Thực hiện dân chủ trong quản lý trại giam và yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo dục phạm nhân

Implementing democracy in prison management and requirements for officers responsible for inmate management and education

ThS. Đỗ Đình Thắng
Trại giam Thanh Lâm – Cục C10 – Bộ Công An
Email: dodinhthangtl@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và cơ chế thực hiện dân chủ trong quản lý, giáo dục phạm nhân tại các trại giam thuộc Bộ Công an, từ đó xác định yêu cầu đối với chất lượng đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi nhiệm vụ. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản, đối chiếu quy phạm và suy luận chính sách, tập trung vào Luật Thi hành án hình sự năm 2025, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và Thông tư số 93/2026/TT-BCA ngày 17/6/2026. Kết quả chỉ ra ba bình diện có quan hệ nhưng khác nhau về chủ thể và thẩm quyền: dân chủ trong tổ chức, quản lý cán bộ; việc phạm nhân tiếp cận thông tin, tham gia ý kiến, khiếu nại, tố cáo theo luật định và kiểm tra, giám sát việc sử dụng quyền lực trong cơ sở giam giữ. Bài viết đề xuất khung đánh giá dựa trên tính tiếp cận của thông tin, chất lượng đối thoại, dấu vết giải quyết phản ánh, sự công bằng trong xếp loại và năng lực ứng xử của cán bộ. Các khuyến nghị nhấn mạnh trách nhiệm của giám thị, đào tạo theo tình huống và kiểm tra độc lập nhằm kết hợp kỷ cương, an toàn với sự tôn trọng nhân phẩm và hiệu quả giáo dục cải tạo.

Từ khóa: Dân chủ xã hội chủ nghĩa; trại giam; cán bộ quản lý; giáo dục phạm nhân; quyền của phạm nhân; kiểm soát quyền lực.

Abstract: This article clarifies the political and legal foundations, as well as the mechanisms for implementing democracy in the management and education of inmates at detention centers under the Ministry of Public Security, thereby identifying the requirements for the quality of the staff directly responsible for carrying out these tasks. The article employs text analysis, normative comparison, and policy reasoning, focusing on the Law on the Enforcement of Criminal Sentences of 2025, the Law on the Implementation of Democracy at the Grassroots Level of 2022, and Circular No. 93/2026/TT-BCA dated June 17, 2026. The results highlight three interrelated but distinct dimensions regarding subjects and authority: democracy in organizational structure and staff management; inmates’ access to information, participation in decision-making, and the right to file complaints and reports as prescribed by law; and the inspection and oversight of the exercise of power within detention facilities. The article proposes an evaluation framework based on information accessibility, the quality of dialogue, the track record of resolving complaints, fairness in classification, and staff members’ interpersonal skills. The recommendations emphasize the responsibilities of correctional officers, scenario-based training, and independent inspections to balance discipline and safety with respect for human dignity and the effectiveness of rehabilitation.

Keywords: Socialist democracy; prison management; prison staff; prisoners’ rights; oversight of authority.

1. Đặt vấn đề

Trại giam là nơi quyền lực nhà nước tác động thường xuyên, trực tiếp và sâu sắc đến đời sống của người chấp hành án phạt tù. Quyết định về phân loại giam giữ, tổ chức sinh hoạt, lao động, học tập, xếp loại chấp hành án và xử lý vi phạm đều có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Vì vậy, chất lượng quản lý trại giam không thể chỉ đo bằng việc duy trì trật tự bề ngoài. Một cơ sở giam giữ thực hiện đúng chính sách hình sự phải duy trì an ninh, bảo đảm các chế độ luật định và tạo điều kiện để phạm nhân nhận thức, sửa chữa hành vi, chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng. Để làm được điều đó, cán bộ quản lý, giáo dục phạm nhân phải có năng lực sử dụng quyền hạn đúng pháp luật, giải thích được quyết định, lắng nghe thông tin từ người chịu tác động và chịu sự kiểm tra đối với hành vi công vụ.

Nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo dục phạm nhân tại các trại giam khu vực miền Bắc thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường công tác dân chủ, kỷ cương, đoàn kết và nhân văn, đồng thời coi bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, phương pháp công tác và kết quả thực hiện nhiệm vụ là những phương diện đánh giá chất lượng đội ngũ. Bài viết nghiên cứu về thực hiện dân chủ trong quan hệ quản lý trại giam và cần chuyển thành yêu cầu đối với cán bộ trực tiếp quản lý, giáo dục phạm nhân. Phạm vi không gian của bài viết là trong các trại giam thuộc Bộ Công an; đề xuất áp dụng cho khu vực miền Bắc cần được kiểm nghiệm bằng khảo sát tại từng trại giam.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cách tiếp cận về dân chủ trong môi trường giam giữ

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dân chủ gắn với việc Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, với sự công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và với kiểm soát việc thực hiện quyền lực theo Hiến pháp, pháp luật. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 xác định các đặc trưng đó đồng thời nhấn mạnh hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và được thực hiện nghiêm minh, nhất quán (Ban Chấp hành Trung ương, 2022). Trong cơ sở giam giữ, nội dung trên phải được cụ thể hóa theo tính chất của thi hành án phạt tù: hình phạt hạn chế tự do theo bản án, nhưng việc quản lý không được tùy tiện mở rộng sự hạn chế ấy sang các quyền khác ngoài căn cứ pháp luật. Đây là suy luận chuẩn tắc từ yêu cầu về tính hợp pháp, tính tương xứng và trách nhiệm giải trình, không phải mệnh đề cho rằng mọi quyền tham gia chính trị của công dân được thực hiện nguyên vẹn trong trại giam.

Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15, là nền tảng để phân biệt quyền con người, quyền công dân và điều kiện hạn chế quyền theo luật. Các điều 14, 20 và 30 về bảo đảm quyền, bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm và quyền khiếu nại, tố cáo tiếp tục có ý nghĩa trực tiếp đối với việc đối xử với người đang chấp hành án (Quốc hội, 2013, 2025a). Song, việc một người là phạm nhân không làm họ trở thành chủ thể quyết định thay cơ quan thi hành án hình sự. Dân chủ trong trại giam trước hết đòi hỏi quyết định thuộc đúng thẩm quyền, có tiêu chí và thủ tục minh bạch, người bị tác động được thông tin và được trình bày ý kiến khi pháp luật cho phép, còn việc khiếu nại, tố cáo được tiếp nhận và giải quyết theo cơ chế có thể kiểm tra.

Cần phân biệt trên ba bình diện. Một là, dân chủ trong nội bộ lực lượng thực thi: cán bộ được thông tin, tham gia ý kiến về những nội dung thuộc phạm vi công tác, được đánh giá theo tiêu chí công bằng và có kênh báo cáo sai phạm mà không bị trù dập. Hai là, dân chủ trong quan hệ giữa cơ sở giam giữ với phạm nhân: phạm nhân được biết quyền, nghĩa vụ, chế độ, tiêu chí xếp loại; được tham gia ý kiến, đề đạt nguyện vọng, khiếu nại, tố cáo trong phạm vi luật định. Ba là, sự giám sát từ các cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể liên quan theo pháp luật. Ba bình diện liên kết với nhau nhưng không đồng nhất: quyền của cán bộ trong nội bộ cơ quan không thể dùng để thay thế quyền phản ánh của phạm nhân; Ban Tự quản phạm nhân không thể thay thế giám thị hay các chủ thể kiểm sát, kiểm tra.

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 xác lập nguyên tắc chung về thông tin, tham gia và giám sát; khoản 5 Điều 83 giao Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ vào luật để quy định việc thực hiện dân chủ trong nội bộ các cơ quan Công an nhân dân. Đối với quan hệ đặc thù tại cơ sở giam giữ phạm nhân, cần áp dụng Luật Thi hành án hình sự năm 2025 và Thông tư số 93/2026/TT-BCA theo đúng đối tượng, nội dung và thẩm quyền của mỗi văn bản. Cách phân tầng này tránh việc cơ học chuyển các hình thức biểu quyết ở cộng đồng dân cư hoặc cơ quan hành chính sang hoạt động quản lý phạm nhân, nơi thẩm quyền quyết định và yêu cầu an ninh được luật chuyên ngành quy định riêng.

