Building the party cell executive committee at the neighborhood and hamlet levels in Ho Chi Minh City in the new context: Current status and solutions
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh,
Ban Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh
Email: hanhng181@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng cơ cấu nhân sự đội ngũ cấp ủy chi bộ khu phố/ấp tại TP. Hồ Chí Minh trong mô hình tổ chức bộ máy tinh gọn mới sau khi sáp nhập, giải thể các cấp trung gian. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực trạng về quy mô chi bộ, cơ cấu độ tuổi, trình độ học vấn và trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ cấp ủy khu phố/ấp, bài viết đánh giá toàn diện những ưu điểm nổi bật, cũng như các vấn đề cốt lõi đang đặt ra hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng, chuẩn hóa trình độ, giải quyết khoảng trống về cán bộ kế thừa và xây dựng đội ngũ cấp ủy khu phố/ấp đáp ứng yêu cầu quản trị địa bàn đô thị trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Chi bộ khu phố/ấp; cấp ủy; bí thư chi bộ; tinh gọn bộ máy; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: This article analyzes the current state of the personnel structure of neighborhood/village Party branch committees in Ho Chi Minh City under the new streamlined organizational model following the merger and dissolution of intermediate levels. By analyzing current data on the size of Party branches, age distribution, educational attainment, and political theory proficiency of neighborhood/village Party committee cadres, the article provides a comprehensive assessment of the notable strengths as well as the core challenges currently facing these committees. Based on this analysis, the article proposes a set of groundbreaking solutions aimed at improving quality, standardizing qualifications, addressing gaps in the succession of cadres, and building a neighborhood/village Party committee cadre corps capable of meeting the requirements of urban area governance in this new phase.
Keywords: Neighborhood and hamlet Party cell; Party Executive Committee; Party cell Secretary; Organizational streamlining; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị theo tinh thần Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Kế hoạch số 249/KH-UBND ngày 30/5/2026 về sắp xếp khu phố, ấp, thôn, khu dân cư và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Sau khi được Ban Thường vụ Thành ủy thống nhất về chủ trương, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Phương án tổng thể số 4961/PA-UBND ngày 10/6/2026 về việc sắp xếp, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư, kết thúc mô hình tổ nhân dân, tổ dân cư tự quản trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh đó, Chi ủy, trực tiếp là Bí thư và Phó Bí thư Chi bộ, giữ vai trò hạt nhân chính trị, là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị ở khu phố, ấp.
Tuy nhiên, bức tranh về cơ cấu đội ngũ cán bộ cấp ủy khu phố, ấp tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay đang bộc lộ nhiều vấn đề như sự chênh lệch đáng kể về độ tuổi, sự không đồng đều về trình độ học vấn, chuyên môn và lý luận chính trị cũng như rào cản trong việc đáp ứng khối lượng công việc quản trị địa bàn rộng sau sáp nhập; một số nhân sự cấp ủy vượt quá độ tuổi quy định (trên 65 tuổi). Xuất phát từ mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong mô hình tổ chức mới và năng lực, đặc điểm thực tế của nhân sự hiện có, bài viết phân tích các dữ liệu về quy mô chi bộ và cơ cấu cán bộ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng và tính bền vững của đội ngũ cấp ủy ở địa bàn dân cư, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện của TP. Hồ Chí Minh, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống chính trị là yêu cầu tất yếu. Chi bộ khu phố, ấp là hạt nhân chính trị trực tiếp triển khai các chủ trương của Đảng đến nhân dân trên địa bàn. Sau khi TP. Hồ Chí Minh sắp xếp lại bộ máy tổ chức khu phố, ấp, mở rộng địa bàn quản lý, đòi hỏi các chi bộ phải đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả sinh hoạt thông qua các nền tảng số như Sổ tay đảng viên điện tử, họp trực tuyến hoặc các kênh thông tin số.
