Experience of the naval academy Party Organization in leading education and training during the 2015–2025 period
Thượng úy Trần Đình Quân
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: buik71596@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Giai đoạn 2015 – 2025, Đảng bộ Học viện Hải quân tập trung lãnh đạo đổi mới công tác giáo dục và đào tạo gắn với yêu cầu xây dựng Quân chủng Hải quân và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Quá trình lãnh đạo đạt nhiều kết quả trong đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, xây dựng đội ngũ nhà giáo, tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo. Qua đó, để lại những kinh nghiệm về quán triệt, cụ thể hóa chủ trương; gắn đào tạo với yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ nhà giáo và đổi mới đồng bộ các yếu tố của quá trình giáo dục, đào tạo.
Từ khóa: Đảng bộ Học viện Hải quân; giáo dục và đào tạo; lãnh đạo; kinh nghiệm.
Abstract: During the 2015–2025 period, the Naval Academy Party Organization focused its leadership on reforming education and training in alignment with the requirements for building the Vietnam People’s Navy and safeguarding national sovereignty over seas and islands. This leadership process achieved significant results in reforming training programs, content, and methods; developing the teaching staff; strengthening facilities; and improving the quality of training. These efforts yielded valuable experience in thoroughly grasping and concretizing relevant guidelines; aligning training with mission requirements; developing the teaching staff; and comprehensively reforming the components of the education and training process.
Keywords: Naval Academy Party Organization; education and training; leadership; experience.
1. Đảng bộ Học viện Hải quân lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo giai đoạn 2015 – 2025
Học viện Hải quân là cơ sở đào tạo cán bộ của Quân chủng Hải quân, thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học, góp phần xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân chủng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Xuất phát từ vị trí, chức năng đó, trong giai đoạn 2015 – 2025, công tác giáo dục và đào tạo luôn được Đảng bộ Học viện xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, gắn trực tiếp với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ Hải quân có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực thực hành và khả năng hoàn thành chức trách được giao.
Trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng bộ Học viện tập trung quán triệt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy Quân chủng Hải quân về nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong các nhà trường quân đội. Trên cơ sở đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Hải quân nhiệm kỳ 2015 – 2020 xác định các mục tiêu, nhiệm vụ về đổi mới giáo dục và đào tạo; đồng thời, Học viện triển khai Chương trình hành động thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011 – 2020”. Việc thực hiện các chủ trương trên tập trung vào đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng thực hành, thực tập và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn đầu ra (Mạnh Hưng, 2016).
Trọng tâm lãnh đạo trong giai đoạn này là từng bước chuyển từ đào tạo chủ yếu theo nội dung sang đào tạo gắn với chuẩn đầu ra và yêu cầu chức trách của cán bộ sau khi tốt nghiệp. Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện chỉ đạo rà soát, điều chỉnh chương trình của các ngành, chuyên ngành; giảm thời lượng lý thuyết, tăng thời gian thực hành, thực tập; đổi mới diễn tập tổng hợp cuối khóa; tăng cường gắn hoạt động đào tạo với thực tiễn huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị Hải quân. Cùng với đổi mới nội dung, chương trình, công tác xây dựng đội ngũ nhà giáo được xác định là một nội dung quan trọng nhằm tạo nguồn lực trực tiếp cho đổi mới giáo dục và đào tạo.
Bước sang nhiệm kỳ 2020 – 2025, yêu cầu xây dựng Quân chủng Hải quân hiện đại trong bối cảnh phát triển nhanh của khoa học, công nghệ quân sự đã đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện Hải quân lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 tiếp tục xác định giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học là những nhiệm vụ trọng tâm. Riêng đối với đội ngũ nhà giáo, Nghị quyết xác định: “Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý có trình độ giác ngộ chính trị và chuyên môn tốt, tâm huyết với nghề nghiệp, với đơn vị” (Chu Ngọc Sáng, 2020). Trên cơ sở nghị quyết đại hội, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện lãnh đạo xây dựng đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩn hóa, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu khoa học, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và kinh nghiệm thực tiễn.
