Vietnamese traditional music from the perspective of cultural industries theory
ThS. Nguyễn Hoàng Linh
Trường Đại học FPT
Email: Linhnh79@fe.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Âm nhạc truyền thống là một bộ phận tinh hoa của di sản văn hóa dân tộc, đồng thời là nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và phát huy sức mạnh mềm quốc gia. Việc nhìn nhận âm nhạc truyền thống từ góc độ lý thuyết công nghiệp văn hóa vừa mở ra cơ hội vừa đặt ra những vấn đề cần luận giải. Bài viết trình bày cốt lõi của lý thuyết công nghiệp văn hóa, từ quan niệm phê phán ban đầu của trường phái Frankfurt đến cách tiếp cận tích cực của kinh tế học văn hóa và UNESCO; phân tích tiềm năng và những mâu thuẫn khi áp dụng lý thuyết này vào âm nhạc truyền thống Việt Nam, trọng tâm là mâu thuẫn giữa bảo tồn nguyên bản và thương mại hóa; từ đó đề xuất định hướng phát triển âm nhạc truyền thống theo hướng công nghiệp văn hóa trên tinh thần Đại hội XIV với nguyên tắc trung tâm là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.
Từ khóa: Đại hội XIV của Đảng; công nghiệp văn hóa; âm nhạc truyền thống; bảo tồn và phát triển; sức mạnh mềm.
Abstract: Traditional music constitutes a highly valued component of the nation’s cultural heritage and, at the same time, a valuable resource for the development of cultural industries. The 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam identified the vigorous development of cultural industries and the creative economy, together with the enhancement of national soft power, as important priorities. Examining traditional music from the perspective of cultural industry theory presents both opportunities and issues that require further scholarly examination. This article outlines the core tenets of cultural industry theory, tracing its evolution from the early critical perspective of the Frankfurt School to the more affirmative approaches of cultural economics and UNESCO; analyzes the potential and inherent tensions involved in applying this theoretical framework to Vietnamese traditional music, with particular emphasis on the tension between preserving authenticity and commercialization; and, on this basis, proposes directions for developing traditional music within a cultural industries framework in line with the orientation of the 14th National Party Congress, with the central principle of achieving a harmonious balance between conservation and development.
Keywords: 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; cultural industries; traditional music; conservation and development; soft power.
1. Đặt vấn đề
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đã sáng tạo và trao truyền một kho tàng âm nhạc truyền thống phong phú, độc đáo, kết tinh bản sắc và tâm hồn dân tộc. Đến nay, Việt Nam đã có nhiều di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, trong đó nhiều loại hình thuộc về âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng, như: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hát Ca trù, Hát Xoan Phú Thọ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ và Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái… Bên cạnh đó là kho tàng nghệ thuật truyền thống phong phú như chèo, tuồng, cải lương, hát chầu văn và dân ca các vùng miền. Đây không chỉ là di sản tinh thần vô giá mà còn là nguồn tài nguyên kinh tế dồi dào, đóng vai trò “nguyên liệu” chiến lược cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa.
Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng, là nguồn lực và động lực nội sinh, là sức mạnh mềm quốc gia; chủ trương “phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo”, “tài sản hóa các giá trị văn hoá” và “xây dựng văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia”. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đặt mục tiêu đưa lĩnh vực này đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Trong dòng chảy đó, nhìn nhận âm nhạc truyền thống từ lý thuyết công nghiệp văn hóa là một hướng tiếp cận có ý nghĩa; nó cho phép biến di sản thành nguồn lực phát triển, nhưng cũng đặt ra câu hỏi hệ trọng về nguy cơ thương mại hóa và làm biến dạng bản sắc.
2. Công nghiệp văn hóa và quan điểm của Đại hội XIV của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa
Thứ nhất, về nguồn gốc, khái niệm “công nghiệp văn hóa” do hai nhà lý luận của trường phái Frankfurt là Th.W. Adorno và M. Horkheimer nêu ra trong tác phẩm Biện chứng của Khai sáng (1947) với hàm nghĩa phê phán (M.Horkheimer, Th.W.Adorno, 2002). Theo hai ông, khi văn hóa bị sản xuất hàng loạt theo lôgic công nghiệp và thị trường, nó có nguy cơ bị chuẩn hóa, đồng nhất hóa, biến các tác phẩm nghệ thuật thành hàng hóa phục vụ tiêu dùng đại chúng, làm thui chột tính độc đáo, tính phản biện và chiều sâu thẩm mỹ vốn có của văn hóa. Đây là lời cảnh báo có giá trị lâu bền: bất cứ khi nào văn hóa bước vào guồng máy công nghiệp, nguy cơ đánh mất bản sắc và tính nguyên bản luôn hiện hữu.
