Quản lý nhà nước về giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan nhà nước hiện nay

State management of national defense and security education in state agencies in contemporary Vietnam

TS. Lê Quốc Bang
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: Banglq60@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội là bộ phận quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền hành chính hiện đại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đặt ra yêu cầu mới đối với công tác này. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và những yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới nội dung, phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng giáo dục, bồi dưỡng trong tình hình mới.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; giáo dục quốc phòng và an ninh; cơ quan nhà nước; tổ chức chính trị – xã hội.

Abstract: Education and training on national defense and security within state agencies and political-social organizations are an important component of national defense and security education, contributing to raising the awareness and sense of responsibility among cadres, civil servants, public employees, and workers regarding the mission of building and defending the Fatherland. Against the backdrop of a volatile global and regional situation, where traditional and non-traditional security challenges intertwine, and given the requirements for building a socialist rule-of-law state, a modern administrative system, and improving the quality of the cadre corps, new demands have been placed on this work. This article clarifies the theoretical foundation, current status, and requirements for state management of national defense and security education and training within state agencies and political-social organizations; based on this, it proposes several solutions aimed at innovating the content and methods of management, enhancing the effectiveness and efficiency of state management, and improving the quality of education and training in the new context.

Keywords: state administration; national defense and security education; state agencies; political and social organizations.

1. Đặt vấn đề

Giáo dục quốc phòng và an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, đồng thời là nội dung quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh không chỉ nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về quốc phòng, an ninh mà còn góp phần nâng cao năng lực nhận thức, trách nhiệm tham mưu, tổ chức thực hiện và vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh xác định giáo dục quốc phòng và an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, là nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân. Luật cũng xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh. Hiện nay, Văn phòng Quốc hội đã công bố Văn bản hợp nhất số 48/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026 về Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, tạo cơ sở pháp lý hiện hành để tổ chức thực hiện thống nhất công tác này (Văn phòng Quốc hội, ngày 17/3/2026).

Đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, yêu cầu giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh có tính đặc thù. Đây là lực lượng trực tiếp tham gia hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước trên các lĩnh vực. Nhận thức và năng lực của đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh vì vậy có tác động trực tiếp đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự và xây dựng hệ thống chính trị.

Trong những năm qua, công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan, tổ chức đã từng bước đi vào nền nếp; đối tượng bồi dưỡng ngày càng được mở rộng; chương trình, nội dung từng bước được chuẩn hóa; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị được xác định cụ thể hơn. Thông tư số 172/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng đã ban hành chương trình, nội dung và chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng khác nhau trong hệ thống chính trị và toàn dân; đến năm 2025 (Thông tư số 172/2020/TT-BQP của Bộ Quốc phòng được ban hành vào ngày 30/12/2020 (có hiệu lực thi hành từ ngày 16/02/2021 và thay thế Thông tư số 38/2014/TT-BQP), các nội dung này được hệ thống hóa trong Văn bản hợp nhất số 82/VBHN-BQP (được Bộ Quốc phòng ban hành ngày 09 tháng 10 năm 2025 Hợp nhất Thông tư quy định về chương trình, nội dung; chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh).

Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, công tác quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh vẫn cần tiếp tục đổi mới. Một số nội dung còn thiên về phổ biến kiến thức, chưa gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ của từng nhóm đối tượng; phương thức tổ chức còn nặng về truyền đạt một chiều; công tác kiểm tra, đánh giá có nơi chưa phản ánh đầy đủ khả năng vận dụng kiến thức; việc ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý chất lượng chưa đồng đều.

Do đó, nghiên cứu đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

2. Vị trí, vai trò, đặc diểm của quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh

Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý về giáo dục quốc phòng và an ninh; Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương có chức năng phối hợp liên ngành, tham mưu, tư vấn cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác này trên phạm vi cả nước. Quyết định số 405/QĐ-TTg ngày 09/3/2026 của Thủ tương Chính phủ tiếp tục xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương và Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu (Thủ tướng Chính phủ, 2026).