2.2. Phương pháp và giới hạn nghiên cứu

Bài viết phân tích quy phạm trong Hiến pháp, Nghị quyết số 27-NQ/TW, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Luật Thi hành án hình sự năm 2025, Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ và Thông tư số 93/2026/TT-BCA; đối chiếu quy định về công khai, tham gia ý kiến, đối thoại, khiếu nại và trách nhiệm cán bộ. Phương pháp suy luận chính sách được dùng để chuyển nghĩa vụ pháp lý thành tiêu chí đánh giá công việc và đề xuất biện pháp tổ chức thực hiện. Quy tắc Nelson Mandela của Liên Hợp quốc được tham khảo như chuẩn mực quốc tế để đối chiếu về tiếp nhận phản ánh và đào tạo nhân viên, không được coi là văn bản trực tiếp thay thế pháp luật Việt Nam (United Nations General Assembly, 2015). Bài viết không sử dụng số liệu từ trại giam, không tiến hành khảo sát phạm nhân hoặc cán bộ và không đưa ra kết luận thực chứng về mức độ thực hiện tại các trại giam miền Bắc. Những nguy cơ nêu ra là giả thuyết quản trị cần được kiểm chứng.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Cấu trúc pháp lý mới của việc thực hiện dân chủ trong trại giam

Luật Thi hành án hình sự năm 2025 xác lập địa vị pháp lý của phạm nhân theo cách gắn quyền với nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định và nội quy cơ sở giam giữ. Khoản 1 Điều 23 ghi nhận, trong số các quyền của phạm nhân, việc được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền, nghĩa vụ và nội quy; được bảo đảm các chế độ sinh hoạt, chăm sóc y tế, học tập, lao động, gặp và liên lạc với người thân theo quy định; được khiếu nại, tố cáo và được bồi thường thiệt hại theo pháp luật. Cùng với đó, phạm nhân phải chấp hành những nghĩa vụ luật định. Cách quy định này cho thấy, sự tham gia và phản ánh không phá vỡ kỷ luật thi hành án, mà là thành tố bảo đảm hoạt động quản lý đúng pháp luật (Quốc hội, 2025b, Điều 23).

Luật mới cũng quy định việc xếp loại chấp hành án phạt tù theo các mức tốt, khá, trung bình, kém, dựa trên kết quả thực hiện tiêu chuẩn thi đua, nội quy, học tập và lao động; kết quả xếp loại theo quý được lập thành văn bản và lưu trong hồ sơ phạm nhân (Quốc hội, 2025b, Điều 31). Xếp loại là một điểm tiếp xúc giữa đánh giá nghiệp vụ với cảm nhận về công bằng của người chấp hành án. Nếu tiêu chí được phổ biến rõ, chứng cứ ghi nhận được kiểm tra và ý kiến khác biệt được tiếp nhận, quyết định có cơ sở thuyết phục hơn. Ngược lại, đánh giá thiếu nhất quán có thể làm giảm động lực cải tạo và phát sinh tranh chấp. Nhận định về tác động này là suy luận quản trị cần được kiểm chứng bằng dữ liệu thực địa; bài viết không mặc nhiên khẳng định hiện có tình trạng xếp loại sai tại các trại giam.

Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (Chính phủ, 2026). Đối với thực hiện dân chủ chuyên ngành, Thông tư số 93/2026/TT-BCA ngày 17/6/2026 thay thế văn bản năm 2019 và áp dụng cho cơ sở giam giữ phạm nhân thuộc Bộ Công an, cán bộ, chiến sĩ, phạm nhân và các chủ thể liên quan. Điều 2 xác định mục đích bảo đảm quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp, xây dựng lực lượng trong sạch, hiệu quả, phát huy sự giám sát theo pháp luật. Điều 3 yêu cầu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp; đồng thời bảo đảm công khai, công bằng, minh bạch và xử lý việc lợi dụng dân chủ gây phương hại đến an ninh, trật tự (Bộ Công an, 2026a, Điều 1-3). Chính sự hiện diện đồng thời của công khai, trách nhiệm pháp lý và giới hạn an ninh làm nên tính đặc thù của dân chủ trong quản lý trại giam.