Cùng với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XX, Đảng bộ Học viện triển khai các nghị quyết chuyên đề về xây dựng Học viện hiện đại theo mô hình “Nhà trường thông minh”, gắn đổi mới giáo dục và đào tạo với ứng dụng khoa học – công nghệ, hiện đại hóa cơ sở vật chất, đổi mới phương thức quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục (Nguyễn Văn Lâm, 2021). Chủ trương xây dựng “Nhà trường thông minh” tạo cơ sở để quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo được mở rộng từ chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy sang quản lý đào tạo, xây dựng học liệu, cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ – thông tin trong tổ chức dạy học.
Từ cuối năm 2022, Đảng bộ Học viện tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Việc thực hiện Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW được đặt trong tổng thể thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện nhiệm kỳ 2020 – 2025, tập trung vào tiếp tục đổi mới quy trình, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo; nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý; đẩy mạnh chuyển đổi số; gắn giáo dục, đào tạo với nghiên cứu khoa học và yêu cầu thực tiễn của Quân chủng (Quân ủy Trung ương, 2022).
Sự lãnh đạo của Đảng bộ Học viện còn được cụ thể hóa thường xuyên thông qua hệ thống nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm, năm học và từng quý. Trong Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quý II năm 2024, Đảng ủy Học viện tập trung lãnh đạo “hoàn thành nội dung, chỉ tiêu nhiệm vụ năm học 2023 – 2024”; bồi dưỡng các đội tuyển tham gia hội thi; thực hiện các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; hoàn thành chương trình giáo dục chính trị, giáo dục khoa học xã hội và nhân văn theo kế hoạch (Vĩnh Thành, 2024a). Đến năm học 2024 – 2025, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện trực tiếp quán triệt nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm học, trong đó tiếp tục triển khai các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn của cấp trên về giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học (Vĩnh Thành, 2024b).
Như vậy, trong giai đoạn 2015 – 2025, sự lãnh đạo của Đảng bộ Học viện Hải quân đối với công tác giáo dục và đào tạo được tiến hành tương đối toàn diện, từ xác định mục tiêu, nhiệm vụ trong nghị quyết đại hội đến ban hành, tổ chức thực hiện các nghị quyết chuyên đề, nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm, năm học và từng giai đoạn cụ thể. Nội dung lãnh đạo tập trung vào đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo; xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; gắn đào tạo với thực tiễn đơn vị; tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ – thông tin, chuyển đổi số và từng bước xây dựng Học viện theo mô hình “Nhà trường thông minh”. Đây là cơ sở trực tiếp tạo nên những chuyển biến về chất lượng giáo dục và đào tạo, đồng thời là thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo trong giai đoạn 2015 – 2025.
2. Một số kết quả chủ yếu
Thứ nhất, chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục, đào tạo từng bước được đổi mới theo hướng gắn với chuẩn đầu ra và thực tiễn đơn vị.
Trong những năm đầu của giai đoạn 2015 – 2025, Học viện từng bước giảm thời lượng lý thuyết, tăng thời gian thực hành, thực tập, đổi mới phương pháp dạy và học, thi và kiểm tra. Năm học 2016 – 2017, cùng với hoàn thiện các chương trình đào tạo theo tiếp cận CDIO, Học viện tổ chức huấn luyện thực hành trên biển và sử dụng Tàu buồm 286 – Lê Quý Đôn phục vụ thực tập đường dài, kết hợp hoạt động đối ngoại quân sự. Việc tổ chức thực tập trên biển tạo điều kiện để học viên vận dụng kiến thức chuyên ngành trong môi trường gần với hoạt động thực tế của lực lượng Hải quân (Hoàng Minh, 2018; Lý Nguyên Bình, 2017).