2. Quy mô tổ chức Chi bộ khu phố/ấp tại TP. Hồ Chí Minh sau khi sắp xếp lại bộ máy
TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ lớn của cả nước. Triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), TP. Hồ Chí Minh đã hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy dưới cấp xã, kết thúc mô hình tổ dân phố và tổ nhân dân tự quản. Sau quá trình tái cấu trúc và kiện toàn bộ máy tổ chức, toàn Thành phố hiện đang duy trì 3.925 khu phố, ấp với 177.673 đảng viên (Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Việc sắp xếp, tổ chức lại đã giảm hơn 2.022 khu phố, ấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý trực tiếp từ Đảng ủy phường, xã, thị trấn đến các chi bộ khu phố, ấp. Sau quá trình sắp xếp, quy mô dân cư tại nhiều khu phố, ấp có xu hướng tăng đáng kể. Theo quy định hiện hành, quy mô tối thiểu được xác định theo loại hình và khu vực; riêng tại TP. Hồ Chí Minh, đối với loại hình tương ứng với tổ dân phố, quy mô từ 700 hộ gia đình trở lên đối với phường và 500 hộ gia đình trở lên đối với xã. Thực tế tại một số địa bàn đô thị đông dân, quy mô khu phố sau sắp xếp có thể từ 1.000 đến trên 2.000 hộ gia đình, làm gia tăng đáng kể khối lượng công việc quản lý, vận động và phục vụ người dân ở khu phố, ấp (Chính phủ, 2026; Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2026). Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết: chi bộ khu phố, ấp phải thay đổi phương thức quản lý truyền thống, ứng dụng công nghệ số để duy trì sự lãnh đạo sát sao, liên tục.
Tổng số đảng viên đang sinh hoạt tại các chi bộ khu phố, ấp trên toàn thành phố chiếm hơn 55% tổng số đảng viên của Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh. Trung bình, mỗi chi bộ khu phố, ấp quản lý từ 30 đến 500 đảng viên, trong đó 58% chi bộ có từ 30 đến 100 đảng viên sinh hoạt (Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Bên cạnh đó, các chi bộ còn đảm nhận việc tiếp nhận, quản lý và lấy ý kiến nhận xét định kỳ đối với hàng trăm ngàn đảng viên đang công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp về sinh hoạt nơi cư trú theo Quy định số 213-QĐ/TW ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị. (Quy mô đảng viên của Chi bộ khu phố, ấp trong Hình 1). Áp lực lên cấp ủy về khối lượng công việc hành chính, nắm bắt dư luận, quản lý địa bàn và triển khai chỉ đạo từ Đảng ủy cấp trên dồn trực tiếp xuống cấp ủy, bí thư và phó bí thư chi bộ. Việc sắp xếp, thành lập các chi bộ bảo đảm thống nhất với việc thành lập, sắp xếp khu phố, ấp, thôn, khu dân cư theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu; tên gọi các chi bộ sau sắp xếp theo tên gọi của khu phố, ấp, thôn, khu dân cư sau sắp xếp. Đối với các chi bộ thuộc diện kết thúc hoạt động, đã thực hiện việc chốt danh sách đảng viên, rà soát hồ sơ đảng viên, sổ biên bản sinh hoạt chi bộ, nghị quyết, chương trình công tác, tài liệu lưu trữ, tài chính đảng, đảng phí và tài sản có liên quan để bàn giao cho chi bộ sau sắp xếp và Văn phòng Đảng ủy theo quy định.

3. Thực trạng cơ cấu nhân sự cấp ủy chi bộ khu phố, ấp
3.1. Cơ cấu về độ tuổi
Đội ngũ cấp ủy, trực tiếp là bí thư và phó bí thư chi bộ khu phố, ấp, là lực lượng “bám dân, bám địa bàn”, đóng vai trò cầu nối đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Sau khi TP. Hồ Chí Minh hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy khu phố, ấp, khối lượng công việc và quy mô quản lý tăng lên đáng kể. Dữ liệu thực tế về độ tuổi của đội ngũ cấp ủy, Bí thư, Phó Bí thư Chi bộ khu phố, ấp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm tuổi.

Dữ liệu về nhóm tuổi của nhân sự bí thư, phó bí thư và cấp ủy viên chi bộ khu phố, ấp cho thấy sự phân hóa rõ rệt về độ tuổi giữa các vị trí chức danh: Đội ngũ cấp ủy viên mang tính trẻ hóa cao hơn, nhóm dưới 50 tuổi chiếm ưu thế với 54,8% (2.984 người). Điều này cho thấy các Đảng ủy cơ sở đã chủ động nhất định trong việc đưa lực lượng trẻ, đoàn viên, cán bộ kiêm nhiệm vào cấp ủy để gánh vác các phần việc hành chính và các phong trào. Với vị trí Bí thư, cán bộ trên 60 tuổi chiếm tới 47,9% (1.859 người), trong đó riêng nhóm trên 65 tuổi chiếm tới 24,2% (938 người – cao gần tương đương nhóm trẻ dưới 50 tuổi là 26,9%), trong khi quy mô địa bàn sau khi sắp xếp khu phố, ấp tăng lên gấp 2-3 lần (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Việc phải quản lý từ vài trăm đến hàng ngàn hộ dân, số lượng đảng viên sinh hoạt tại chi bộ lớn cùng khối lượng lớn công việc hành chính đang gây quá tải về mặt thể lực đối với các đồng chí lớn tuổi. Bên cạnh đó, độ tuổi cao cũng là rào cản tự nhiên trong việc tiếp cận và thao tác trên các nền tảng số (như Sổ tay đảng viên điện tử, quản lý dữ liệu dân cư). Nhóm cán bộ từ 51 tuổi trở lên (đặc biệt là lực lượng từ 61 đến trên 65 tuổi chiếm tỷ trọng đáng kể) phần lớn là cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu. Đội ngũ này sở hữu bản lĩnh chính trị vững vàng, bề dày kinh nghiệm công tác, uy tín xã hội cao và có nhiều thời gian dành cho công việc địa phương, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội tại từng khu phố, ấp. Mặc dù lực lượng Phó Bí thư và cấp ủy viên dưới 50 tuổi khá dồi dào (lần lượt chiếm 43,2% và 54,8%), nhưng việc chuyển giao lên vị trí Bí thư Chi bộ vẫn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do nhóm đảng viên trẻ dưới 50 tuổi ở địa bàn dân cư phần lớn đang trong độ tuổi lao động chính, phải mưu sinh hoặc làm việc theo giờ hành chính tại các doanh nghiệp, nên khó sắp xếp thời gian để đảm nhiệm vai trò Bí thư – một vị trí đòi hỏi phải bám trụ địa bàn 24/7 (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026).
3.2. Cơ cấu về trình độ học vấn và trình độ lý luận chính trị
Trình độ học vấn của đội ngũ cấp ủy, bí thư, phó bí thư khu phố, ấp phản ánh năng lực tiếp thu thông tin, xử lý văn bản và quản trị địa bàn trong tình hình mới và trình độ lý luận chính trị phản ánh bản lĩnh chính trị, trình độ tư duy lý luận, năng lực phương pháp luận và năng lực cụ thể hoá quản trị trong thực tiễn. Dữ liệu về trình độ học vấn và trình độ lý luận chính trị của nhân sự bí thư, phó bí thư và chi ủy viên của chi bộ khu phố, ấp như sau:


Về trình độ học vấn: tỷ lệ cán bộ có trình độ trên trung học phổ thông chiếm tỷ lệ áp đảo với 95,6% toàn đội ngũ (trong đó bí thư đạt 97,0%, phó bí thư đạt 96,0% và cấp ủy viên đạt 94,4%). Điều này phản ánh lợi thế lớn của địa bàn TP. Hồ Chí Minh – nơi có nguồn nhân lực hưu trí và cán bộ kiêm nhiệm có học vấn tốt, tạo nền tảng thuận lợi cho việc tiếp thu văn bản, quy trình số hóa và quản trị công việc. Tuy nhiên, vẫn còn 590 người (4,4%) có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông (tập trung nhiều nhất ở nhóm cấp ủy viên với 329 người, chiếm 5,6%) (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Đây là rào cản lớn khi triển khai các nhiệm vụ đòi hỏi kỹ năng hành chính số và xử lý văn bản phức tạp.
Về trình độ lý luận chính trị: vị trí bí thư có nền tảng lý luận chính trị vững vàng nhất, với 58,2% đạt từ trung cấp lý luận chính trị trở lên (trong đó, cao cấp lý luận chính trị đạt 14,2% với 550 người – cao gấp gần 3 lần so với phó bí thư và gấp gần 4 lần so với cấp ủy viên). Điều này xuất phát từ việc nhiều bí thư chi bộ là cán bộ, sĩ quan lực lượng vũ trang hoặc là lãnh đạo cơ quan nhà nước đã nghỉ hưu. Ở nhóm phó bí thư, có tới 63,1% (2.284 người) mới dừng lại ở trình độ sơ cấp lý luận chính trị trở xuống; ở nhóm cấp ủy, tới 71,0% (4.149 người) mới dừng lại ở trình độ sơ cấp lý luận chính trị trở xuống. Tính chung toàn đội ngũ, tỷ lệ cán bộ có trình độ sơ cấp lý luận chính trị trở xuống chiếm tới 60,4% (8.057/13.349 người). Khi lực lượng bí thư lớn tuổi (giàu kinh nghiệm và trình độ lý luận chính trị cao) xin nghỉ vì lý do sức khỏe, việc kiện toàn vị trí bí thư từ nguồn phó bí thư hoặc cấp ủy viên sẽ gặp vướng mắc lớn về tiêu chuẩn lý luận chính trị (do 63,1% phó bí thư và 71% cấp ủy viên chưa đạt chuẩn trung cấp lý luận chính trị) (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Trình độ lý luận chính trị chủ yếu ở mức sơ cấp làm hạn chế khả năng phân tích, định hướng tư tưởng, nhạy bén chính trị và kỹ năng xử lý các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự, tranh chấp đất đai hay khiếu kiện tại địa bàn dân cư sau khi sáp nhập khu phố/ấp.