Điều 4 Thông tư số 93/2026/TT-BCA đặt ra nội dung phải công khai, gồm chính sách, pháp luật, nội quy, tiêu chuẩn thi đua và xếp loại; quyền, nghĩa vụ; chế độ ăn, ở, chăm sóc y tế, gặp người thân; điều kiện và kết quả xét giảm thời hạn, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện; việc tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo và địa điểm, lịch tiếp, hòm thư góp ý. Việc công khai phải bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, an ninh cơ sở và quyền, lợi ích của người liên quan. Điều 5 dự liệu nhiều cách truyền đạt: niêm yết, truyền thanh, hội nghị gia đình, thông báo trực tiếp, thông qua Ban Tự quản và công khai trên trang thông tin điện tử nếu có, trong giới hạn luật định (Bộ Công an, 2026a, Điều 4-5). Như vậy, công khai không chỉ là treo văn bản một lần; thông tin cần đến được người cần biết bằng hình thức họ có thể hiểu, trong thời điểm còn khả năng sử dụng.

Điều 8 Thông tư số 93/2026/TT-BCA xác định những nội dung phạm nhân có thể tham gia ý kiến để giám thị xem xét, quyết định: bình xét thi đua, xếp loại, khen thưởng, kỷ luật; đề xuất về giảm thời hạn chấp hành án, tạm đình chỉ, đặc xá, tha tù trước thời hạn có điều kiện; kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo; lựa chọn, bình bầu người được đề nghị tham gia Ban Tự quản và đề nghị bãi miễn theo hướng dẫn. Kênh tham gia gồm Ban Tự quản, hòm thư góp ý, đối thoại trực tiếp và hình thức hợp pháp khác (Bộ Công an, 2026a, Điều 8). Tham gia ý kiến là quyền được trình bày và được xem xét nghiêm túc; không đồng nghĩa với quyền phủ quyết quyết định quản lý, quyền tự định đoạt mức xếp loại hay quyền quyết định đặc xá. Phân biệt này bảo vệ cả tính thực chất của tham gia lẫn tính hợp pháp của thẩm quyền.

Giám thị có trách nhiệm bố trí hòm thư góp ý, khiếu nại, tố cáo và định kỳ sáu tháng tổ chức đối thoại trực tiếp; tiếp nhận, giải quyết phản ánh, thông báo kết quả theo pháp luật, bảo đảm quyền lợi của người góp ý, khiếu nại, tố cáo và xử lý cán bộ vi phạm. Cán bộ, chiến sĩ phải tuân thủ nguyên tắc thực hiện dân chủ, quy tắc ứng xử và kịp thời báo cáo hành vi vi phạm (Bộ Công an, 2026a, Điều 9–10). Quy định về đối thoại định kỳ là một mức tối thiểu của trách nhiệm tổ chức; sự việc cấp bách liên quan sức khỏe, an toàn hoặc cáo buộc xâm phạm quyền cần được tiếp nhận, xử lý theo quy định ngay khi phát sinh, không thể chờ kỳ đối thoại. Pháp luật đã tạo khuôn khổ tương đối rõ; giá trị thực tế phụ thuộc vào năng lực cán bộ chuyển khuôn khổ đó thành quy trình hằng ngày có thể kiểm chứng.