2.1. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước

Thứ nhất, bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong phạm vi cả nước. Do đặc thù của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, việc xác định mục tiêu, nội dung cơ bản, đối tượng và yêu cầu bồi dưỡng phải có sự thống nhất. Quản lý nhà nước tạo cơ sở để hạn chế tình trạng thực hiện tùy tiện, không đồng đều giữa các cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, bảo đảm sự gắn kết giữa giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, kiến thức quốc phòng, an ninh cần được vận dụng trong quá trình tham mưu, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện pháp luật, xử lý tình huống và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Vì vậy, quản lý nhà nước phải định hướng để nội dung bồi dưỡng không tách rời thực tiễn hoạt động của từng nhóm đối tượng.

Thứ ba, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có nhận thức và trách nhiệm đầy đủ về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, công chức giữ vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Do đó, nhận thức đúng về quốc phòng, an ninh giúp cán bộ có khả năng xem xét đầy đủ hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; giữa hội nhập quốc tế với bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữa phát triển công nghệ với bảo đảm an ninh, an toàn.

Thứ tư, tạo cơ chế phối hợp giữa các chủ thể. Giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh liên quan đến nhiều cơ quan, ngành, lĩnh vực. Vì vậy, quản lý nhà nước có vai trò điều phối, phân định trách nhiệm và bảo đảm sự phối hợp giữa cơ quan quân sự, cơ quan công an, cơ quan quản lý giáo dục, cơ quan tổ chức – cán bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

2.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội

Một là, đối tượng bồi dưỡng đa dạng, có vị trí và chức trách khác nhau.

Đối tượng giáo dục, bồi dưỡng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội không đồng nhất. Có cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ tham mưu; công chức, viên chức; người lao động và những nhóm đối tượng khác theo quy định. Mỗi nhóm có chức năng, nhiệm vụ và mức độ trách nhiệm khác nhau đối với quốc phòng, an ninh. Vì vậy, quản lý nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc phân loại đối tượng để quản lý và tổ chức bồi dưỡng phù hợp.

Không thể sử dụng một nội dung, một phương pháp và một hình thức tổ chức giống nhau cho tất cả đối tượng. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cần chú trọng năng lực nhận định, quyết định và chỉ đạo; cán bộ tham mưu cần chú trọng năng lực phân tích, dự báo, tham mưu; cán bộ chuyên môn cần chú trọng khả năng vận dụng kiến thức quốc phòng, an ninh vào lĩnh vực công tác.

Hai là, nội dung có tính liên ngành và liên thông cao.

Kiến thức quốc phòng, an ninh không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự hoặc an ninh theo nghĩa truyền thống. Nội dung bồi dưỡng liên quan đến chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, đối ngoại, khoa học – công nghệ, thông tin, môi trường và phòng thủ dân sự. Do đó, quản lý nhà nước phải bảo đảm tính liên thông giữa các lĩnh vực. Nội dung bồi dưỡng cần giúp cán bộ nhận thức được mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ; giữa xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học – công nghệ với xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh.

Ba là, gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức.

Mỗi vị trí việc làm cần có nhận thức chung về quốc phòng, an ninh. Cán bộ làm công tác tài chính cần nhận thức được yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh trong quản lý nguồn lực. Cán bộ làm công tác quy hoạch, xây dựng phải nhận thức được yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong không gian phát triển. Cán bộ làm công tác thông tin, truyền thông phải có nhận thức về an toàn thông tin, an ninh mạng và trách nhiệm quản lý thông tin.Vì vậy, quản lý nhà nước cần tạo điều kiện để nội dung giáo dục, bồi dưỡng có phần kiến thức chung thống nhất và phần kiến thức vận dụng theo vị trí công tác.

3. Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh

3.1. Những kết quả chủ yếu đã đạt được

Một là, hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý từng bước được hoàn thiện.  Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Nghị định số 139/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2014/NĐ-CP, ngày 25/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh (Chính phủ, 2020).

Đặc biệt, Văn bản hợp nhất số 53/VBHN-BQP ngày 09/9/2025 đã hệ thống hóa quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, tạo thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức trong nghiên cứu và triển khai thực hiện (Bộ Quốc phòng, 2025).

Hai là, chương trình, nội dung bồi dưỡng từng bước được chuẩn hóa. Thông tư số 172/2020/TT-BQP ngày 30/12/2020 của Bộ quốc phòng đã ban hành chương trình, nội dung và chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh (Bộ quốc phòng, 2020). Đây là cơ sở quan trọng để thống nhất nội dung bồi dưỡng đối với các nhóm đối tượng.