Đến năm học 2023 – 2024, Học viện tiếp tục “xây dựng mới 6 chương trình và hoàn thiện chuẩn đầu ra cho các đối tượng đào tạo” (Vĩnh Thành, 2024b). Nội dung đào tạo được điều chỉnh theo yêu cầu nhiệm vụ, sự phát triển của khoa học, công nghệ quân sự và vũ khí, trang bị kỹ thuật; phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá tiếp tục được đổi mới theo hướng phát huy tính chủ động, khả năng vận dụng và năng lực thực hành của người học.
Thứ hai, chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục từng bước được nâng lên.
Xây dựng đội ngũ nhà giáo được Đảng bộ Học viện xác định là một trong những điều kiện trực tiếp bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa trình độ, nâng cao năng lực ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm thực tiễn được triển khai qua nhiều năm.
Năm học 2016 – 2017, “100% giảng viên của Học viện có trình độ đại học, 64,7% có trình độ sau đại học, trong đó 13,7% trình độ tiến sĩ”; đồng thời có “29 giảng viên giỏi cấp cơ sở, 7 đồng chí được đề nghị công nhận giảng viên giỏi cấp Bộ” (Lý Nguyên Bình, 2017). Đến năm học 2023 – 2024, tỷ lệ cán bộ, giảng viên có trình độ sau đại học đạt “trên 87,7%”, trong đó “trên 20% trình độ tiến sĩ” (Vĩnh Thành, 2024b). Sự phát triển về tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học và tiến sĩ đã phản ánh quá trình chuẩn hóa đội ngũ được tiến hành liên tục trong giai đoạn nghiên cứu.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ – thông tin, chuyển đổi số và xây dựng nguồn học liệu phục vụ đào tạo được đẩy mạnh.
Cùng với đổi mới chương trình, phương pháp dạy học, Học viện chú trọng phát triển hệ thống giáo trình, tài liệu và từng bước số hóa hoạt động giáo dục, đào tạo. Năm 2020, Học viện “nghiệm thu, đưa vào sử dụng 77 giáo trình, tài liệu; số hóa gần 1.000 giáo trình, tài liệu” (Đức Thu, 2020). Đây là cơ sở quan trọng để duy trì hoạt động dạy học trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19 và tiếp tục phát triển các hình thức dạy học dựa trên nền tảng công nghệ.
Đến năm học 2024 – 2025, hoạt động chuyển đổi số được mở rộng hơn: “xây dựng 30 học liệu điện tử, số hóa 47 tài liệu, áp dụng lớp học số, thi và kiểm tra trực tuyến, số hóa quy trình quản lý đào tạo” (Huy Công & Hải Nam, 2025). Chuyển đổi số từ phạm vi xây dựng học liệu từng bước được mở rộng sang tổ chức lớp học, kiểm tra, đánh giá và quản lý đào tạo.
Thứ tư, kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học có những chuyển biến gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng đầu ra.
Năm học 2018 – 2019, “70% học viên khóa 59 đào tạo trình độ đại học tốt nghiệp loại khá, giỏi”, đồng thời “10 cán bộ, giảng viên, học viên bảo vệ luận án tiến sĩ và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp bằng ngoại ngữ” (Nguyễn Xuân Vũ, 2019). Năm 2020, tỷ lệ tốt nghiệp khá, giỏi “tăng hơn 5%”, tỷ lệ học viên cấp phân đội được phong quân hàm trung úy “tăng 8,6% so với năm trước”; Học viện thực hiện “1 đề tài cấp Bộ Quốc phòng, 9 đề tài, 9 sáng kiến cấp ngành và 31 đề tài cấp Học viện” (Đức Thu, 2020).
Năm học 2023 – 2024, kết quả thi tốt nghiệp của các đối tượng có “82,41% khá, giỏi” (Vĩnh Thành, 2024b). Đến năm học 2024 – 2025, tỷ lệ tốt nghiệp khá, giỏi đạt “94,2%”; các đội tuyển Olympic Toán, Hóa học, Tin học, tiếng Anh, tiếng Nga đạt “33 giải cá nhân, 3 giải tập thể”; Học viện thực hiện “12 đề tài, 56 sáng kiến cải tiến kỹ thuật; hoàn thiện 3 giáo trình, chỉnh lý 11 tài liệu chuyên ngành” (Huy Công & Hải Nam, 2025). Các số liệu trên cho thấy hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng học liệu và phát triển năng lực của người học được triển khai ngày càng đồng bộ.