3.2. Từ quyền được biết đến khả năng thực sự tham gia

Quyền được biết có ba lớp điều kiện. Trước hết, thông tin phải chính xác và cập nhật theo luật hiện hành. Việc tiếp tục niêm yết mẫu biểu hay giải thích dựa trên Thông tư số 73/2019/TT-BCA sau ngày 01/7/2026 sẽ làm sai lệch căn cứ, vì thông tư này đã hết hiệu lực khi Thông tư số 93/2026/TT-BCA có hiệu lực (Bộ Công an, 2026a, Điều 11). Tiếp đến, thông tin phải phù hợp đối tượng: người mới vào trại, người ít biết chữ, người có khó khăn về ngôn ngữ hoặc khả năng tiếp cận cần được giải thích bằng phương thức phù hợp với điều kiện và quy định của cơ sở. Cuối cùng, phải có cách xác nhận đã truyền đạt và kênh để người nghe hỏi lại. Một bảng niêm yết đúng chỗ nhưng hết hạn, khó đọc, không giải thích tiêu chí xếp loại cho người chịu tác động là công khai trên giấy tờ, chưa đủ hiệu quả quản trị.

Quyền tham gia ý kiến chỉ có ý nghĩa khi được gắn với quy trình ra quyết định. Đối với xếp loại, cán bộ cần công bố trước tiêu chí áp dụng, ghi nhận sự kiện và tài liệu liên quan, tạo điều kiện cho phạm nhân trình bày ý kiến theo quy định, đối chiếu thông tin từ nhiều nguồn, lập hồ sơ và chuyển người có thẩm quyền quyết định. Khi không chấp nhận kiến nghị, việc giải thích căn cứ ở mức pháp luật cho phép giúp người chịu tác động hiểu tiêu chí nào chưa đáp ứng và có thể điều chỉnh hành vi. Một kiến nghị đúng có thể dẫn đến sửa sai; một kiến nghị không có căn cứ vẫn cần được xử lý đúng thủ tục. Chất lượng dân chủ vì thế nằm ở năng lực tiếp nhận, phân loại và phản hồi, không nằm ở tỷ lệ chấp nhận kiến nghị càng cao càng tốt.

Đối thoại cần tránh hai cực đoan: chỉ đọc lại nội quy rồi coi như đã đối thoại, hoặc biến cuộc họp thành nơi bàn các quyết định thuộc thẩm quyền cá biệt, thông tin bí mật hay vấn đề an ninh không thể công khai. Nội dung có thể tổ chức theo nhóm: giải thích chế độ chung; tiếp nhận khó khăn phổ biến về sinh hoạt, học tập, lao động; báo cáo kết quả xử lý kiến nghị trước đó trong phạm vi được công khai; ghi nhận nội dung cần chuyển người có thẩm quyền. Biên bản đối thoại nên phân biệt câu hỏi, trả lời tại chỗ, việc cần kiểm tra, đơn vị phụ trách và thời điểm phản hồi. Đối với phản ánh cá nhân nhạy cảm, cần kênh riêng để tránh tiết lộ danh tính hoặc tạo nguy cơ trả đũa. Thông tư số 93/2026/TT-BCA không biến hội nghị đối thoại tập thể thành thủ tục giải quyết mọi khiếu nại cá biệt; các thủ tục tương ứng vẫn phải theo luật chuyên ngành.

Ban Tự quản là một kênh chuyển tải ý kiến và hỗ trợ nếp sống trong phạm vi được giao, nhưng không được nắm quyền kỷ luật, phân phối quyền lợi, tiếp cận tùy tiện hồ sơ cá nhân hay ngăn người khác gửi phản ánh trực tiếp. Nếu cán bộ chỉ tiếp nhận tiếng nói qua người đại diện, những người yếu thế hoặc có mâu thuẫn trong buồng giam có thể không được nghe thấy. Vì vậy, hòm thư, trao đổi riêng, tiếp nhận khiếu nại và kiểm tra trực tiếp phải tồn tại song song. Việc lựa chọn người tham gia Ban Tự quản cần theo đúng tiêu chuẩn và hướng dẫn, có kiểm soát xung đột lợi ích và cơ chế bãi miễn, bảo đảm kênh đại diện không trở thành tầng quyền lực phi chính thức.

3.3. Dân chủ, kỷ cương và phòng ngừa lạm quyền

Dân chủ trong trại giam không đối lập với kỷ cương. Nội quy là căn cứ để xác định nghĩa vụ và dự liệu hậu quả của vi phạm; thông tin rõ ràng và việc áp dụng nhất quán giúp cán bộ duy trì trật tự bằng pháp luật, hạn chế mệnh lệnh tùy hứng. Thông tư số 96/2026/TT-BCA ban hành nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, cần được phổ biến và áp dụng đồng bộ với Thông tư số 93/2026/TT-BCA (Bộ Công an, 2026b). Khi phạm nhân hiểu điều nào bắt buộc, điều nào được đề xuất và ai quyết định, cán bộ cũng có cơ sở giải thích, phòng ngừa kỳ vọng sai và xử lý vi phạm nhất quán. Mọi hạn chế thông tin vì an ninh, bí mật nhà nước hoặc dữ liệu cá nhân phải gắn với căn cứ và phạm vi cụ thể, không thể trở thành lý do chung để không trả lời mọi phản ánh.

Về phía cán bộ, một môi trường công tác dân chủ tạo điều kiện nhận diện sai sót nghiệp vụ sớm. Quản giáo trực tiếp thường biết vấn đề về tâm lý, sức khỏe, mâu thuẫn nhóm, cách thi hành chế độ và nguy cơ sai phạm trước khi chúng xuất hiện trong báo cáo định kỳ. Nếu ý kiến của họ được ghi nhận và người báo cáo vi phạm được bảo vệ theo pháp luật, cấp chỉ huy có thêm tín hiệu để phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, trách nhiệm giải trình của cán bộ phải đi kèm phân định thẩm quyền: người trực tiếp ghi nhận sự việc, người kiểm tra, người quyết định và người giải quyết khiếu nại cần được nhận diện trong hồ sơ. Không nên quy trách nhiệm chung chung cho “tập thể” khi phát sinh quyết định sai hoặc bỏ sót phản ánh.

Cơ chế kiểm soát quyền lực phải hướng vào các điểm có nguy cơ lợi ích và thông tin bất cân xứng: ghi nhận vi phạm và xếp loại; phân công lao động, học tập; tiếp nhận tiền, đồ vật; thăm gặp, liên lạc; chế độ y tế; đề xuất giảm án, đặc xá; xử lý đơn thư. Cùng một cán bộ có thể là người theo dõi, người đề xuất và nguồn thông tin chính. Vì thế, ngoài yêu cầu đạo đức cá nhân, cần dấu vết hồ sơ, kiểm tra chéo theo thẩm quyền, giải thích quyết định và kênh phản ánh vượt cấp theo pháp luật khi đối tượng phản ánh là người trực tiếp quản lý. Đây là đề xuất thiết kế kiểm soát, không hàm ý mọi khâu hiện nay đều có vi phạm.

Các quy tắc của Nelson Mandela được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua năm 2015 khuyến nghị người bị giam giữ có thể gửi yêu cầu, khiếu nại tới cơ quan quản lý và cơ quan kiểm tra, được xử lý kịp thời, không chịu bất lợi vì đã phản ánh; đồng thời nhấn mạnh tuyển chọn, đào tạo và năng lực của nhân viên trại giam (Đại hội đồng Liên Hợp quốc, 2015, Quy tắc 56-57, 74-76). Giá trị tham khảo ở đây là lôgic của quản lý an toàn dựa trên thông tin đáng tin cậy: nếu người chịu tác động sợ bị trả đũa, cơ quan quản lý cũng mất nguồn dữ liệu để phát hiện sớm bạo lực, thiếu sót chế độ và vi phạm công vụ. Việc áp dụng cụ thể phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và điều kiện của từng cơ sở, không sao chép mô hình nước ngoài thành một thẩm quyền mới.

3.4. Dân chủ là một chỉ báo về chất lượng đội ngũ cán bộ

Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo dục phạm nhân cần được tiếp cận qua sự kết hợp phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, phương pháp công tác, phối hợp và kết quả nhiệm vụ. Từ góc nhìn đó, năng lực thực hiện dân chủ cần được đánh giá như năng lực nghề nghiệp. Cán bộ có thể thuộc nội quy nhưng chưa đủ khả năng giải thích dễ hiểu; có thể tiếp nhận đơn nhưng phân loại sai thẩm quyền; có thể tổ chức họp nhưng không theo dõi đến khi phản hồi; có thể giữ được trật tự nhất thời nhưng không nhận diện bất công đang tích tụ. Ngược lại, người cán bộ biết lắng nghe có nguyên tắc, ghi chép chính xác, kiểm chứng thông tin và xử lý đúng thẩm quyền góp phần đồng thời nâng cao kỷ luật và hiệu quả giáo dục.