Đối với những nơi có khó khăn về nguồn nhân sự, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo hoặc những nơi có đặc điểm riêng về tình hình của địa phương, địa bàn dân cư chưa bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ học vấn hoặc độ tuổi theo quy định, theo số liệu thống kê có 590 trường hợp chưa bảo đảm về trình độ học vấn, có 2.095 trường hợp chưa bảo đảm về độ tuổi, Ban Thường vụ đảng ủy xã, phường, đặc khu xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, uy tín, năng lực, sức khỏe, khả năng quy tụ và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn để từng bước chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cấp ủy viên (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Việc sắp xếp, thành lập chi bộ khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn các xã, phường, đặc khu được triển khai nghiêm túc, đúng tiến độ theo chỉ đạo của Trung ương và Thành ủy; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, liên tục của tổ chức đảng ở địa bàn dân cư. Các bước rà soát, xây dựng đề án, lập phương án nhân sự được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Việc chỉ định cấp ủy được thực hiện công khai, dân chủ, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; ưu tiên lựa chọn cán bộ có năng lực, uy tín, kinh nghiệm và am hiểu địa bàn, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Quá trình thực hiện nhận được sự đồng thuận, thống nhất cao của cấp ủy, đảng viên và Nhân dân; công tác chuyển sinh hoạt đảng, bàn giao hồ sơ, tài chính đảng và các điều kiện hoạt động được thực hiện chặt chẽ, không để xảy ra gián đoạn hoạt động của các chi bộ. Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai vẫn còn một số khó khăn như: địa bàn quản lý của một số khu phố, ấp, thôn, khu dân cư sau sắp xếp có quy mô lớn hơn, số lượng đảng viên đông (1 chi bộ có 513 đảng viên; có 280 chi bộ có từ 100 đảng viên trở lên); việc ổn định tổ chức ban đầu, phân công nhiệm vụ, quản lý hồ sơ và bố trí địa điểm sinh hoạt tại một số chi bộ cần tiếp tục được hoàn thiện (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Một số chức danh cấp ủy chưa kiện toàn đầy đủ, còn khuyết theo cơ cấu được phê duyệt; một số cấp ủy chi bộ khu phố, ấp, thôn, khu dân cư chưa bảo đảm về độ tuổi và trình độ học vấn theo quy định (có 2.095 trường hợp trên 65 tuổi và 590 trường hợp trình độ học vấn dưới trung học phổ thông), do khó khăn về nguồn nhân sự cần tiếp tục được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn để từng bước chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cấp ủy viên (Ban Tổ chức Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026).
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, chú trọng công tác đào tạo, chuẩn hóa lý luận chính trị cho lực lượng phó bí thư và cấp ủy viên.
Cần xây dựng kế hoạch chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị theo lộ trình và theo từng nhóm đối tượng, trong đó ưu tiên phó bí thư và cấp ủy viên trẻ, có năng lực, uy tín và triển vọng phát triển thành bí thư chi bộ trong các nhiệm kỳ tiếp theo. Trên cơ sở rà soát toàn bộ đội ngũ, cấp ủy cấp trên cần hình thành cơ sở dữ liệu về độ tuổi, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, thời gian tham gia công tác Đảng, kết quả đánh giá hằng năm và khả năng phát triển của từng cá nhân.
Việc đào tạo từ đó không còn mang tính bình quân hoặc dàn trải mà chuyển sang đào tạo có mục tiêu, có thứ tự ưu tiên và gắn với vị trí cán bộ dự kiến đảm nhiệm. Một vấn đề cần đặc biệt quan tâm là việc đổi mới phương thức tổ chức đào tạo. Đặc thù của đội ngũ phó bí thư và cấp ủy viên khu phố, ấp là phần lớn hoạt động kiêm nhiệm; nhiều người đồng thời làm việc tại doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, kinh doanh hoặc thực hiện các trách nhiệm gia đình. Nếu chương trình đào tạo chỉ được tổ chức tập trung trong giờ hành chính, điều này sẽ tạo ra rào cản đáng kể đối với khả năng tham gia của nguồn cán bộ trẻ. Vì vậy, cần nghiên cứu tổ chức các chương trình đào tạo Trung cấp lý luận chính trị theo hướng linh hoạt nhưng không hạ thấp chuẩn đầu ra, chẳng hạn, bố trí lớp vào cuối tuần, ngoài giờ hành chính hoặc kết hợp phù hợp giữa học trực tiếp và ứng dụng công nghệ số trong những nội dung được phép triển khai. Sự linh hoạt về hình thức tổ chức phải đi đôi với việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng, bảo đảm tính hệ thống, tính chính trị, tính khoa học và khả năng vận dụng vào thực tiễn của chương trình đào tạo.