Ba là, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức từng bước được xác định rõ hơn. Cơ chế Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp góp phần tạo sự phối hợp giữa các cơ quan trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện.

Bốn là, nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về quốc phòng, an ninh từng bước được nâng lên.

Thông qua các chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, hội nghị, hội thảo, sinh hoạt chuyên môn và các hình thức tuyên truyền, cán bộ có thêm cơ sở nhận thức về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong mối quan hệ với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng hệ thống chính trị.

3.2. Một số hạn chế

Thứ nhất, quản lý ở một số nơi còn thiên về hành chính, chưa thật sự chú trọng quản lý chất lượng và kết quả đầu ra. Việc lập danh sách, triệu tập, tổ chức lớp, theo dõi chuyên cần và cấp giấy chứng nhận là những khâu cần thiết nhưng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng thực tế. Cần chuyển mạnh sang đánh giá người học thực sự đạt được gì sau bồi dưỡng.

Thứ hai, việc gắn nội dung bồi dưỡng với chức trách, nhiệm vụ chưa đồng đều. Có nội dung còn mang tính phổ biến chung, trong khi yêu cầu vận dụng đối với từng nhóm cán bộ, từng ngành, từng lĩnh vực chưa được thể hiện đầy đủ.

Thứ ba, phương pháp bồi dưỡng ở một số nơi chưa thật sự đổi mới. Hình thức thuyết trình một chiều vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Việc tổ chức thảo luận, xử lý tình huống, nghiên cứu vấn đề thực tiễn và trao đổi kinh nghiệm quản lý chưa được khai thác đầy đủ.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ số trong quản lý và tổ chức bồi dưỡng chưa đồng đều. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về đối tượng đã bồi dưỡng, nội dung, kết quả, thời hạn cập nhật kiến thức và quá trình tham gia chưa được thực hiện thống nhất.

Thứ năm, công tác kiểm tra, đánh giá còn thiên về mức độ hoàn thành khóa học. Trong khi đó, quản lý hiện đại cần quan tâm hơn đến khả năng vận dụng kiến thức của người học vào thực hiện chức trách.

3.3. Những yêu cầu mới đặt ra đối với quản lý nhà nước

Một là, quản lý phải gắn với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay hoạt động trong môi trường quản trị nhà nước ngày càng phức tạp, với sự tác động đồng thời của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, kinh tế số, xã hội số và những biến đổi nhanh chóng của môi trường an ninh. Do đó, kiến thức quốc phòng, an ninh cần được tiếp cận rộng hơn, không chỉ tập trung vào các vấn đề quân sự truyền thống mà cần giúp cán bộ nhận thức được các vấn đề an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ dữ liệu và những vấn đề khác theo yêu cầu thực tiễn và chương trình được cấp có thẩm quyền quy định.

Hai là, gắn giáo dục, bồi dưỡng với chức năng quản lý nhà nước.

Mục tiêu cao nhất của bồi dưỡng đối với cán bộ trong cơ quan nhà nước không chỉ là tích lũy kiến thức mà phải nâng cao khả năng vận dụng vào công tác. Vì vậy, chương trình cần tăng cường những tình huống quản lý, yêu cầu tham mưu, phân tích chính sách và xử lý các vấn đề có liên quan đến quốc phòng, an ninh.

Ba là, Đổi mới theo hướng quản trị dựa trên dữ liệu.

Quản lý hiện đại cần chuyển từ quản lý thủ công sang quản lý bằng dữ liệu. Cơ quan quản lý cần nắm được: ai thuộc diện phải bồi dưỡng; ai đã hoàn thành; nội dung nào đã được học; kết quả đạt được; thời điểm cần cập nhật kiến thức; nhóm đối tượng nào cần bổ sung; chất lượng của từng cơ sở bồi dưỡng. Đây là cơ sở để hạn chế trùng lặp, bỏ sót và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

4. Một số giải pháp và kiến nghị

4.1. Một số giải pháp

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp.

Cần tiếp tục rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh với pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức bộ máy. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong chuỗi quản lý: cơ quan quản lý nhà nước; Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh; cơ quan quân sự; cơ quan tổ chức – cán bộ; cơ quan, đơn vị cử cán bộ đi bồi dưỡng; cơ sở tổ chức bồi dưỡng và người học. Quy định rõ trách nhiệm sẽ hạn chế tình trạng “khoán trắng” cho cơ sở bồi dưỡng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan cử cán bộ đi học.