Một khung đánh giá có thể gồm năm nhóm chỉ báo. Nhóm thứ nhất là khả năng tiếp cận thông tin: văn bản đang niêm yết có còn hiệu lực, phạm nhân mới được phổ biến nội quy và quyền, nghĩa vụ, các thay đổi được thông báo kịp thời. Nhóm thứ hai là khả năng tham gia thực chất: đối thoại sáu tháng có biên bản, nhiều kênh ý kiến hoạt động, ý kiến từ người ít khả năng tự trình bày vẫn được tiếp nhận. Nhóm thứ ba là chất lượng giải quyết: phản ánh có mã hoặc sổ theo dõi, được phân loại đúng, chuyển đúng người, phản hồi trong thời hạn tương ứng và bảo vệ thông tin cần bảo mật. Nhóm thứ tư là công bằng trong quyết định: xếp loại dựa trên chứng cứ, có văn bản, sai sót được sửa và kết quả kiểm tra có thể truy nguyên. Nhóm thứ năm là năng lực và đạo đức cán bộ: hiểu luật mới, giao tiếp tôn trọng, xử lý xung đột, từ chối lợi ích không chính đáng và báo cáo hành vi vi phạm.

Không nên biến khung này thành cuộc chạy theo số lượng đơn thư thấp. Ít đơn có thể là dấu hiệu chế độ được thực hiện tốt, nhưng cũng có thể là biểu hiện kênh tiếp nhận không được tin cậy. Cần đọc đồng thời tỷ lệ phổ biến thông tin, số và loại phản ánh, thời gian xử lý, tỷ lệ phản hồi có căn cứ, kết quả kiểm tra độc lập, ý kiến cán bộ và phạm nhân. Dữ liệu đánh giá phải được phân tách theo trại, phân trại, nhóm công việc và thời gian, bảo vệ thông tin cá nhân và bí mật nghiệp vụ; không công bố danh tính người phản ánh để minh họa thành tích. Đây là đề xuất phương pháp, cần thiết kế thử nghiệm trước khi chuẩn hóa thành chỉ tiêu quản lý.

Đối với các trại giam khu vực miền Bắc, đặc điểm địa bàn, điều kiện nhân lực, mức độ tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, công nghệ và cơ cấu phạm nhân có thể khác nhau; không thể từ khuôn khổ pháp lý chung suy ra mức độ thực hiện đồng đều. Nghiên cứu tiếp theo cần lựa chọn mẫu trại giam theo tiêu chí địa bàn và quy mô, kiểm tra hồ sơ công khai, biên bản đối thoại, việc xử lý phản ánh, phỏng vấn cán bộ và phạm nhân trên cơ sở bảo mật, rồi đối chiếu với quan sát thực tế. Một thiết kế như vậy mới có thể kiểm nghiệm giả thuyết: nơi cán bộ được đào tạo, cấp chỉ huy phản hồi và thủ tục có dấu vết rõ thì việc thực hiện dân chủ và chất lượng quản lý, giáo dục có xu hướng tốt hơn. Bài viết này chỉ xây dựng giả thuyết và khung đo, chưa xác nhận quan hệ nhân quả.

4. Kết luận và khuyến nghị

Dân chủ trong quản lý trại giam thể hiện bằng khả năng làm cho quyền lực thi hành án vận hành đúng pháp luật, có thông tin, có tham gia trong giới hạn thẩm quyền, có giải trình và có giám sát. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cùng Thông tư số 93/2026/TT-BCA đã cung cấp căn cứ trực tiếp để chuyển các nguyên tắc đó thành quy trình. Trách nhiệm của cán bộ quản lý, giáo dục phạm nhân không dừng ở chấp hành mệnh lệnh và giữ ổn định buồng giam; họ phải tổ chức việc thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách công bằng, nhận biết sai sót và xử lý phản ánh đúng thẩm quyền. Vì vậy, năng lực thực hiện dân chủ là bộ phận có thể quan sát và đánh giá của chất lượng đội ngũ, đồng thời là một điều kiện để gắn giáo dục cải tạo với kỷ luật thi hành án.