Tổng kết nhiệm kỳ 2020 – 2025, Đại hội đại biểu Đảng bộ Học viện Hải quân lần thứ XXI đánh giá Đảng bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, khoa, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học được đổi mới theo hướng sát thực tiễn (Vũ Duy Hiển, 2025). Những kết quả đạt được trong cả giai đoạn là cơ sở thực tiễn để nhận diện những kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo của Đảng bộ Học viện.
3. Kinh nghiệm lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo
Một là, thường xuyên quán triệt, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Đảng ủy Quân chủng Hải quân phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Học viện.
Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa định hướng đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo ở Học viện Hải quân vừa chịu sự điều chỉnh của những yêu cầu chung đối với giáo dục đại học và hệ thống nhà trường quân đội, vừa chịu sự chi phối trực tiếp của yêu cầu xây dựng Quân chủng Hải quân và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Vì vậy, hiệu quả lãnh đạo trước hết phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các quan điểm, mục tiêu và yêu cầu của cấp trên thành mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và biện pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Học viện.
Do đó, quá trình cụ thể hóa chủ trương phải bảo đảm tính liên tục nhưng không bất biến; mục tiêu, nội dung và giải pháp lãnh đạo cần thường xuyên được rà soát trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ của Quân chủng, sự phát triển của khoa học quân sự, vũ khí, trang bị kỹ thuật và thực tiễn sử dụng cán bộ ở đơn vị. Đồng thời, các nghị quyết lãnh đạo phải xác định rõ trọng tâm, khâu đột phá, trách nhiệm của cơ quan, khoa, đơn vị và cơ chế kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện, qua đó chuyển yêu cầu của nghị quyết thành hoạt động giáo dục và đào tạo cụ thể.
Hai là, lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo phải bám sát yêu cầu xây dựng Quân chủng và thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.
Đặc điểm của Học viện Hải quân đòi hỏi chất lượng đào tạo không chỉ được xác định bằng kết quả học tập trong nhà trường mà phải được kiểm chứng bằng năng lực thực hiện chức trách của học viên sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, gắn nhà trường với đơn vị, gắn lý luận với thực hành, gắn chương trình đào tạo với sự phát triển của vũ khí, trang bị và phương thức tác chiến trên biển là yêu cầu xuyên suốt.
Trong giai đoạn nghiên cứu, định hướng này được thể hiện qua việc tăng cường thực hành, thực tập; đưa học viên tham gia huấn luyện trên tàu; tổ chức thực tập đường dài; đổi mới nội dung thi, kiểm tra theo hướng giải quyết tình huống; cập nhật những nội dung mới từ thực tiễn huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu vào chương trình. Việc thực hiện phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” phản ánh rõ yêu cầu lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị làm một trong những thước đo quan trọng đối với chất lượng đào tạo (Vũ Duy Hiển, 2025).
Từ thực tiễn đó, kinh nghiệm đặt ra là lãnh đạo xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo phải bắt đầu từ yêu cầu của chức danh cán bộ sau khi ra trường. Chuẩn đầu ra cần được xác định trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ, môi trường hoạt động, đặc điểm vũ khí, trang bị và yêu cầu tác chiến của từng chuyên ngành. Đồng thời, cần duy trì cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Học viện với các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng để tiếp nhận thông tin phản hồi về chất lượng cán bộ đã đào tạo, qua đó kịp thời bổ sung, điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo.