Thứ hai, đổi mới quản lý theo hướng lấy chất lượng và kết quả làm trung tâm.

Cần chuyển từ tư duy “quản lý lớp học” sang “quản lý chất lượng bồi dưỡng”. Để thực hiện điều đó, cơ quan quản lý cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá theo các nhóm: Một là, chất lượng đầu vào: xác định đúng đối tượng, đúng nhu cầu. Hai là, chất lượng quá trình: chương trình, giảng viên, phương pháp, học liệu và điều kiện bảo đảm. Ba là, chất lượng đầu ra: mức độ tiếp thu, khả năng phân tích và vận dụng kiến thức. Bốn là, hiệu quả sau bồi dưỡng: mức độ vận dụng vào công tác thực tiễn. Đó là những bước chuyển quan trọng từ quản lý theo thủ tục sang quản lý theo kết quả.

Thứ ba, phân loại đối tượng và cá thể hóa nội dung bồi dưỡng.

 Cần tiếp tục thực hiện nguyên tắc “đúng đối tượng, đúng nội dung, đúng yêu cầu”. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần chú trọng kiến thức chiến lược, năng lực nhận định tình hình, lãnh đạo, chỉ đạo và xử lý các vấn đề liên ngành. Đối với cán bộ tham mưu, cần chú trọng phương pháp phân tích, dự báo, tham mưu và tổ chức thực hiện. Đối với cán bộ chuyên môn, cần chú trọng khả năng vận dụng kiến thức quốc phòng, an ninh vào lĩnh vực phụ trách. Đối với cán bộ, công chức, viên chức nói chung, cần bảo đảm kiến thức nền tảng và trách nhiệm công dân, trách nhiệm công vụ đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, đổi mới phương pháp giáo dục, bồi dưỡng.

Phương pháp truyền đạt kiến thức vẫn cần thiết đối với những nội dung có tính hệ thống, nhưng cần kết hợp với các phương pháp tích cực. Có thể tăng cường: thảo luận chuyên đề; phân tích tình huống; nghiên cứu vấn đề thực tiễn; tọa đàm chuyên gia; trao đổi kinh nghiệm; học tập kết hợp trực tiếp và trực tuyến; nghiên cứu tình huống theo chức danh, vị trí việc làm. Đặc biệt, cần xây dựng những tình huống quản lý có tính liên ngành để người học vận dụng kiến thức quốc phòng, an ninh vào giải quyết vấn đề cụ thể. Phương pháp này góp phần chuyển từ “học để biết” sang “học để vận dụng”.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý.

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh. Hệ thống dữ liệu cần phục vụ tối thiểu bốn nhóm thông tin: (1) Thông tin về đối tượng; (2) Thông tin về quá trình bồi dưỡng; (3) Thông tin về kết quả; (4) Thông tin phục vụ kiểm tra, đánh giá và cập nhật kiến thức. Cùng với đó, xây dựng kho học liệu số, ngân hàng câu hỏi, chuyên đề cập nhật và hệ thống hỗ trợ tự học. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, phân quyền truy cập và bảo vệ các thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước theo quy định.

Thứ sáu, đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá.

Kiểm tra, đánh giá đúng, thực chất kết quả bồi dưỡng. Không nên chỉ đánh giá khả năng ghi nhớ kiến thức mà cần quan tâm đến khả năng phân tích, nhận diện vấn đề và vận dụng. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, có thể sử dụng các tình huống yêu cầu đưa ra phương án chỉ đạo. Với cán bộ tham mưu, có thể đánh giá thông qua sản phẩm tham mưu hoặc xử lý tình huống. Đối với cán bộ chuyên môn, có thể đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào lĩnh vực công tác.

Như vậy, kiểm tra trở thành công cụ quản lý chất lượng chứ không chỉ là thủ tục kết thúc khóa học.

Thứ bảy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý.

Đội ngũ giảng viên là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng bồi dưỡng. Vì vậy, cần chú trọng cả kiến thức chuyên môn, phương pháp sư phạm và hiểu biết thực tiễn. Không chỉ nắm vững những vấn đề cơ bản về quốc phòng, an ninh mà còn phải hiểu biết hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, cơ chế hoạch định và thực thi chính sách công.