Thứ nhất, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng và các trại giam cần rà soát văn bản đang dùng, thay căn cứ của Thông tư số 73/2019/TT-BCA bằng Thông tư số 93/2026/TT-BCA, đồng bộ tài liệu phổ biến với Luật Thi hành án hình sự năm 2025, Nghị định số 170/2026/NĐ-CP và Nội quy ban hành theo Thông tư số 96/2026/TT-BCA. Mỗi nội dung công khai cần xác định người chịu trách nhiệm cập nhật, vị trí hoặc kênh công khai, chu kỳ kiểm tra, đối tượng được tiếp cận và giới hạn bảo mật. Đây là công việc có thể thực hiện ngay trong quy trình quản lý hiện hành.

Thứ hai, giám thị trại giam cần duy trì đối thoại định kỳ sáu tháng theo Thông tư số 93/2026/TT-BCA và thiết lập quy trình tiếp nhận thường xuyên đối với phản ánh phát sinh. Quy trình nên có sổ hoặc hệ thống ghi nhận an toàn, phân loại việc thuộc phạm vi giải thích, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; chuyển đúng thẩm quyền; theo dõi thời hạn; trả lời và kiểm tra việc khắc phục. Vụ việc liên quan người tiếp nhận ban đầu phải có đường chuyển khác theo pháp luật. Việc bảo vệ danh tính, ngăn trả đũa và kiểm tra thực tế sau trả lời quan trọng hơn số cuộc họp đã tổ chức.

Thứ ba, đào tạo cán bộ nên chuyển từ học thuộc điều khoản sang xử lý tình huống: giải thích tiêu chí xếp loại; đối thoại với phạm nhân không đồng ý quyết định; nhận diện dấu hiệu bạo lực, áp lực tâm lý; phân loại tố cáo về cán bộ; giữ bí mật dữ liệu cá nhân khi công khai kết quả; giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu an toàn và nhu cầu thông tin. Kết quả tập huấn cần được kiểm tra qua hồ sơ, quan sát tác phong và chất lượng phản hồi, không chỉ bằng số chứng chỉ. Cán bộ lãnh đạo phải tạo điều kiện để người trực tiếp làm nhiệm vụ phản ánh vướng mắc pháp lý, nghiệp vụ và được bảo vệ khi báo cáo trung thực.

Thứ tư, cơ chế kiểm tra cần đối chiếu định kỳ giữa nội dung đã công khai, hồ sơ xếp loại, biên bản đối thoại, sổ phản ánh, quyết định giải quyết và ý kiến của người chịu tác động; phối hợp hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát theo thẩm quyền. Khi áp dụng khung đánh giá cho các trại giam khu vực miền Bắc, cần thu thập dữ liệu thực địa có đạo đức nghiên cứu, bảo vệ người tham gia và công bố kết quả ở mức tổng hợp. Chỉ khi những kênh thông tin và trách nhiệm giải trình vận hành thực chất, dân chủ mới trở thành phương pháp quản lý giúp duy trì an ninh, phòng ngừa lạm quyền và nâng cao chất lượng giáo dục phạm nhân.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Công an (2026a). Thông tư số 93/2026/TT-BCA ngày 17/6/2026 quy định về thực hiện dân chủ trong cơ sở giam giữ phạm nhân, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an.
Bộ Công an (2026b). Thông tư số 96/2026/TT-BCA ngày 19/6/2026 ban hành nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
Chính phủ (2026). Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
Quốc hội (2025a). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2025b). Luật Thi hành án hình sự năm 2025.
United Nations General Assembly (2015). United Nations Standard Minimum Rules for the Treatment of Prisoners (the Nelson Mandela Rules) (Resolution 70/175). https://digitallibrary.un.org/record/816764