Thứ hai, về sự phát triển, từ nửa sau thế kỷ XX, nội hàm khái niệm dần được mở rộng và mang sắc thái tích cực. Kinh tế học văn hóa, tiêu biểu là D. Throsby, chỉ ra rằng các sản phẩm văn hóa vừa mang giá trị văn hóa vừa mang giá trị kinh tế và có thể trở thành một nguồn vốn, một động lực tăng trưởng (D.Throsby, 2001). UNESCO và nhiều quốc gia chuyển sang dùng khái niệm “các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo” để chỉ những lĩnh vực sản xuất, tái tạo và phân phối sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng văn hóa, sáng tạo cao, vừa tạo ra giá trị kinh tế và việc làm, vừa gìn giữ và lan tỏa sự đa dạng văn hóa.
Như vậy, cùng một khái niệm nhưng lại ẩn chứa hai chiều: chiều cảnh báo của Adorno và chiều khai thác cơ hội của kinh tế học văn hóa. Chính tính hai chiều này quy định cách tiếp cận biện chứng khi soi chiếu vào âm nhạc truyền thống. Ở một góc độ bổ trợ, lý thuyết về “sức mạnh mềm” của J. Nye (2004), cho thấy các giá trị văn hóa, trong đó có âm nhạc truyền thống, là nguồn lực để một quốc gia tạo sức hấp dẫn và ảnh hưởng bằng phương thức phi cưỡng bức; công nghiệp văn hóa, khi đó, vừa là kênh kinh tế vừa là kênh lan tỏa sức mạnh mềm ra thế giới.
Thứ ba, quan điểm của Đại hội XIV của Đảng kế thừa cách tiếp cận tích cực nhưng không quên chiều cảnh báo. Văn kiện Đại hội XIV dự báo, trong lĩnh vực văn hóa, “sức mạnh mềm của văn hóa tiếp tục được phát huy hiệu quả” và “công nghiệp văn hóa phát triển mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập II, tr. 244). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 được cụ thể hóa bằng các chủ trương: “phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo”, “xây dựng cơ chế, chính sách phát triển các nghệ nhân xuất sắc”, “đẩy mạnh xuất khẩu văn hóa”, “tài sản hóa các giá trị văn hóa và xây dựng thị trường tài sản trí tuệ văn hóa”. Đặc biệt, Nghị quyết đặt nguyên tắc “giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển” và mục tiêu “gìn giữ, phát huy và lan toả mạnh mẽ văn hóa Việt Nam trong đời sống xã hội và trên môi trường số” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026, tr.11). Đây chính là chiều cảnh báo được nội hóa vào chủ trương: phát triển công nghiệp văn hóa nhưng không được đánh đổi bản sắc.
Thứ tư, Đại hội XIV (2026) của Đảng thẳng thắn nhìn nhận rằng công nghiệp văn hóa và bảo tồn văn hóa dân tộc vẫn là những vấn đề chưa được làm rõ về mặt lý luận. Văn kiện xếp “công nghiệp văn hóa”, “bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc” vào nhóm “nhiều vấn đề lý luận chưa được làm rõ” trong xây dựng nền văn hóa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập II, tr. 231). Sự thừa nhận cầu thị này chính là lý do khiến những nghiên cứu chuyên sâu, như việc soi chiếu âm nhạc truyền thống qua lý thuyết công nghiệp văn hóa, trở nên cần thiết cả về mặt học thuật lẫn thực tiễn.
3. Âm nhạc truyền thống Việt Nam nhìn từ lý thuyết công nghiệp văn hóa với tiềm năng và những vấn đề đặt ra
Áp dụng khung lý thuyết trên vào thực tiễn, có thể thấy âm nhạc truyền thống Việt Nam vừa là một tài nguyên giàu tiềm năng cho công nghiệp văn hóa vừa đặt ra những mâu thuẫn không thể xem nhẹ.