Đối với cán bộ quản lý, cần nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch, quản lý chương trình, quản lý dữ liệu, kiểm tra chất lượng và tổ chức phối hợp liên ngành.

Thứ tám, tăng cường thanh tra, kiểm tra gắn với bảo đảm chất lượng.

Đây là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng, an ninh. Cần chuyển mạnh từ kiểm tra chủ yếu về hồ sơ, thủ tục sang kiểm tra cả chất lượng thực chất kết quả quá trình học tập.

Nội dung kiểm tra cần tập trung vào: việc xác định đúng đối tượng để kiểm tra; thực hiện đúng chương trình; chất lượng của đội ngũ giảng viên; điều kiện bảo đảm; phương pháp tổ chức; kết quả học tập; việc cấp chứng nhận; việc thực hiện trách nhiệm sau bồi dưỡng. Đồng thời, cần tăng cường sơ kết, tổng kết để nhận diện những mô hình phù hợp, những vấn đề còn bất cập và điều chỉnh chính sách.

4.2. Một số kiến nghị

Một là, đối với cơ quan quản lý nhà nước. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về giáo dục quốc phòng, an ninh; thống nhất tiêu chí quản lý chất lượng; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá; từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ quản lý.

Hai là, đối với các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và tổ chức chính trị – xã hội. Cần đưa công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh vào kế hoạch công tác thường xuyên; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu; chủ động rà soát đối tượng thuộc diện bồi dưỡng và gắn kết quả bồi dưỡng với yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Ba là,đối với các cơ sở tổ chức bồi dưỡngtiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp; tăng cường nghiên cứu tình huống; phát triển học liệu số; nâng cao chất lượng đội ngũ; thực hiện đánh giá thực chất và tăng cường phản hồi sau mỗi khóa học.

Bốn là, đối với người học. Cần xác định việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh không phải là yêu cầu mang tính thủ tục mà là một bộ phận của năng lực thực thi công vụ. Mỗi cán bộ cần chủ động cập nhật kiến thức, liên hệ với lĩnh vực công tác và vận dụng vào thực tiễn.

5. Kết luận

Quản lý nhà nước về giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội là một bộ phận quan trọng của quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh. Hiệu quả của công tác này có quan hệ trực tiếp với chất lượng, trách nhiệm và năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu đối với quản lý nhà nước không chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ đối tượng được tham gia bồi dưỡng, đủ chương trình và đúng quy trình, mà phải chuyển mạnh sang quản lý theo mục tiêu, chất lượng, kết quả và hiệu quả vận dụng. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị nhà nước và đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Trọng tâm đổi mới cần tập trung vào hoàn thiện thể chế; phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; quản lý theo đối tượng và vị trí việc làm; đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp; đẩy mạnh chuyển đổi số; xây dựng cơ sở dữ liệu; đổi mới kiểm tra, đánh giá; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình. Điều quan trọng phải nhận thức đúng rằng chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh phải được thể hiện ở khả năng vận dụng vào thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chứ không chỉ ở việc hoàn thành một khóa học hoặc đạt một kết quả kiểm tra. Khi kiến thức quốc phòng, an ninh được tích hợp vào quá trình thực thi công vụ, tham mưu chính sách và quản lý nhà nước, công tác giáo dục, bồi dưỡng mới thực sự phát huy vai trò trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và củng cố sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Quốc phòng (2025). Văn bản hợp nhất số 84/VBHN-BQP về chương trình khung giáo dục quốc phòng và an ninh cho người học trong trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 39/2026/TT-BGDĐT ngày 12/5/2026 quy định quy trình biên soạn, thẩm định và ban hành giáo trình giáo dục quốc phòng và an ninh trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.
Bộ Quốc phòng (2020). Thông tư số 172/2020/TT-BQP ngày 30/12/2020 ban hành chương trình, nội dung; chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.
Bộ Quốc phòng (2025). Văn bản hợp nhất số 82/VBHN-BQP ngày 09/10/2025, ban hành chương trình, nội dung; chương trình khung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.
Bộ Quốc phòng (2025). Văn bản hợp nhất số 53/VBHN-BQP ngày 09/9/2025 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh.
Quốc hội (2013, 2026). Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013; Văn bản hợp nhất số 48/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026.

Chính phủ (2020). Nghị định số 139/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2014/NĐ-CP.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 405/QĐ-TTg ngày 09/3/2026 về thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp.