Institutional framework for scientific research, technology and innovation in education and training
ThS. Phạm Thị Hà
Ban Quản lý các dự án Bộ Giáo dục và Đào tạo
Email: ptha.bqlcda@moet.gov.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Nhiều chủ trương lớn của Đảng cùng các đạo luật mới đã tạo ra bước chuyển đáng kể về thể chế cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tiễn, vẫn còn những điểm nghẽn về cơ chế tài chính, quyền sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chính sách nhân lực. Trên cơ sở phân tích chủ trương của Đảng, khung pháp lý hiện hành và số liệu thực tiễn, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra các hạn chế và đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, góp phần đưa các cơ sở giáo dục, nhất là cơ sở giáo dục đại học, thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Từ khóa: Thể chế; khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; giáo dục và đào tạo; tự chủ đại học; điểm nghẽn về cơ chế tài chính.
Abstract: Science, technology, and innovation are key drivers for improving the quality of education and training and developing a high-quality workforce in the context of digital transformation and international integration. Several major Party policies and new laws have brought about significant institutional changes in this sector. However, in practice, there are still bottlenecks regarding financial mechanisms, intellectual property rights, the commercialization of research results, and human resources policies. Based on an analysis of the Party’s policies, the current legal framework, and empirical data, this article evaluates the achievements made, identifies limitations, and proposes a set of solutions to improve the institutional framework, thereby helping educational institutions—particularly universities—truly become centers of research and innovation.
Keywords: Institutional framework; science and technology; innovation; education and training; university autonomy; bottlenecks in the financial mechanism.
1. Đặt vấn đề
Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã nhấn mạnh yêu cầu: “Tập trung đầu tư hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và nâng cao tiềm lực nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục, đào tạo” (Bộ Chính trị, 2024a).
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030 tạo bước đột phá toàn diện trong phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo và thực hiện thành công chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết yêu cầu đầu tư mạnh cho giáo dục đại học; các trường đại học phải trở thành những chủ thể nghiên cứu khoa học mạnh, là trung tâm của đổi mới sáng tạo, gắn kết hữu cơ giữa nhiệm vụ đào tạo với hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ (Bộ Chính trị, 2024b).
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” tiếp tục nhấn mạnh việc tập trung xây dựng pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống (trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khai thác nguồn lực dữ liệu, tài sản mã hóa…) để hình thành các động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới và các ngành công nghiệp mới (Bộ Chính trị, 2025a).
Đồng thời, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới, trong đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn chặt với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Bộ Chính trị, 2025b).
Cụ thể hóa các chủ trương trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại Quyết định số 1164/QĐ-BGDĐT ngày 26/4/2025. Bên cạnh nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học, Kế hoạch đặt ra một cách cụ thể yêu cầu hoàn thiện thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở này; hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hợp tác nghiên cứu giữa cơ sở giáo dục đại học với doanh nghiệp; phát triển các hình thức liên doanh, liên kết với đối tác trong và ngoài nước để đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao kết quả nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025).
2. Thực trạng thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
2.1. Những kết quả đạt được
Trong những năm qua, thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo từng bước được hoàn thiện thông qua Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các luật sửa đổi, bổ sung và văn bản hướng dẫn thi hành. Có thể khái quát những kết quả chủ yếu trên các phương diện sau:
Một là, khung pháp lý được hoàn thiện nhanh, chuyển mạnh từ “quản lý quy trình” sang “quản lý kết quả”.
Trước năm 2022, hoạt động khoa học và công nghệ trong trường đại học chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy định chung của Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và một số điều khoản trong Luật Giáo dục Đại học. Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ là văn bản pháp lý đầu tiên quy định riêng về hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở giáo dục đại học. Nghị định đã xác lập khung pháp lý cho nhóm nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh; cho phép cơ sở giáo dục đại học thành lập doanh nghiệp theo pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ khi đủ điều kiện; cho phép khai thác tài sản trí tuệ hình thành từ nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước; đồng thời đưa kết quả hoạt động khoa học và công nghệ thành tiêu chí đánh giá, xếp loại giảng viên (Chính phủ, 2022).
Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội lần đầu tiên cho phép thực hiện khoán chi đối với kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ đã thực hiện đúng quy trình, quy định thì được miễn trách nhiệm dân sự khi gây ra thiệt hại và không phải hoàn trả kinh phí đã sử dụng nếu kết quả không đạt như dự kiến; tổ chức khoa học và công nghệ công lập được thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu (Quốc hội, 2025a). Đây là những vấn đề mà các nhà khoa học trong trường đại học đã kiến nghị trong nhiều năm.
Tiếp đó, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã luật hóa và mở rộng các cơ chế thí điểm nói trên. Luật đặt đổi mới sáng tạo ngang hàng với khoa học và công nghệ; chuyển phương thức quản lý từ kiểm soát quy trình sang quản lý kết quả, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu; xác định phát triển các trường đại học thành trung tâm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nhân tài; lần đầu tiên dành một chương riêng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp (Quốc hội, 2025b; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025b).
Luật Giáo dục đại học năm 2025, tiếp tục khẳng định quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học trong tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với trách nhiệm giải trình; đồng thời, đặt mục tiêu đào tạo ở cả ba trình độ: đại học, thạc sĩ, tiến sĩ gắn với năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp (Quốc hội, 2025c). Cùng thời điểm, Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ bổ sung chính sách thúc đẩy cơ chế hợp tác, chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ giữa Nhà nước, nhà khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp (Quốc hội, 2025d).
Nhìn tổng thể, chỉ trong khoảng một năm, những “nút thắt” lớn nhất về tư duy quản lý đã được tháo gỡ, được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng mà các giai đoạn trước chưa có được.
Hai là, tự chủ đại học được mở rộng, tạo dư địa cho hoạt động nghiên cứu.
Từ Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập (Chính phủ, 2014), đến Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Quốc hội, 2018) và Nghị định số 99/2019/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành (Chính phủ, 2019), tự chủ đại học đã đi từ thí điểm thành nguyên tắc chung. Các cơ sở giáo dục đại học được chủ động hơn trong việc thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu của trường), đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học của giảng viên và người học. Nhiều trường đại học trọng điểm được đầu tư phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hiện đại, tạo điều kiện hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, nâng cao năng lực nghiên cứu độc lập và công bố quốc tế.
Ba là, năng lực nghiên cứu và công bố khoa học của các cơ sở giáo dục đại học tăng rõ rệt.
Các cơ sở giáo dục đại học hiện là lực lượng nghiên cứu chủ yếu của cả nước. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khoảng 85% số công bố của Việt Nam trên các cơ sở dữ liệu Web of Science và Scopus đến từ các cơ sở giáo dục đại học (Giáo dục Việt Nam, 2026). Riêng năm 2024, các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố 16.889 bài báo khoa học, gồm 7.640 bài báo quốc tế và 9.249 bài báo trong nước; đội ngũ tham gia nghiên cứu gồm 256 giáo sư, 2.143 phó giáo sư, 8.563 tiến sĩ và 14.314 thạc sĩ (Báo Thanh Niên, 2025).
Theo kết quả xếp hạng SARAP năm 2025, Việt Nam có 14.880 bài báo trên cơ sở dữ liệu Web of Science, tăng khoảng 18,63% so với năm trước; các trường đại học đóng góp phần lớn, trong đó dẫn đầu là Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 1.965 bài; Đại học Quốc gia Hà Nội, 1.196 bài; Trường Đại học Duy Tân, 910 bài (Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, 2026). Ở cấp từng cơ sở, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố 2.003 bài báo quốc tế trong năm 2024, tăng 17,06% so với năm 2023 (Báo Dân trí, 2025).
Điều đáng ghi nhận là định hướng đánh giá cũng đang thay đổi, không dừng ở việc “đếm số bài báo”, mà chuyển sang đánh giá tác động thực tế và khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Đây là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần quản lý theo kết quả của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Bốn là, vị thế quốc tế được nâng lên và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học bước đầu hình thành.
Bảng xếp hạng QS World University Rankings 2026 có 10 cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam, trong đó Đại học Quốc gia Hà Nội ở nhóm 761-770, tăng hơn 100 bậc so với năm trước (Báo Nhân Dân, 2025). Ở cấp quốc gia, Việt Nam duy trì vị trí thứ 44/139 nền kinh tế về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, đứng thứ 3 trong ASEAN sau Singapore và Malaysia (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025a). Trong đó, đóng góp của khu vực đại học, nhất là về nguồn nhân lực và kết quả tri thức, là một cấu phần không thể thiếu.
Một số đại học lớn đã chủ động xây dựng hạ tầng đổi mới sáng tạo theo mô hình gắn nghiên cứu với sản phẩm. Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập Khu công nghệ cao và Trung tâm đổi mới sáng tạo, Viện Công nghệ bán dẫn và vật liệu tiên tiến, triển khai bốn chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm và đề xuất 17 sản phẩm công nghệ chiến lược trong các lĩnh vực chip bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo và robot (Báo Dân trí, 2025). Những mô hình này cho thấy khi được trao quyền chủ động, cơ sở giáo dục đại học có thể tổ chức nghiên cứu theo hướng tập trung, có địa chỉ ứng dụng rõ ràng.
Năm là, hoạt động nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp của học sinh, sinh viên được quan tâm hơn.
Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” (Thủ tướng Chính phủ, 2016) và Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” (Thủ tướng Chính phủ, 2017) đã tạo khung chính sách để các nhà trường tổ chức không gian khởi nghiệp, cuộc thi ý tưởng, câu lạc bộ nghiên cứu. Đến nay, khoảng 30 – 35% sinh viên tại các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tham gia nghiên cứu khoa học, tập trung ở sinh viên năm thứ ba trở lên (Báo Thanh Niên, 2025). Đây là nguồn nhân lực kế cận quan trọng cho các nhóm nghiên cứu trong trường đại học.
2.2. Những điểm nghẽn và hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành thể chế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo còn bộc lộ nhiều bất cập.
Thứ nhất, về nguồn lực tài chính và cơ chế quản lý tài chính đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học là một trọng tâm đầu tư, đặc biệt đối với các trường đại học trọng điểm, đại học vùng và các chương trình nghiên cứu chiến lược cấp quốc gia. Dù vậy, ngân sách nhà nước dành cho khu vực này còn hạn chế. Giai đoạn 2013 – 2024, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đại học là 173.476 tỷ đồng, chiếm 5,2% tổng chi cho giáo dục; trong đó, chi thường xuyên là 134.303 tỷ đồng, bằng 4,9% tổng chi thường xuyên cho giáo dục, chi đầu tư là 39.172 tỷ đồng, bằng 6,5% tổng chi đầu tư cho giáo dục. Năm 2013, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đại học là 19.271 tỷ đồng (9,3% chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo, tương đương 0,43% GDP); đến năm 2024 giảm còn 12.689 tỷ đồng (3,4% chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo, tương đương 0,12% GDP) (Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, 2023; Chính phủ, 2025).
Ngân sách nhà nước đã tài trợ cho các đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp quốc gia về cải cách giáo dục, phát triển chương trình giáo dục phổ thông mới, xây dựng sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, so với yêu cầu của giai đoạn mới, mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục vẫn còn khiêm tốn; tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển trong giáo dục chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng chi sự nghiệp khoa học và công nghệ (Chính phủ, 2025). Phân bổ nguồn lực còn dàn trải, chưa tập trung cho lĩnh vực then chốt hoặc trung tâm nghiên cứu có tiềm năng tạo đột phá. Hiệu quả chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy và quản lý giáo dục còn thấp; nhiều đề tài dừng ở mức báo cáo nghiệm thu, chưa thành sản phẩm ứng dụng hoặc chính sách cụ thể.
Từ thực tiễn công tác quản lý dự án đầu tư trong ngành giáo dục, tác giả nhận thấy một điểm ít được đề cập: chu kỳ đầu tư công cho phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu (từ chủ trương, lập dự án, thẩm định đến lựa chọn nhà thầu) thường kéo dài vài năm, trong khi công nghệ và nhu cầu nghiên cứu thay đổi rất nhanh. Khi thiết bị về đến nơi, đề bài nghiên cứu ban đầu đôi khi đã thay đổi. Cơ chế khoán chi theo Nghị quyết số 193/2025/QH15 mới giải quyết phần kinh phí thực hiện nhiệm vụ, còn phần đầu tư hạ tầng nghiên cứu vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công và đấu thầu với quy trình chung. Nói cách khác, vẫn chưa có thể chế và cơ chế quản lý tài chính đặc thù, cơ chế thanh quyết toán phù hợp với tính rủi ro và độ trễ của hoạt động nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, về thể chế quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, quy định tại khoản 3a Điều 8 chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ là “thúc đẩy cơ chế hợp tác, chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ giữa Nhà nước, nhà khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp” (Quốc hội, 2025d). Tuy nhiên, đây mới là quy định mang tính nguyên tắc. Trên thực tế, chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế phân chia lợi nhuận giữa các chủ thể trong quan hệ pháp lý này, nhất là khi kết quả nghiên cứu được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Việc định giá tài sản trí tuệ là tài sản công vẫn phức tạp, khiến nhiều trường e ngại khi đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Bên cạnh đó, còn thiếu các công cụ thể chế đủ mạnh, như ưu đãi thuế đủ hấp dẫn hoặc quy định rõ ràng về hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm, để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại cơ sở giáo dục.
Thứ ba, thể chế tự chủ đại học chưa đồng bộ, nhất là về công tác nhân sự.
Cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ nhà khoa học giỏi theo hướng không phụ thuộc vào biên chế và quy trình tuyển dụng viên chức thông thường vẫn chưa có khung pháp lý đầy đủ. Các trường muốn mời nhà khoa học xuất sắc, nhất là người Việt Nam ở nước ngoài hoặc chuyên gia quốc tế, thường gặp khó khăn về hình thức hợp đồng, mức thu nhập và thủ tục. Bên cạnh đó, chưa có quy định cụ thể về cơ chế và mức chi giải thưởng, bồi dưỡng, hỗ trợ tổ chức các cuộc thi chuyên môn cho học sinh, sinh viên trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, giáo dục STEM, STEAM… nói riêng và các hoạt động giáo dục khác nói chung. Hệ quả là nhiều cơ sở giáo dục phải vận dụng các định mức chi chung, không phản ánh đúng tính chất của hoạt động.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện và triển khai cơ chế khoán chi theo đầu ra đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thông qua xã hội hóa, hợp tác công – tư, khuyến khích doanh nghiệp và quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia trên cơ sở chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và khu vực tư nhân. Để cơ chế khoán chi không chỉ dừng trên văn bản, cần sớm ban hành hướng dẫn thống nhất về tiêu chí sản phẩm đầu ra, phương thức nghiệm thu và thanh quyết toán cho các nhiệm vụ do cơ sở giáo dục chủ trì, tránh tình trạng mỗi cơ quan tài chính, kiểm toán hiểu một cách. Đối với đầu tư hạ tầng nghiên cứu, nên nghiên cứu cơ chế rút gọn quy trình đầu tư công cho dự án phòng thí nghiệm, thiết bị khoa học quy mô vừa và nhỏ, cho phép cơ sở giáo dục đại học tự chủ được chủ động mua sắm theo kế hoạch nghiên cứu nhiều năm. Song song, cần bố trí ngân sách cho nghiên cứu khoa học trong giáo dục theo hướng tập trung, có ưu tiên, thay vì chia đều theo đầu đơn vị.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực khoa học và công nghệ. Cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực khoa học và công nghệ nên theo năng lực và kết quả, không ràng buộc vào biên chế. Tập trung xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu xuất sắc trong các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu theo ngành, lĩnh vực ưu tiên; gắn đào tạo sau đại học với hoạt động nghiên cứu; chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trẻ, chất lượng cao.
Cụ thể, cần cho phép cơ sở giáo dục đại học tự chủ được ký hợp đồng làm việc có thời hạn với nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước với mức thu nhập do nhà trường quyết định từ nguồn thu hợp pháp, không bị giới hạn bởi thang bảng lương viên chức. Việc đánh giá giảng viên nên tính đầy đủ khối lượng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu sinh, tương đương với giờ giảng. Nhà nước có thể hỗ trợ kinh phí ổn định trong ba đến năm năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh được lựa chọn qua cạnh tranh, kèm điều kiện về sản phẩm đầu ra. Với nhà khoa học trẻ, cần có quỹ khởi đầu sự nghiệp để họ không phải chờ đợi nhiều năm mới được chủ trì đề tài.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia và địa phương, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp. Hình thành và phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm, không gian sáng tạo và phòng thí nghiệm mở. Thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tiếp cận vốn, thị trường và tài sản trí tuệ; áp dụng ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng đối với doanh nghiệp đầu tư thực chất cho nghiên cứu và phát triển. Trong hệ sinh thái này, trường đại học cần được xác định là một chủ thể trung tâm chứ không chỉ là nơi cung cấp nhân lực. Cần quy định rõ cơ chế để trường đại học góp vốn bằng tài sản trí tuệ, sử dụng cơ sở vật chất cho vườn ươm và không gian khởi nghiệp mà không bị coi là sử dụng tài sản công sai mục đích. Các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp sau năm 2025 nên chuyển từ hỗ trợ phong trào sang hỗ trợ có chọn lọc những dự án có sản phẩm, có khách hàng. Đồng thời, cần cơ chế để doanh nghiệp đặt hàng đề tài, cùng đầu tư phòng thí nghiệm chung với trường và được tính chi phí này vào chi phí được trừ khi tính thuế.
Thứ tư, đơn giản hóa, chuẩn hóa thủ tục định giá, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cho phép tổ chức khoa học và công nghệ chủ động khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ hình thành từ kết quả nghiên cứu, bảo đảm phân chia lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, tổ chức chủ trì và nhà khoa học; khuyến khích đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp và thị trường. Để cụ thể hóa khoản 3a Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, cần ban hành văn bản hướng dẫn về tỷ lệ phân chia lợi nhuận tối thiểu cho tác giả, nhóm nghiên cứu khi kết quả được thương mại hóa, tương tự cách nhiều quốc gia đã làm để tạo động lực rõ ràng cho nhà khoa học. Thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì cần được rút gọn, tiến tới giao mặc định. Mỗi cơ sở giáo dục đại học lớn nên có bộ phận chuyên trách chuyển giao công nghệ với cơ chế tài chính riêng, được giữ lại một phần nguồn thu để tái đầu tư cho nghiên cứu.
Thứ năm, hoàn thiện quy định về quản lý, phát triển các sản phẩm số trong giáo dục và đào tạo. Bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ và khả năng liên thông, phục vụ chuyển đổi số. Hiện nay, học liệu số, phần mềm quản lý, nền tảng học trực tuyến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy và học được phát triển bởi nhiều chủ thể khác nhau, nhưng chưa có quy định đầy đủ về tiêu chuẩn chất lượng, cách xác định quyền tác giả của giảng viên đối với học liệu số và cơ chế chia sẻ giữa các cơ sở. Cần xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật và chuẩn dữ liệu dùng chung cho toàn ngành để các hệ thống có thể kết nối, tránh mỗi trường một nền tảng, dữ liệu phân tán. Cùng với đó, cần quy định rõ trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của người học và nguyên tắc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục, phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 66-NQ/TW về tạo hành lang pháp lý cho các vấn đề mới (Bộ Chính trị, 2025a).
Thứ sáu, quy định mức chi và cơ chế khen thưởng. Đối với các giải thưởng, cuộc thi học thuật, khoa học kỹ thuật, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, giáo dục STEM và giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên cần có quy định mức chi và cơ chế khen thưởng rõ ràng. Ưu tiên các hoạt động có tác động phát hiện, bồi dưỡng và phát triển nhân tài khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn riêng về nội dung chi, mức chi cho các cuộc thi khoa học kỹ thuật, khởi nghiệp, giáo dục STEM ở các cấp học, thay vì để cơ sở giáo dục vận dụng định mức chi hội nghị, hội thảo như hiện nay. Mức chi cần đủ để trang trải chi phí làm sản phẩm mẫu, mua vật tư thí nghiệm và hỗ trợ giáo viên hướng dẫn. Bên cạnh khen thưởng, nên có chính sách tiếp nối như ưu tiên xét tuyển, học bổng, hỗ trợ ươm tạo cho học sinh, sinh viên có sản phẩm đạt giải, để giải thưởng thực sự trở thành bước khởi đầu của một con đường nghiên cứu.
4. Kết luận
Hoàn thiện thể chế về nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là yêu cầu tiên quyết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia trong giai đoạn mới. Những đạo luật và nghị quyết ban hành trong năm 2025 đã tạo ra nền móng pháp lý khác về chất so với trước, nhất là cơ chế khoán chi, chấp nhận rủi ro và mở rộng tự chủ đại học. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định ở tầm luật và hướng dẫn cụ thể ở tầng nghị định, thông tư vẫn còn lớn, đặc biệt về tài chính đặc thù, phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ và chính sách nhân sự.
Vì vậy, trọng tâm của giai đoạn tới không còn là ban hành thêm nguyên tắc, mà là làm cho các nguyên tắc đã có trở nên khả thi trong từng quy trình cụ thể. Khi những rào cản này được tháo gỡ, sức sáng tạo của đội ngũ giảng viên, học sinh, sinh viên, học viên sẽ được phát huy; các cơ sở giáo dục, nhất là cơ sở giáo dục đại học, sẽ thực sự trở thành trung tâm tri thức và nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính (2023). Công văn số 1405-CV/BCSĐ ngày 17/8/2023 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính.
Báo Nhân Dân (2025). 10 đại học Việt Nam được xếp hạng QS WUR 2026. https://nhandan.vn/10-dai-hoc-viet-nam-duoc-xep-hang-qs-wur-2026-post888106.html
Báo Thanh Niên (2025). Các đơn vị trực thuộc Bộ GD-ĐT công bố hơn 16.800 bài báo khoa học năm 2024. https://thanhnien.vn/cac-don-vi-truc-thuoc-bo-gd-dt-cong-bo-hon-16800-bai-bao-khoa-hoc-nam-2024-185250314134456827.htm.
Báo Dân trí (2025). Năm 2024 Đại học Quốc gia Hà Nội công bố hơn 2.000 bài báo quốc tế, tăng 17%. https://dantri.com.vn/giao-duc/nam-2024-dh-quoc-gia-ha-noi-cong-bo-hon-2000-bai-bao-quoc-te-tang-17-20250515172139331.htm
Bộ Chính trị (2024a). Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2024b). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Quyết định số 1164/QĐ-BGDĐT ngày 26/4/2025 ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025a). Việt Nam duy trì hạng 44 thế giới, đứng thứ 3 ASEAN về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu. https://mst.gov.vn/viet-nam-duy-tri-hang-44-the-gioi-dung-thu-3-asean-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-197250918094942386.htm
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025b). 10 điểm mới trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. https://mst.gov.vn/10-diem-moi-trong-luat-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-197251017225832389.htm
Chính phủ (2014). Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017.
Chính phủ (2019). Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Chính phủ (2022). Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 quy định về hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở giáo dục đại học.
Chính phủ (2025). Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 – 2035.
Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam (2026). 85% bài báo trong danh mục WoS, Scopus đến từ các trường đại học. https://giaoduc.net.vn/85-bai-bao-trong-danh-muc-wos-scopus-den-tu-cac-truong-dai-hoc-post258611.gd
Quốc hội (2018). Luật số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Quốc hội (2025a). Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Quốc hội (2025b). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật Giáo dục đại học năm 2025.
Quốc hội (2025d). Luật số 131/2025/QH15 ngày 10/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.
Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.



