Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số

Developing high-quality human resources to meet the requirements for the development of the digital economy

TS. Nguyễn Thanh Trà
Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Email: Nguyen.tra85@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế số là những động lực chủ yếu cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Bài viết đề xuất một số giải pháp để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Từ khóa: Chuyển đổi số; kinh tế số; nguồn nhân lực chất lượng cao; Nghị quyết Đại hội XIV; phát triển nguồn nhân lực.

Abstract: In the context of rapid digital transformation worldwide, the digital economy has become an important driver of economic growth, increased labor productivity, and enhanced national competitiveness. The Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam identifies the development of science and technology, innovation, digital transformation, and the digital economy as the primary driving forces for national development in the new period. This article proposes several solutions to develop high-quality human resources to meet the requirements for the development of the digital economy, in accordance with the spirit of the Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam.

Keywords: Digital transformation; digital economy; high-quality human resources; Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; human resource development.

1. Đặt vấn đề

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những đột phá chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị quốc gia, hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Kinh tế số ngày càng khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định, tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò trung tâm, là yếu tố quyết định khả năng tiếp thu, làm chủ, ứng dụng và phát triển các công nghệ số hiện đại. Thực tiễn cho thấy, mặc dù nguồn nhân lực Việt Nam có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập trước yêu cầu của nền kinh tế số. Do đó, việc nghiên cứu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển đội ngũ nhân lực có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và kỹ năng số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay

Kinh tế số là hình thái phát triển của nền kinh tế trong đó công nghệ số, dữ liệu số và các nền tảng số trở thành yếu tố cốt lõi, giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Kinh tế số dựa trên việc ứng dụng rộng rãi các công nghệ, như: Internet, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloudy Computing), chuỗi khối (Blockchain)…, qua đó làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh tế, mô hình kinh doanh và quan hệ kinh tế – xã hội. Về bản chất, kinh tế số không chỉ bao gồm các ngành, lĩnh vực kinh tế dựa trực tiếp vào công nghệ số mà còn là quá trình số hóa toàn diện các ngành kinh tế truyền thống, góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế bền vững. Trong bối cảnh kinh tế số, tri thức, kỹ năng số và năng lực đổi mới sáng tạo của con người trở thành yếu tố trung tâm, chi phối hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như vị thế cạnh tranh của quốc gia trên thị trường toàn cầu.

Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển năng động, việc xây dựng kinh tế số là xu thế tất yếu, nền tảng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, cải thiện năng suất lao động và nâng cao vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế, đây là yêu cầu khách quan của tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, là con đường quan trọng để rút ngắn khoảng cách phát triển, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Trong tiến trình đó, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò quyết định, yếu tố then chốt bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Tiến bộ công nghệ có thể làm thay đổi bản chất của thương mại, đầu tư và lao động toàn cầu, tạo cơ hội cho các nước đi sau tăng tốc phát triển nhưng cũng có thể khiến cho các khâu sản xuất có thể chuyển ngược trở lại các quốc gia phát triển, làm hạn chế dòng dịch chuyển vốn toàn cầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 106). Thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đối số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 377).

Một là, Việt Nam đang sở hữu lợi thế về quy mô và cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động dồi dào.

Quý I/2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt khoảng 53,6 triệu người, tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025; số lao động có việc làm đạt 52,5 triệu người, tạo nguồn cung nhân lực lớn cho quá trình phát triển kinh tế số (Cục Thống kê, 2026, tr.3). Cơ cấu lao động cũng đang chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp và tăng nhanh trong các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ – những lĩnh vực có mức độ ứng dụng công nghệ số ngày càng cao. Cả nước có khoảng 17,7 triệu người làm việc trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, chiếm 33,7% dân số và 21,5 triệu người trong khu vực dịch vụ, chiếm 41% dân số và khoảng 68,3% lực lượng lao động xã hội động xã hội (Cục Thống kê, 2026, tr.4). Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2025 đạt 29,2%, tăng từ 24,1% năm 2020; tỷ lệ lao động được đào tạo đạt khoảng 70% (Anh Đào, 2026). Các ngành kinh tế số lõi thu hút 1,55 triệu lao động, chiếm 2,94% tổng số lao động có việc làm trong quý I/2026, trong đó lao động tập trung nhiều trong ngành sản xuất phần cứng (sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học) (Cục Thống kê, 2026, tr.5). Xét trong giai đoạn 2024 – 2026, tỷ trọng lao động trong ngành kinh tế số lõi tăng từ 2,42% lên 2,94% (Cục Thống kê, 2026, tr.5), điều này chứng tỏ sự mở rộng ổn định của hạ tầng công nghệ và các dịch vụ số cơ bản. Đây cũng là tín hiệu tích cực cho thấy trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tiếp thu công nghệ của người lao động Việt Nam ngày càng được nâng cao. Cùng với đó, mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo công nghệ thông tin phát triển mạnh, từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành kinh tế số, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Hai là, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp tham gia kinh tế số. Đây là một trong những biểu hiện rõ nét cho thấy quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có 73.788 doanh nghiệp công nghệ số, tăng 10,1% so với năm 2023, bình quân đạt khoảng 7,4 doanh nghiệp công nghệ số trên 1.000 dân. Đến tháng 7 năm 2026, cả nước có hơn 81.000 doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp công nghệ số (ICT) chiếm quy mô lớn nhất với 78.370 doanh nghiệp (Thông tấn xã Việt Nam, 2026). Sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp công nghệ số trước hết xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao đối với các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp số trong nền kinh tế.

Quá trình số hóa hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ đã tạo ra thị trường ngày càng rộng lớn cho các doanh nghiệp cung cấp phần mềm, nền tảng số, Cloud Computing, AI, Big Data, an toàn thông tin, thương mại điện tử và nhiều dịch vụ công nghệ khác. Không chỉ các doanh nghiệp công nghệ lớn, ngày càng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tham gia vào quá trình này thông qua việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ số hoặc ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh. Đồng thời, sự phát triển của các doanh nghiệp số có khả năng tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng tri thức cao, mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi địa lý truyền thống và nâng cao khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ba là, kinh tế số đóng góp vào giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.

Không chỉ gia tăng về số lượng, các doanh nghiệp kinh tế số của Việt Nam còn có sự phát triển đáng kể về quy mô hoạt động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tính đến tháng 7/2026, doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số ước đạt khoảng 662.724 tỷ đồng, trong khi kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử đạt khoảng 21,5 tỷ USD; lợi nhuận đạt 46.771 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước đạt 8.018 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2025, các chỉ tiêu trên lần lượt tăng 33,9%, 35,9%, 36% và 30,9% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Điều này cho thấy, năng lực làm chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước đang từng bước được cải thiện. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân lực công nghệ thông tin, kỹ sư phần mềm và chuyên gia chuyển đổi số ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu trong các lĩnh vực như phát triển phần mềm, AI, thương mại điện tử, công nghệ tài chính và dịch vụ số. Mỗi năm, thị trường lao động tiếp tục được bổ sung khoảng 500 nghìn lao động mới, với gần 1,26 triệu lao động đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) (Thông tấn xã Việt Nam, 2026) tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo, bồi dưỡng và chuyển đổi kỹ năng số cho người lao động. Đáng chú ý, một bộ phận công nhân trẻ có khả năng làm chủ khoa học – công nghệ đang hình thành, tạo động lực mới cho sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Việt Nam hiện nằm trong nhóm 10 quốc gia có năng lực lập trình viên tốt nhất thế giới và đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các tập đoàn công nghệ toàn cầu trong các lĩnh vực phần mềm, AI, điện toán đám mây và bán dẫn. Trong năm 2024, có khoảng 1.900 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế, với tổng doanh thu quốc tế đạt khoảng 11,5 tỷ USD, tăng 54% so với năm 2023 (Trọng Đạt, 2025), trong đó nhiều doanh nghiệp đã tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong các lĩnh vực gia công phần mềm, dịch vụ số, AI, điện toán đám mây và an toàn thông tin, cung cấp dịch vụ công nghệ cho các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Việt Nam hiện đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu điện thoại thông minh, thứ năm về xuất khẩu linh kiện máy tính và thứ bảy về xuất khẩu dịch vụ gia công phần mềm.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự phát triển nhanh của kinh tế tri thức, kinh tế số, nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập:

Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, song chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam vẫn chưa theo kịp đòi hỏi của quá trình phát triển, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số. Xét một cách toàn diện, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp còn nhiều hạn chế so với yêu cầu mới. Sự thiếu hụt các kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý, kỹ năng đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng linh hoạt trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ là những điểm yếu cần được khắc phục trong thời gian tới. Một ví dụ điển hình trong lĩnh vực công nghệ cao, Việt Nam hiện có khoảng 500.000 lao động công nghệ thông tin, trong khi nhu cầu dự báo đến năm 2030 là 2 triệu lao động (Thu Hằng, 2025), đặc biệt thiếu hụt nhân lực trong các lĩnh vực AI, Big Data, an ninh mạng và Internet vạn vật.