Chuẩn hóa lý luận chính trị cần được tích hợp trực tiếpvào quy hoạch nguồn bí thư chi bộ khu phố/ấp. Đối với những phó bí thư, cấp ủy viên đã được xác định là nguồn kế cận chức danh Bí thư, kế hoạch đào tạo trung cấp lý luận chính trị cần được xây dựng ngay từ đầu nhiệm kỳ hoặc tối thiểu phải được xây dựng đủ sớm trước thời điểm chuẩn bị nhân sự cho nhiệm kỳ kế tiếp.
Đào tạo lý luận chính trị không đơn thuần là nâng tỷ lệ cán bộ có bằng trung cấp lý luận chính trị mà sâu xa hơn là hình thành một cơ chế phát triển cán bộ có tính dự báo: phát hiện sớm, quy hoạch sớm, đào tạo sớm, thử thách qua thực tiễn, chuẩn hóa trước khi bố trí vào chức danh cao hơn. Nếu được thực hiện đồng bộ, giải pháp này sẽ góp phần tạo ra đội ngũ phó bí thư và cấp ủy viên có nền tảng chính trị vững vàng, năng lực tư duy và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn tốt hơn, đồng thời xây dựng nguồn bí thư chi bộ khu phố, ấp ổn định, kế thừa và có chất lượng cho các nhiệm kỳ tiếp theo. Đây chính là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng ngay từ địa bàn dân cư, nơi trực tiếp đưa chủ trương của Đảng vào đời sống xã hội.
Thứ hai, áp dụng mô hình bí thư giàu kinh nghiệm – phó bí thư/cấp ủy viên trẻ thạo công nghệ.
Từ góc độ quản trị tổ chức, mô hình “Bí thư giàu kinh nghiệm – Phó Bí thư/cấp ủy viên trẻ thạo công nghệ” có thể được xem như một dạng phân công lãnh đạo bổ trợ, trong đó năng lực chính trị, kinh nghiệm xã hội và uy tín của cán bộ lớn tuổi được kết hợp với năng lực công nghệ, tốc độ xử lý thông tin và khả năng thích ứng của cán bộ trẻ. Mô hình này giúp chuyển từ cách tổ chức công việc dựa chủ yếu vào một cá nhân bí thư sang cơ chế lãnh đạo tập thể có sự chuyên môn hóa tương đối, qua đó giảm áp lực công việc, nâng cao hiệu quả điều hành và tăng khả năng thích ứng của chi bộ trước những yêu cầu mới. Theo hướng đó, bí thư chi bộ, đặc biệt là những đồng chí có nhiều năm công tác và có uy tín trong cộng đồng dân cư, nên tập trung vào các nhiệm vụ đòi hỏi chiều sâu kinh nghiệm và năng lực xử lý quan hệ xã hội, như định hướng chính trị, công tác tư tưởng, chủ trì sinh hoạt chi bộ, nắm bắt tình hình đảng viên và nhân dân, hòa giải các mâu thuẫn phức tạp, vận động quần chúng và duy trì sự đoàn kết nội bộ. Đây là những lĩnh vực mà “vốn kinh nghiệm” và “vốn xã hội” của đội ngũ bí thư lớn tuổi có giá trị đặc biệt, khó có thể thay thế đơn thuần bằng năng lực kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ.
Để mô hình vận hành hiệu quả, cần củng cố tổ công nghệ số cộng đồng tại khu phố, ấp hoặc theo cụm địa bàn. Thành phần có thể huy động từ đoàn viên thanh niên, sinh viên, cán bộ trẻ, bộ đội xuất ngũ và các cá nhân có kỹ năng công nghệ đang sinh sống tại địa phương. Tổ hỗ trợ không thay thế trách nhiệm của cấp ủy mà thực hiện chức năng hỗ trợ kỹ thuật như nhập liệu, hướng dẫn sử dụng phần mềm, số hóa hồ sơ, chuẩn bị thiết bị họp trực tuyến và xử lý các vấn đề kỹ thuật phát sinh. Việc hình thành mạng lưới hỗ trợ tại chỗ sẽ giúp thu hẹp khoảng cách số trong đội ngũ cán bộ cơ sở, đồng thời tránh tình trạng chuyển đổi số trở thành áp lực cá nhân đối với các bí thư lớn tuổi. Về phương diện quản trị nhân sự, mô hình này còn có ý nghĩa như một cơ chế “kèm cặp kế nhiệm” được tổ chức. Phó bí thư và cấp ủy viên trẻ được giao việc thực chất, được tham gia xử lý công việc cùng bí thư và được tiếp cận trực tiếp với quá trình ra quyết định ở khu phố, ấp. Qua đó, việc chuẩn bị nguồn Bí thư không chỉ dựa trên bằng cấp hoặc các tiêu chuẩn hình thức, mà còn dựa trên quá trình tích lũy kinh nghiệm thực tế, khả năng phối hợp và mức độ trưởng thành trong việc thực hiện nhiệm vụ. Đây là một hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu bảo đảm tính kế thừa và tính liên tục của đội ngũ cán bộ trong điều kiện hiện nay, khi nhiều Bí thư thuộc nhóm tuổi cao.
Từ góc độ chính sách, cần xem việc phân công nhiệm vụ theo thế mạnh là một nguyên tắc tổ chức, thay vì giao việc đồng đều cho tất cả các thành viên trong cấp ủy. Mỗi chi bộ có thể xây dựng ma trận nhiệm vụ, xác định rõ người chủ trì, người phối hợp và nhóm công việc ưu tiên theo năng lực của từng thành viên. Đồng thời, kết quả về hỗ trợ công nghệ, quản lý hồ sơ số, xử lý thông tin và tham gia điều hành cần được đưa vào tiêu chí đánh giá phó bí thư và cấp ủy viên trẻ, qua đó tạo động lực để đội ngũ kế cận chủ động đảm nhận trách nhiệm thay vì chỉ đóng vai trò hỗ trợ mang tính hình thức. Như vậy, giá trị cốt lõi của mô hình không nằm ở sự phân biệt giữa “người lớn tuổi” và “người trẻ” mà ở việc tái cấu trúc cách thức vận hành của cấp ủy theo hướng bổ trợ năng lực, chia sẻ trách nhiệm và kế thừa liên thế hệ. Nếu được tổ chức bài bản, mô hình sẽ đồng thời giải quyết 3 vấn đề: giảm áp lực cho bí thư lớn tuổi, nâng cao năng lực số của chi bộ và tạo môi trường thực tiễn để rèn luyện đội ngũ cán bộ kế cận. Đây có thể trở thành một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, tính thích ứng và khả năng quản trị của chi bộ khu phố, ấp trong bối cảnh địa bàn dân cư ngày càng rộng, yêu cầu công việc ngày càng phức tạp và chuyển đổi số ngày càng trở thành một bộ phận hữu cơ của công tác Đảng ở khu phố, ấp.
Thứ ba, đổi mới quy hoạch, tạo nguồn và thu hút cán bộ trẻ tham gia cấp ủy khu phố, ấp.
Quy hoạch cấp ủy khu phố, ấp không nên chỉ được hiểu là việc lập danh sách nhân sự dự kiến cho nhiệm kỳ tiếp theo mà phải trở thành một quá trình liên tục gồm các khâu như: phát hiện nguồn, đánh giá tiềm năng, đào tạo, bồi dưỡng, giao việc thử thách, theo dõi kết quả, chuẩn hóa tiêu chuẩn, bố trí sử dụng. Cách tiếp cận này giúp tạo ra một “nguồn dự trữ cán bộ” đủ rộng, có khả năng lựa chọn và thay thế khi cần thiết, đồng thời nâng cao tính chủ động của tổ chức đảng trước biến động nhân sự tại địa bàn dân cư.
Cần mở rộng không gian tìm kiếm và phát hiện nguồn cấp ủy, khắc phục tình trạng nguồn nhân sự chủ yếu tập trung trong phạm vi những người đã tham gia lâu năm vào hệ thống chính trị ở khu phố, ấp. Thực tiễn cho thấy tại địa bàn dân cư hiện tồn tại nhiều nhóm đảng viên có trình độ, kỹ năng quản trị và tiềm năng phát triển nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Trong đó có thể chú trọng cán bộ, công chức cấp xã, phường được phân công hoặc đang sinh hoạt tại địa bàn; lực lượng công an chính quy phụ trách khu vực; bộ đội xuất ngũ; cán bộ các tổ chức chính trị – xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh; các đảng viên trẻ đang làm việc trong doanh nghiệp, khu vực dịch vụ, nhân viên văn phòng hoặc làm việc từ xa.