Thứ nhất, về tiềm năng, âm nhạc truyền thống là nguồn “vốn văn hóa” đặc sắc và khó thay thế. Mỗi loại hình mang một bản sắc vùng miền và chiều sâu lịch sử riêng: sự trang nghiêm bác học của Nhã nhạc cung đình; nét tinh tế của Ca trù; cái duyên của Quan họ; sự phóng khoáng của Đờn ca tài tử; âm hưởng đại ngàn của Cồng chiêng Tây Nguyên… Trong lôgic công nghiệp văn hóa, đây chính là những “nguyên liệu” có thể chuyển hóa thành sản phẩm và dịch vụ, chương trình biểu diễn, sản phẩm thu âm, sản phẩm số, du lịch di sản, giáo dục nghệ thuật, hàng lưu niệm văn hóa và các sản phẩm sáng tạo phái sinh. Tính độc bản của âm nhạc truyền thống tạo nên lợi thế cạnh tranh mà không một nền văn hóa nào có thể sao chép được; do đó, nó có thể trở thành trụ cột của sức mạnh mềm quốc gia.
Thứ hai, về cơ hội, công nghiệp văn hóa có thể trở thành phương thức “nuôi sống” di sản. Khi âm nhạc truyền thống được đưa vào chuỗi giá trị, gắn với du lịch, biểu diễn, số hóa và xuất khẩu văn hóa, nó tạo ra nguồn thu và sinh kế, từ đó khuyến khích nghệ nhân giữ nghề và truyền nghề. Đây là điểm gặp gỡ với chủ trương của Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về “phát triển các nghệ nhân xuất sắc” và “tài sản hóa các giá trị văn hóa”. Thực tế cho thấy, nhiều chương trình biểu diễn Nhã nhạc phục vụ du khách tại Huế, không gian Đờn ca tài tử ở Nam Bộ hay các đêm diễn xướng dân gian gắn với du lịch đã chứng minh khả năng “bảo tồn động”, bảo tồn thông qua khai thác để di sản sống được trong đời sống đương đại chứ không chỉ nằm trong bảo tàng. Cách tiếp cận “bảo tồn động” này phù hợp với quan điểm coi văn hóa là nguồn lực và động lực nội sinh, chứ không phải gánh nặng cần bao cấp, qua đó tạo ra vòng tuần hoàn tích cực: khai thác hợp lý tạo ra nguồn lực, nguồn lực quay lại nuôi dưỡng và bảo tồn.
Thứ ba, về mâu thuẫn cốt lõi, đó là mâu thuẫn giữa bảo tồn nguyên bản và thương mại hóa, chuẩn hóa. Đây chính là điểm khiến lời cảnh báo của Adorno và Horkheimer trở nên thời sự. Khi chạy theo thị hiếu của thị trường và du lịch đại chúng, âm nhạc truyền thống dễ bị “sân khấu hóa”, cắt gọt, rút ngắn, phối khí lai căng hoặc trình diễn tách khỏi không gian và nghi lễ gốc, khiến di sản đánh mất tính thiêng, tính nguyên bản và chiều sâu văn hóa. Một làn điệu vốn gắn với nghi lễ cộng đồng, khi bị biến thành “tiết mục” phục vụ khách trong vài phút, có nguy cơ chỉ còn giữ được cái vỏ mà mất đi phần hồn. Đó là biểu hiện cụ thể của nguy cơ “hàng hóa hóa văn hóa”, khi giá trị kinh tế lấn át và làm xói mòn các giá trị văn hóa. Vì thế, phát triển công nghiệp văn hóa mà buông lỏng khâu bảo tồn nguyên bản thì chẳng khác nào “bán” di sản, rồi làm cạn kiệt chính nguồn tài nguyên nuôi sống di sản ấy. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều di sản âm nhạc từng bị “du lịch hóa” quá mức đã dần trở nên đơn điệu, khuôn mẫu và mất sức sống; bài học đó nhắc nhở rằng: tiêu chí thành công của công nghiệp văn hóa không thể chỉ đo bằng doanh thu mà phải đo cả bằng mức độ giữ gìn được tính toàn vẹn và giá trị nguyên bản của di sản.