Ba là, tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới và sự phát triển của khoa học, công nghệ quân sự.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng trực tiếp chuyển hóa mục tiêu, chương trình và chủ trương đổi mới thành chất lượng của quá trình đào tạo. Sự phát triển rõ rệt về tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học và tiến sĩ trong giai đoạn 2015 – 2025 cho thấy, việc xây dựng đội ngũ đã được triển khai gắn với quá trình chuẩn hóa nhà trường.
Kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ Học viện là xây dựng đội ngũ phải được tiến hành đồng bộ cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng, trong đó không đồng nhất chuẩn hóa đội ngũ với nâng cao trình độ học vấn đơn thuần. Đối với nhà giáo quân đội, đặc biệt là giảng viên các chuyên ngành Hải quân, yêu cầu về kiến thức khoa học phải gắn với kinh nghiệm thực tế, năng lực khai thác vũ khí, trang bị, khả năng nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ, công nghệ – thông tin và phương pháp sư phạm.
Do đó, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cần gắn chặt với nhu cầu phát triển các ngành, chuyên ngành đào tạo; kết hợp đào tạo sau đại học với bồi dưỡng phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thực tế tại đơn vị. Việc luân chuyển, đưa giảng viên đi nghiên cứu thực tế ở các đơn vị Hải quân có ý nghĩa trực tiếp đối với cập nhật kiến thức và kinh nghiệm vào bài giảng. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ kế cận theo từng chuyên ngành, hạn chế sự mất cân đối về độ tuổi, trình độ và kinh nghiệm; phát huy vai trò của cán bộ khoa học có trình độ cao trong hướng dẫn, bồi dưỡng giảng viên trẻ.
Bốn là, lãnh đạo đổi mới đồng bộ chương trình, phương pháp, thi, kiểm tra, nghiên cứu khoa học và các điều kiện bảo đảm, lấy chất lượng thực chất làm tiêu chí đánh giá.
Đổi mới giáo dục và đào tạo chỉ đạt hiệu quả khi được tiến hành đồng bộ. Thay đổi chương trình nhưng phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và điều kiện bảo đảm không thay đổi sẽ hạn chế khả năng đạt chuẩn đầu ra; ngược lại, đầu tư phương tiện, công nghệ nhưng không gắn với đổi mới nội dung và phương pháp cũng không tạo ra chuyển biến thực chất về chất lượng.
Quá trình đổi mới được triển khai trên nhiều mặt: xây dựng chương trình theo chuẩn đầu ra; áp dụng tiếp cận CDIO; tăng thực hành, thực tập; đổi mới thi, kiểm tra; phát triển giáo trình, tài liệu; ứng dụng công nghệ thông tin; số hóa học liệu và quy trình quản lý; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Việc số hóa giáo trình, tài liệu từ năm 2020 và phát triển lớp học số, thi, kiểm tra trực tuyến trong những năm cuối giai đoạn cho thấy, chuyển đổi số từng bước trở thành bộ phận của quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, thay vì chỉ là giải pháp kỹ thuật hỗ trợ.
Theo đó, Đảng bộ phải lãnh đạo xác định đúng mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình đào tạo, tránh đổi mới riêng lẻ từng khâu. Đổi mới chương trình phải gắn với chuẩn đầu ra; đổi mới phương pháp phải gắn với đặc điểm môn học và năng lực người học; đổi mới kiểm tra, đánh giá phải hướng vào khả năng vận dụng kiến thức và thực hành chức trách; nghiên cứu khoa học phải phục vụ trực tiếp cho đào tạo và giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn đơn vị. Cùng với đó, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, học liệu số và hệ thống quản lý phải được thực hiện theo yêu cầu của chương trình đào tạo, bảo đảm tính thiết thực và khả năng khai thác lâu dài.