Đặc biệt, cần tránh khuynh hướng lựa chọn cán bộ trẻ chỉ vì yếu tố tuổi đời hoặc khả năng sử dụng công nghệ. Cán bộ trẻ chỉ thực sự trở thành nguồn kế cận bền vững khi được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn, có khả năng tham gia công tác quần chúng, giải quyết các mối quan hệ xã hội và thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư. Trên cơ sở đó, cần thiết lập cơ chế phát hiện và tạo nguồn từ sớm, thay vì chờ đến thời điểm chuẩn bị đại hội chi bộ mới tiến hành rà soát nhân sự. Mỗi chi bộ có thể xây dựng danh sách đảng viên tiềm năng theo từng nhóm tuổi, nghề nghiệp và năng lực; đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể để kiểm chứng khả năng thực hiện. Những đảng viên trẻ có triển vọng nên được tạo điều kiện tham gia tổ công tác, phụ trách chuyên đề, hỗ trợ chuyển đổi số, công tác dân vận, hoạt động cộng đồng hoặc các nhiệm vụ phối hợp với chính quyền và các đoàn thể. Quá trình giao việc này vừa giúp tổ chức đảng có cơ sở đánh giá cán bộ dựa trên sản phẩm và kết quả thực tế, vừa giúp nguồn cán bộ trẻ từng bước tích lũy kinh nghiệm trước khi được giới thiệu tham gia cấp ủy.
Thứ tư, chuẩn hóa học vấn và hoàn thiện chính sách đãi ngộ tương xứng.
Việc chuẩn hóa học vấn cần được tiếp cận theo hướng hỗ trợ phát triển, thay vì chỉ xem đây là một yêu cầu hành chính mang tính loại trừ. Phần lớn cán bộ khu phố, ấp là những người đã có quá trình công tác, có uy tín trong cộng đồng và đóng góp thực chất cho địa phương; do đó, giải pháp phù hợp không phải là thay thế cơ học những trường hợp chưa đạt chuẩn học vấn, mà là tạo điều kiện để họ có cơ hội hoàn thiện tiêu chuẩn theo một lộ trình khả thi. Cấp ủy và chính quyền địa phương cần phối hợp với các trung tâm giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục phù hợp để xây dựng kế hoạch vận động, tư vấn và tổ chức các lớp bổ túc văn hóa theo phương thức linh hoạt về thời gian, ưu tiên buổi tối, cuối tuần hoặc theo hình thức học phù hợp với người đang tham gia công tác và lao động.
Song song với chuẩn hóa học vấn, cần đặt vấn đề hoàn thiện chính sách đãi ngộ theo hướng phản ánh tốt hơn sự khác biệt về quy mô và cường độ công việc giữa các khu phố, ấp. Trong thực tế, khối lượng nhiệm vụ của một Bí thư hoặc Phó Bí thư tại địa bàn vài trăm hộ dân rất khác so với địa bàn có hàng nghìn hộ, nhiều chung cư cao tầng, dân số biến động lớn hoặc số lượng đảng viên nhiều. Nếu cơ chế phụ cấp được áp dụng tương đối đồng đều, không tính đến quy mô quản lý và mức độ phức tạp của công việc, có thể xuất hiện khoảng cách giữa trách nhiệm thực tế và mức hỗ trợ nhận được. Do đó, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế phân tầng mức hỗ trợ hoặc phụ cấp theo nhóm tiêu chí khách quan, chẳng hạn: quy mô dân cư; số hộ gia đình; số lượng đảng viên; phạm vi địa bàn; mức độ đô thị hóa; mật độ chung cư, khu nhà trọ hoặc khu dân cư đặc thù; khối lượng nhiệm vụ hành chính và công tác vận động quần chúng. Về bản chất, đây là cách tiếp cận theo nguyên tắc “trách nhiệm và khối lượng công việc cao hơn cần được phản ánh tương xứng trong cơ chế đãi ngộ”. Cách thiết kế này không chỉ tạo sự công bằng tương đối giữa các địa bàn mà còn góp phần nâng cao động lực thực thi nhiệm vụ và khả năng giữ chân các cán bộ có năng lực.
Cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ hợp lý đối với cước viễn thông, dữ liệu di động hoặc Internet phục vụ nhiệm vụ, trên cơ sở chức danh, yêu cầu công việc và khả năng cân đối ngân sách. Việc hỗ trợ này cần được hiểu là chi phí hạ tầng cho hoạt động quản trị cơ sở, không đơn thuần là một khoản phúc lợi cá nhân. Khi chuyển đổi số trở thành phương thức hoạt động thường xuyên của tổ chức đảng, việc yêu cầu cán bộ sử dụng công cụ số nhưng không bảo đảm tối thiểu các điều kiện kỹ thuật và chi phí vận hành có thể làm giảm hiệu quả triển khai, nhất là đối với các cán bộ lớn tuổi hoặc có thu nhập hạn chế.
Như vậy, chuẩn hóa học vấn và cải thiện chính sách đãi ngộ cần được xem là hai hợp phần của cùng một chiến lược nâng cao chất lượng đội ngũ cấp ủy khu phố, ấp. Một mặt, cần tạo điều kiện để cán bộ từng bước hoàn thành chuẩn học vấn, nâng cao năng lực tiếp cận tri thức và công nghệ; mặt khác, phải bảo đảm rằng trách nhiệm, thời gian và nguồn lực cá nhân mà họ dành cho công việc được ghi nhận ở mức hợp lý. Cách tiếp cận này sẽ tạo nên một quá trình: chuẩn hóa năng lực, nâng cao yêu cầu nhiệm vụ, cải thiện điều kiện thực thi, tăng động lực cống hiến, và thu hút nguồn nhân lực tốt hơn. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng đội ngũ cấp ủy khu phố, ấp vừa đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn, vừa có đủ khả năng thích ứng với những thay đổi trong quản trị đô thị và công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới.
5. Kết luận
Việc triển khai mô hình khu phố, ấp mới tại TP. Hồ Chí Minh là chủ trương đột phá nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực quản trị đô thị. Chấm dứt cấp trung gian giúp hệ thống chính trị vận hành trực tiếp, song cũng đặt lên vai Chi bộ khu phố, ấp – đặc biệt là đội ngũ Cấp ủy, Bí thư và Phó Bí thư áp lực rất lớn về quy mô địa bàn, số lượng đảng viên và khối lượng công việc phát sinh. Từ dữ liệu hiện trạng của cán bộ cấp ủy tại khu phố, ấp cho thấy bức tranh đa chiều: bên cạnh ưu thế về mặt bằng học vấn, bản lĩnh và kinh nghiệm dày dặn của đội ngũ, thực tiễn đang đối mặt với 4 vấn đề lớn. Đó là tình trạng lớn tuổi ở vị trí người đứng đầu; khoảng trống về trình độ lý luận chính trị trong lực lượng kế thừa; mâu thuẫn giữa áp lực quản lý địa bàn rộng với sức khỏe và năng lực công nghệ của cán bộ lớn tuổi, trong khi vẫn còn nhiều cán bộ chưa đạt trình độ học vấn. Để giải quyết triệt để các vấn đề này, cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp: (1) Đột phá đào tạo, chuẩn hóa trung cấp lý luận chính trị cho lực lượng phó bí thư và cấp ủy viên trẻ; (2) Phân công linh hoạt theo thế mạnh; (3) Mở rộng nguồn quy hoạch và linh hoạt thời gian sinh hoạt chi bộ để thu hút cán bộ trẻ; (4) Hoàn thiện chính sách phụ cấp tương xứng với quy mô dân cư và hỗ trợ công cụ làm việc số. Xây dựng đội ngũ cấp ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ khu phố, ấp có năng lực, có phẩm chất, có bản lĩnh chính trị, có cơ cấu độ tuổi hợp lý và trình độ đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại chính là chìa khóa cốt lõi để giữ vững hạt nhân chính trị ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Tổ chức Trung ương (2026). Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW ngày 20/6/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về việc sắp xếp, thành lập tổ chức đảng ở thôn, tổ dân phố.
Ban Tổ chức, Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo kết quả sắp xếp, thành lập tổ chức đảng ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư và TP. Hồ Chí Minh.
Bộ Chính trị (2026). Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 về việc sắp xếp thôn, tổ, dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở xã, ở thôn, tổ dân phố.
Chính phủ (2026). Nghị định số 185/2026/ND-CP ngày 26/5/2026 quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 249/KH-UBND ngày 30/5/2026 về việc sắp xếp khu phố, ấp, thôn, khu dân cư và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 về việc sắp xếp dân phố, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách dành cho người hoạt động chuyên nghiệp ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.
Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo tình hình hoạt động của tổ chức cơ sở đảng năm 2026 tại TP. Hồ Chí Minh.
Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Kết luận số 430-TB/TU ngày 10/6/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy.



