hoặc tâm lý e ngại trong thực thi công vụ sau quá trình tăng cường xử lý vi phạm, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.

5. Một số định hướng hoàn thiện

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết để kiểm soát quyền lực được thực hiện thống nhất, đồng bộ và hiệu quả. Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai, cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Đảng về kiểm soát quyền lực, theo hướng xác định rõ phạm vi lãnh đạo và trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu trong từng lĩnh vực quản lý. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình, bảo đảm mọi quyền hạn đều được giới hạn trong phạm vi trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị. Việc hoàn thiện thể chế phải hướng tới xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực mang tính phòng ngừa, minh bạch và ổn định, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền quản trị quốc gia hiện đại.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền địa phương.

Trong điều kiện phân cấp mạnh hơn cho địa phương, phương thức lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục chuyển từ lãnh đạo trực tiếp đối với công việc hành chính sang lãnh đạo bằng chiến lược, chủ trương, thể chế, công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát. Cấp ủy các cấp cần tập trung định hướng phát triển, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, đánh giá kết quả thực hiện và kiểm soát việc thực thi quyền lực, đồng thời tôn trọng tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong khuôn khổ pháp luật. Cấp ủy cần tăng cường lãnh đạo bằng nghị quyết, định hướng chiến lược và cơ chế kiểm tra kết quả, thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động hành chính. Đối với những lĩnh vực được phân cấp mạnh cho cấp xã, cần thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá định kỳ gắn với trách nhiệm của người đứng đầu. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện, bảo đảm mọi quyết định được thực hiện đúng thẩm quyền và chịu sự kiểm tra, giám sát.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát gắn với chuyển đổi số trong công tác kiểm soát quyền lực.

Kiểm tra, giám sát cần được đổi mới theo hướng kết hợp giữa phương thức truyền thống và các công cụ quản trị số. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu và công nghệ số để sớm nhận diện các nguy cơ vi phạm trong quá trình thực thi quyền lực. Chuyển mạnh từ kiểm tra sau khi xảy ra vi phạm sang giám sát thường xuyên, cảnh báo sớm và phòng ngừa rủi ro. Xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ kiểm tra, giám sát theo hướng liên thông, đồng bộ giữa các chủ thể có chức năng kiểm soát quyền lực; chuẩn hóa dữ liệu về tổ chức, cán bộ, quá trình thực hiện nhiệm vụ và các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm. Từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu và công cụ cảnh báo sớm để nhận diện dấu hiệu bất thường, xác định lĩnh vực, địa bàn và chủ thể có nguy cơ phát sinh vi phạm, từ đó chủ động lựa chọn nội dung kiểm tra, giám sát.

Thứ tư, phát huy trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và giám sát của Nhân dân.

Kiểm soát quyền lực chỉ thực sự hiệu quả khi được thực hiện đồng thời từ cả bên trong lẫn bên ngoài hệ thống chính trị. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế trách nhiệm giải trình của người đứng đầu và cơ quan nhà nước; mở rộng công khai thông tin trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách; tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và Nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện quyền lực. Việc phát huy giám sát xã hội không chỉ góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực mà còn củng cố tính minh bạch, trách nhiệm và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đa dạng hóa các kênh tiếp nhận, phản hồi ý kiến của Nhân dân, bảo đảm thông tin giám sát được xử lý kịp thời và có cơ chế phản hồi rõ ràng. Tăng cường công khai kết quả giải quyết các kiến nghị, phản ánh và trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu, nhất là ở cấp xã.

Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh để thực hiện quyền lực gắn với trách nhiệm.

Con người luôn là nhân tố quyết định hiệu quả kiểm soát quyền lực, do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; thực hiện nghiêm các quy định về tuyển chọn, quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển và miễn nhiệm cán bộ; kiên quyết phòng, chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm và lạm dụng quyền lực. Chú trọng bồi dưỡng năng lực quản trị công, kỹ năng lãnh đạo trong môi trường số, đạo đức công vụ và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu chính quyền địa phương. Xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có năng lực quản trị hiện đại, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng là giải pháp căn bản để bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục tiêu, đúng pháp luật và vì lợi ích của Nhân dân.

6. Kết luận

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới cơ chế kiểm soát quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và phục vụ Nhân dân. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu mới và thực trạng kiểm soát quyền lực, bài viết khẳng định việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực phải được thực hiện đồng bộ từ thể chế, phương thức lãnh đạo, công tác kiểm tra, giám sát, trách nhiệm giải trình đến chuyển đổi số và xây dựng đội ngũ cán bộ. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2023). Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.
Chính phủ (2025). Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1681/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2025.