4. Kết luận
Giai đoạn 2015 – 2025, Đảng bộ Học viện Hải quân đã tập trung lãnh đạo đổi mới công tác giáo dục và đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ nhà giáo và gắn đào tạo với yêu cầu thực tiễn của Quân chủng Hải quân. Thực tiễn lãnh đạo trong giai đoạn này cho thấy, hiệu quả giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào việc cụ thể hóa đúng chủ trương của cấp trên, bám sát yêu cầu nhiệm vụ, chú trọng xây dựng đội ngũ và đổi mới đồng bộ các yếu tố của quá trình đào tạo. Những kinh nghiệm đó vẫn giữ nguyên giá trị đối với nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Học viện Hải quân trong những giai đoạn tiếp theo.
Tài liệu tham khảo:
Chu Ngọc Sáng (17/11/2020). Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Báo Hải quân Việt Nam điện tử. https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/xay-dung-phat-trien-doi-ngu-giang-vien-dap-ung-yeu-cau-nhiem-vu-trong-tinh-hinh-moi
Đức Thu (24/12/2020). Học viện Hải quân: Hội nghị Quân chính năm 2020. Báo Hải quân Việt Nam điện tử. https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/hoc-vien-hai-quan-hoi-nghi-quan-chinh-nam-2020
Hoàng Minh (18/9/2018). Học viện Hải quân: Đổi mới công tác giáo dục – đào tạo đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Báo Hải quân Việt Nam điện tử. https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/hoc-vien-hai-quan-doi-moi-cong-tac-giao-duc-dao-tao-dap-ung-yeu-cau-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-cua-to-quoc-4011-4011-4011
Huy Công & Hải Nam (08/8/2025). Học viện Hải quân đạt nhiều kết quả nổi bật năm học 2024 – 2025. Báo Quân đội nhân dân điện tử. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/nha-truong-quan-doi/hoc-vien-hai-quan-dat-nhieu-ket-qua-noi-bat-nam-hoc-2024-2025-840604
Lý Nguyên Bình (22/8/2017). Học viện Hải quân: Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo. Báo Hải quân Việt Nam điện tử. https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/hoc-vien-hai-quan-doi-moi-manh-me-phuong-phap-giao-duc-dao-tao
Mạnh Hưng (24/11/2016). Học viện Hải quân: Phát triển đội ngũ nhà giáo để đổi mới dạy học. Báo Quân đội nhân dân điện tử. https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/xay-dung-quan-doi/hoc-vien-hai-quan-phat-trien-doi-ngu-nha-giao-de-doi-moi-day-hoc-493391
Nguyễn Văn Lâm (23/4/2021). Xây dựng Học viện Hải quân hiện đại, ngang tầm nhiệm vụ. Tạp chí Quốc phòng toàn dân. https://tapchiqptd.vn/vi/bao-ve-to-quoc/xay-dung-hoc-vien-hai-quan-hien-dai-ngang-tam-nhiem-vu/16996.html
Nguyễn Xuân Vũ (18/9/2019). Học viện Hải quân khai giảng năm học 2019 – 2020. Báo Hải quân Việt Nam điện tử. https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/hoc-vien-hai-quan-khai-giang-nam-hoc-2019-2020-6073-6073
Quân ủy Trung ương (2022). Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW ngày 20/12/2022 về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.
Vĩnh Thành (2024a). Đảng ủy Học viện Hải quân: Quán triệt và triển khai Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quý II. Báo Khánh Hòa điện tử. https://baokhanhhoa.vn/chinh-tri/202404/dang-uy-hoc-vien-hai-quan-quan-triet-va-trien-khai-nghi-quyet-lanh-dao-thuc-hien-nhiem-vu-quy-ii-2520575/
Vĩnh Thành (2024b). Học viện Hải quân tổng kết năm học 2023 – 2024. Báo Khánh Hòa điện tử. https://baokhanhhoa.vn/xa-hoi/202407/hoc-vien-hai-quan-tong-ket-nam-hoc-2023-2024-09410a3/ Vũ Duy Hiển (10/6/2025). Học viện Hải quân nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Báo Quân đội nhân dân điện tử. https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/nha-truong-quan-doi/hoc-vien-hai-quan-nang-cao-chat-luong-giao-duc-dao-tao-dap-ung-yeu-cau-nhiem-vu-831959