Cơ cấu nguồn nhân lực còn mất cân đối, chất lượng chưa đồng đều. Trong khi một số ngành, lĩnh vực công nghệ thông tin, phần mềm, viễn thông có sự phát triển tương đối nhanh về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực thì ở nhiều ngành sản xuất công nghiệp truyền thống đang trong quá trình chuyển đổi số, lực lượng lao động còn mỏng và thiếu hụt nghiêm trọng. Dự báo trong 10 năm tới, tới 70% việc làm ở các ngành thâm dụng lao động, như: dệt may, da giày, lắp ráp điện tử có thể bị thay thế bởi robot và trí tuệ nhân tạo, đặt ra sức ép lớn đối với quá trình tái cơ cấu và nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động.

Điều kiện làm việc và chính sách đãi ngộ là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến động lực làm việc, khả năng gắn bó lâu dài và sự phát triển của nguồn nhân lực có chất lượng. Sự chênh lệch về thu nhập và điều kiện làm việc giữa các khu vực, ngành nghề và loại hình doanh nghiệp đã tạo ra tình trạng dịch chuyển lao động, thậm chí chảy máu chất xám từ khu vực trong nước sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hoặc ra nước ngoài. Đã ảnh hưởng đến sự ổn định của người lao động, tác động tiêu cực đến mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nền kinh tế số quốc gia.

3. Giải pháp xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế số ở Việt Nam thời gian tới

Một là, hoàn thiện thể chế và chính sách về nhân lực trình độ cao, bảo đảm gắn kết chặt chẽ với định hướng xây dựng và mở rộng kinh tế số.

Hoàn thiện thể chế, chính sách là giải pháp có tính nền tảng nhằm tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh kinh tế số. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong việc định hướng và điều tiết quá trình phát triển, thông qua việc cụ thể hóa các chủ trương về xây dựng nhân lực chất lượng cao thành chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; trọng tâm là các định hướng về chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cần xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời có chính sách ưu đãi đối với các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động có trình độ cao, nhất là các ngành công nghệ cao, công nghiệp nền tảng và dịch vụ số.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quan hệ lao động trong nền kinh tế số, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường làm việc ổn định, thuận lợi để nguồn nhân lực chất lượng cao yên tâm làm việc và phát huy năng lực. Cùng với việc hoàn thiện thể chế và chính sách, Nhà nước cần tăng cường vai trò điều tiết và định hướng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn mục tiêu phát triển lực lượng này với yêu cầu phát triển đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp hiện đại, tư duy sáng tạo, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong nền kinh tế số.

Hai là, thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục, đồng thời, tăng cường bồi dưỡng, tái đào tạo lực lượng lao động hiện có.

Giáo dục – đào tạo giữ vai trò then chốt trong việc hình thành và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trình độ cao. Trước yêu cầu của nền kinh tế số, cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục – đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, gắn chặt với nhu cầu của thị trường lao động và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng thông qua hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý; các cơ sở giáo dục – đào tạo là chủ thể trực tiếp tổ chức triển khai, doanh nghiệp tham gia với tư cách là đối tác và chủ thể sử dụng lao động. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng và đại học, cần nâng cao chất lượng đào tạo tại theo hướng chú trọng trang bị kiến thức nền tảng vững chắc, kỹ năng số, tư duy sáng tạo, năng lực tự học và khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Chương trình đào tạo cần được rà soát, cập nhật thường xuyên, tập trung vào các lĩnh vực then chốt của kinh tế số như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, an ninh mạng và quản trị hệ thống số, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn.

Cần coi trọng công tác đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng cho đội ngũ lao động đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực chịu tác động mạnh của chuyển đổi số. Việc xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo trực tuyến, đào tạo tại doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện để nguồn nhân lực chất lượng cao thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng mới, nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng, qua đó, hạn chế nguy cơ tụt hậu và bị đào thải trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Ba là, giáo dục góp phần phát triển tư duy, bồi dưỡng năng lực đổi mới sáng tạo và tăng cường khả năng thích ứng của lực lượng lao động trong môi trường kinh tế số.

Quá trình chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực tự thích ứng trở thành những năng lực cốt lõi, quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, giáo dục giữ vai trò then chốt trong việc hình thành và bồi dưỡng các năng lực cần thiết, qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế số. Việc trang bị kiến thức liên ngành, kỹ năng số, kỹ năng làm việc trong môi trường số và năng lực học tập suốt đời sẽ giúp lực lượng này linh hoạt điều chỉnh phương thức lao động, thường xuyên cập nhật tri thức mới và thích ứng với những yêu cầu nghề nghiệp ngày càng đa dạng, phức tạp của nền kinh tế số. Thông qua các hoạt động nghiên cứu, thực hành và đổi mới sáng tạo tại nơi làm việc, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ được rèn luyện và phát huy năng lực sáng tạo mà còn khẳng định vai trò chủ thể trong quá trình đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất và tham gia tích cực vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Bốn là, tăng cường liên kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, đồng thời, phát huy vai trò chủ động của doanh nghiệp trong quá trình phát triển nhân lực.

Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp sử dụng, khai thác và phát huy năng lực của nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời là môi trường quan trọng để lực lượng này rèn luyện, trưởng thành và phát triển. Vì vậy, tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục – đào tạo và doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực tập, đào tạo tại chỗ và tham gia đánh giá năng lực người lao động, bảo đảm đào tạo gắn với yêu cầu thực tiễn của sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế số. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển nhân lực chất lượng cao, bảo đảm gắn kết chặt chẽ với định hướng sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo của mình. Doanh nghiệp tạo điều kiện để lực lượng này tham gia các hoạt động nghiên cứu – phát triển, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới, qua đó nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế.

Năm là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đồng thời kết nối đội ngũ lao động trình độ cao với thị trường việc làm toàn cầu trong bối cảnh kinh tế số.

Trong bối cảnh kinh tế số và toàn cầu hóa sâu rộng, thị trường lao động không  còn giới hạn trong phạm vi quốc gia mà có tính khu vực, toàn cầu. Nhà nước cần thúc đẩy hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực thông qua việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách công nhận lẫn nhau về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp và chuẩn năng lực, phù hợp với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Cần mở rộng hợp tác quốc tế trong giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện để nguồn nhân lực chất lượng cao tham gia các chương trình đào tạo, trao đổi, thực tập và làm việc trong môi trường quốc tế, để tiếp cận tri thức, công nghệ và phương thức quản trị tiên tiến.

Cần tận dụng các nền tảng số và mô hình làm việc từ xa để kết nối nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước với thị trường lao động toàn cầu. Việc khuyến khích tham gia các dự án quốc tế, các chuỗi giá trị toàn cầu và các mạng lưới chuyên gia số không chỉ giúp nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ và tác phong làm việc chuyên nghiệp mà còn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.

4. Kết luận

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ và tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc kinh tế – xã hội, việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao ở Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình hiện đại hóa mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây chính là lực lượng nòng cốt trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm chủ và khai thác hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ, qua đó nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng tăng trưởng và củng cố vị thế cạnh tranh của quốc gia trong môi trường toàn cầu hóa. Thực tiễn đó đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện thể chế, đổi mới giáo dục – đào tạo, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng lao động, đến phát huy vai trò của doanh nghiệp và tăng cường hội nhập quốc tế. Xây dựng đội ngũ nhân lực trình độ cao vì vậy không chỉ nhằm đáp ứng những yêu cầu trước mắt của chuyển đổi số mà còn tạo dựng nền tảng bền vững cho sự phát triển dài hạn của đất nước. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam tận dụng hiệu quả cơ hội từ kinh tế số, vượt qua thách thức của cạnh tranh toàn cầu và từng bước khẳng định vị thế trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:
Anh Đào (28/4/2026). Kinh tế số tạo thêm động lực mới cho thị trường lao động. Tạp chí Thương trường. https://thuongtruong.com.vn/news/kinh-te-so-tao-them-dong-luc-moi-cho-thi-truong-lao-dong-163348.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Họp báo thường kỳ tháng 7 năm 2026. Hà Nội.
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý I năm 2026. Hà Nội, tr.3, 4, 5.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.106.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.377.
Thu Hằng (14/8/2025). Không “tăng tốc” đào tạo, Việt Nam sẽ khủng hoảng thiếu hàng triệu nhân lực công nghệ cao. VnEconomy. https://vneconomy.vn/khong-tang-toc-dao-tao-viet-nam-se-khung-hoang-thieu-hang-trieu-nhan-luc-cong-nghe-cao.
Thông tấn xã Việt Nam (09/8/2026). Doanh nghiệp công nghệ số (ICT) chiếm quy mô lớn nhất trong doanh nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. https://bnews.vn/doanh-nghiep-cong-nghe-so-ict-chiem-quy-mo-lon-nhat-trong-doanh-nghiep-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao/427855.
Thông tấn xã Việt Nam (09/8/2026). Mỗi năm lực lượng lao động được bổ sung khoảng 500 nghìn người. https://bnews.vn/moi-nam-luc-luong-lao-dong-duoc-bo-sung-khoang-500-nghin-nguoi/369629
Trọng Đạt (13/01/2025). Doanh nghiệp Make in Viet Nam trở thành “đầu tàu” cho kinh tế số Việt. Vietnamnet. https://vietnamnet.vn/doanh-nghiep-make-in-viet-nam-tro-thanh-dau-tau-cho-kinh-te-so-viet-2362637.