Thứ tư, về nguy cơ mai một và đứt gãy trong việc truyền đạt. Nhiều loại hình âm nhạc truyền thống đang đối mặt với tình trạng thiếu nghệ nhân kế cận; lớp nghệ nhân cao tuổi ngày càng ít đi, trong khi thế hệ trẻ chưa mặn mà tiếp nối. Công chúng, nhất là giới trẻ, có xu hướng quay lưng với âm nhạc dân tộc trước sức hút của các dòng nhạc giải trí hiện đại và các sản phẩm của công nghiệp văn hóa toàn cầu. Nếu không có công chúng và không có lớp người kế cận, di sản sẽ mai một ngay cả khi được ghi danh. Đây là nghịch lý: công nghiệp văn hóa toàn cầu vừa mở ra cơ hội quảng bá, vừa tạo sức ép cạnh tranh có thể lấn át âm nhạc bản địa ngay trên sân nhà. Sâu xa hơn, sự đứt gãy trao truyền không chỉ là vấn đề số lượng nghệ nhân mà còn là vấn đề môi trường sống của di sản: khi những không gian diễn xướng truyền thống như đình làng, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng bị thu hẹp do biến đổi lối sống và đô thị hóa, âm nhạc truyền thống mất đi “môi sinh” tự nhiên để tồn tại và tái sinh. Khôi phục môi sinh văn hóa; vì thế, điều này quan trọng không kém việc đào tạo nghệ nhân.
Thứ năm, về thể chế và thị trường, việc “tài sản hóa” giá trị của âm nhạc truyền thống vẫn còn nhiều khoảng trống. Cơ chế bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và tri thức truyền thống của cộng đồng chưa hoàn thiện; việc định giá, giao dịch và xây dựng thị trường tài sản trí tuệ văn hóa còn sơ khai; đầu tư cho lĩnh vực này còn manh mún, thiếu liên kết giữa văn hóa, du lịch và công nghệ. Bên cạnh đó, môi trường số vừa là cơ hội để số hóa, lưu giữ và lan tỏa di sản ra thế giới, vừa tiềm ẩn rủi ro xâm phạm bản quyền, sao chép, biến dạng và cả nguy cơ đối với chủ quyền văn hóa số quốc gia. Những khoảng trống thể chế này khiến tiềm năng của âm nhạc truyền thống chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị.
4. Định hướng phát triển âm nhạc truyền thống theo hướng công nghiệp văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV
Một là, quán triệt nguyên tắc “giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển” làm trục xuyên suốt. Cần phân tầng rõ ràng: một mặt, bảo tồn nghiêm ngặt phần lõi, phần nguyên bản của di sản (không gian diễn xướng, làn điệu gốc, nghi lễ, kỹ thuật truyền thống); mặt khác, cho phép khai thác, sáng tạo các sản phẩm phái sinh phục vụ thị trường trên nền tảng đã được bảo tồn. Nói cách khác, thương mại hóa phần “phái sinh” để có nguồn lực nuôi dưỡng và bảo vệ phần “gốc”, chứ không đánh đổi phần gốc lấy lợi ích kinh tế trước mắt. Nguyên tắc phân tầng này chính là cách hóa giải mâu thuẫn giữa hai chiều của lý thuyết công nghiệp văn hóa: chiều cảnh báo được bảo đảm ở phần lõi, còn chiều khai thác cơ hội được phát huy ở phần phái sinh.
Hai là, hoàn thiện thể chế và “tài sản hóa” giá trị của âm nhạc truyền thống. Cần xây dựng và thực thi hiệu quả cơ chế bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và tri thức truyền thống của cộng đồng chủ thể di sản; phát triển thị trường tài sản trí tuệ văn hóa theo đúng chủ trương “tài sản hóa các giá trị văn hóa và xây dựng thị trường tài sản trí tuệ văn hóa”. Đồng thời, có chính sách ưu đãi, đặt hàng và huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho lĩnh vực này, gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa, du lịch và công nghệ.
Ba là, đặt nghệ nhân vào vị trí trung tâm của chính sách. Nghệ nhân là “báu vật nhân văn sống”, là người nắm giữ và truyền bá di sản. Cần thực hiện tốt chủ trương “xây dựng cơ chế, chính sách phát triển các nghệ nhân xuất sắc”, tôn vinh, đãi ngộ xứng đáng, hỗ trợ hoạt động truyền dạy, đồng thời đào tạo lớp nghệ nhân, nhạc công kế cận để bảo đảm mạch truyền dạy không bị đứt gãy. Không có nghệ nhân thì mọi chiến lược công nghiệp văn hóa về âm nhạc truyền thống đều thiếu nền tảng.
Bốn là, phát triển đa dạng sản phẩm và mở rộng thị trường. Cần gắn âm nhạc truyền thống với du lịch di sản, sân khấu thực cảnh, các chương trình biểu diễn định kỳ, không gian trải nghiệm văn hóa; phát triển sản phẩm số, như: bản thu âm, video, trò chơi, sản phẩm giáo dục trực tuyến; đưa âm nhạc dân tộc vào chương trình giáo dục học đường để vừa nuôi dưỡng công chúng vừa tạo cầu cho thị trường. Việc xây dựng thương hiệu cho từng loại hình và từng địa phương sẽ giúp âm nhạc truyền thống trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Cần phát triển đồng thời cả thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu văn hóa, trong đó thị trường nội địa và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là điểm tựa ban đầu trước khi vươn ra thị trường quốc tế rộng lớn hơn.
Năm là đẩy mạnh chuyển đổi số và phát huy sức mạnh mềm trên môi trường số. Cần số hóa toàn diện kho tàng âm nhạc truyền thống để lưu giữ, nghiên cứu và lan tỏa; đưa di sản lên các nền tảng số trong nước và quốc tế nhằm “gìn giữ, phát huy và lan toả mạnh mẽ văn hóa Việt Nam,… trên môi trường số”, biến di sản thành “lợi thế trong hoạt động kinh tế, xã hội và đối ngoại” như mục tiêu Nghị quyết số 19-NQ/TW đề ra. Song song, phải “xây dựng văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia”, bảo vệ bản quyền và ngăn ngừa việc sao chép, xuyên tạc, biến dạng di sản trên không gian mạng.
Sáu là phát triển công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Đây là giải pháp mang tính quyết định lâu dài, bởi di sản chỉ sống khi có người thưởng thức. Cần đẩy mạnh giáo dục, truyền thông về giá trị âm nhạc dân tộc; khuyến khích các thể nghiệm sáng tạo kết hợp truyền thống với hiện đại một cách có kiểm soát, có định hướng (như các dự án đưa chất liệu dân gian vào âm nhạc đương đại) để thu hút khán giả trẻ mà vẫn giữ được cái gốc. Khi giới trẻ tự hào và yêu thích âm nhạc dân tộc, di sản sẽ có nội lực để vừa được bảo tồn vừa phát triển thành một ngành công nghiệp văn hóa bền vững.
5. Kết luận
Nhìn âm nhạc truyền thống Việt Nam từ góc độ lý thuyết công nghiệp văn hóa cho thấy, một chân lý có tính biện chứng: di sản vừa là tài nguyên quý cho phát triển, vừa dễ bị tổn thương trước chính quá trình khai thác. Lời cảnh báo của trường phái Frankfurt về nguy cơ hàng hóa hóa văn hóa và cách tiếp cận tích cực của kinh tế học văn hóa không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau và cùng hội tụ ở nguyên tắc mà Đại hội XIV, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã xác định: giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Phát triển âm nhạc truyền thống theo hướng công nghiệp văn hóa, do đó, không phải là “bán” di sản mà là tìm cách để di sản sống được, lan tỏa và sinh lợi trên nền tảng giữ vững bản sắc. Đó là con đường để âm nhạc truyền thống trở thành nguồn lực kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia; đồng thời, tiếp tục là nơi lưu giữ hồn cốt và bản sắc dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
D.Throsby (2001). Economics and Culture. Cambridge University Press. Cambridge.
M.Horkheimer và Th.W.Adorno (2002). Dialectic of Enlightenment: Philosophical Fragments (chương “The Culture Industry: Enlightenment as Mass Deception”). Stanford University Press, Stanford.
J.S. Nye (2004). Soft Power: The Means to Success in World Politics. PublicAffairs. New York.



