Reforming state management of the private healthcare sector in contemporary Vietnam
TS. Nguyễn Thị Dung Huyền
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: nguyendunghuyen@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu quá trình đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2026 trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở khảo cứu hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật, bài viết phân tích sự chuyển biến trong nhận thức và phương thức quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân, từ việc thừa nhận hoạt động hành nghề y, dược tư nhân đến thúc đẩy xã hội hóa, hoàn thiện thể chế và từng bước tích hợp khu vực y tế tư nhân vào hệ thống y tế quốc gia. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại, bài viết đề xuất một số định hướng tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị, phát triển y tế tư nhân gắn với công bằng xã hội và phát triển bền vững của hệ thống y tế.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; y tế tư nhân; xã hội hóa y tế; chính sách y tế; Việt Nam; đổi mới.
Abstract: This article examines the process of reforming state management of the private healthcare sector in Vietnam from 1986 to 2026 against the backdrop of the development of a socialist-oriented market economy. Based on a review of the system of guidelines, policies, and laws, the paper analyzes the shifts in perceptions and methods of state management regarding private healthcare—from the recognition of private medical and pharmaceutical practices to the promotion of socialization, institutional reform, and the gradual integration of the private healthcare sector into the national healthcare system. Based on an assessment of the achievements and remaining limitations, this paper proposes several directions for continuing to reform state management toward institutional improvement, enhancing governance effectiveness, and developing the private healthcare sector in conjunction with social equity and the sustainable development of the healthcare system.
Keywords: State management; private healthcare; healthcare socialization; healthcare policy; Vietnam; reform.
1. Đặt vấn đề
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là chức năng quan trọng của Nhà nước, gắn với bảo đảm an sinh xã hội, phát triển con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từ công cuộc Đổi mới năm 1986, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm thay đổi nhu cầu chăm sóc sức khỏe và đặt ra yêu cầu huy động các nguồn lực xã hội tham gia cung ứng dịch vụ y tế, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của khu vực y tế tư nhân. Sự phát triển của y tế tư nhân đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước nhằm hài hòa giữa khuyến khích nguồn lực xã hội, nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ với bảo đảm chất lượng chuyên môn, an toàn người bệnh và công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Qua 40 năm đổi mới, quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân từng bước được điều chỉnh, hoàn thiện về chủ trương, chính sách, pháp luật và phương thức thực hiện. Nghiên cứu quá trình này góp phần làm rõ sự vận động của thể chế quản lý, những kết quả, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với khu vực y tế tư nhân hiện nay.
2. Cơ sở hình thành chính sách đối với y tế tư nhân ở Việt Nam
Chính sách đối với y tế tư nhân ở Việt Nam không hình thành một cách bị động mà là kết quả của những biến đổi về kinh tế, xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tư duy quản lý nhà nước từ sau năm 1986. Công cuộc Đổi mới từng bước thay đổi phương thức huy động và phân bổ nguồn lực, mở rộng không gian để các chủ thể ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ y tế. Trên cơ sở đó, Nhà nước chuyển dần từ mô hình cung ứng dịch vụ chủ yếu dựa vào khu vực công sang hệ thống có sự tham gia của nhiều chủ thể, đồng thời từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý phù hợp.
Thứ nhất, yêu cầu của công cuộc Đổi mới và chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế – xã hội. Đại hội VI (năm 1986) mở đầu quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần, tạo cơ sở huy động các nguồn lực ngoài nhà nước. Trong y tế, quá trình này mở rộng không gian cho tổ chức, cá nhân tham gia khám, chữa bệnh, kinh doanh dược và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nhà nước vì vậy từng bước chuyển từ trực tiếp tổ chức cung ứng sang kiến tạo thể chế, điều tiết và giám sát hệ thống.
Thứ hai, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng và đa dạng. Phát triển kinh tế – xã hội, đô thị hóa, biến đổi cơ cấu dân cư và mô hình bệnh tật làm gia tăng nhu cầu khám, chữa bệnh cả về số lượng và chất lượng. Người dân ngày càng quan tâm đến tính thuận tiện, thời gian phục vụ, kỹ thuật chuyên sâu và khả năng lựa chọn cơ sở cung ứng. Trong khi đó, khu vực công khó đáp ứng toàn bộ nhu cầu đa dạng, tạo điều kiện để y tế tư nhân bổ sung năng lực cung ứng và mở rộng lựa chọn cho người dân.
Thứ ba, hạn chế của nguồn lực công và yêu cầu huy động nguồn lực xã hội. Y tế đòi hỏi nguồn đầu tư lớn cho cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ và nhân lực, trong khi ngân sách nhà nước có giới hạn. Khu vực tư nhân có khả năng bổ sung vốn, công nghệ, nhân lực và năng lực quản trị, qua đó mở rộng năng lực cung ứng của hệ thống. Đây là cơ sở trực tiếp thúc đẩy xã hội hóa y tế. Tuy nhiên, huy động nguồn lực xã hội không đồng nghĩa với việc Nhà nước chuyển giao trách nhiệm chăm sóc sức khỏe mà vẫn phải bảo đảm các dịch vụ thiết yếu và khả năng tiếp cận của các nhóm dễ bị tổn thương.
Thứ tư, yêu cầu đổi mới quản lý và bảo đảm chất lượng, công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Sự tham gia của nhiều chủ thể khiến phương thức quản lý chủ yếu dựa vào tổ chức, ngân sách và mệnh lệnh hành chính không còn phù hợp. Nhà nước phải tăng cường các công cụ pháp luật, cấp phép, tiêu chuẩn chuyên môn, thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng, bảo hiểm y tế, cơ chế giá và hợp tác công – tư. Điều này đặc biệt cần thiết trong thị trường y tế, nơi tồn tại bất cân xứng thông tin giữa người bệnh và người cung ứng, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ.
Thứ năm, yêu cầu thể chế hóa sự tham gia của khu vực tư nhân. Khi y tế tư nhân từng bước hình thành, Nhà nước cần xác lập quyền, nghĩa vụ, điều kiện hành nghề và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể. Từ đầu những năm 1990, các quy định về hành nghề y, dược tư nhân, chính sách xã hội hóa, bảo hiểm y tế và pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý cho khu vực ngoài công lập. Quá trình này không chỉ nhằm thừa nhận y tế tư nhân mà còn xác lập “luật chơi” chung giữa các chủ thể công và tư, bảo đảm yêu cầu về chuyên môn, đạo đức, chất lượng và an toàn người bệnh.
Nhìn tổng thể, chính sách đối với y tế tư nhân là kết quả của sự tương tác giữa yêu cầu Đổi mới, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, hạn chế nguồn lực công, yêu cầu đổi mới quản trị và nhu cầu thể chế hóa khu vực tư nhân. Qua đó, Nhà nước từng bước chuyển từ trực tiếp tổ chức, kiểm soát cung ứng sang kiến tạo thể chế, điều tiết và giám sát hệ thống y tế đa chủ thể. Đây là nền tảng lịch sử – thể chế của quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân ở Việt Nam.
3. Những chuyển biến chủ yếu trong công tác quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân từ năm 1986 đến nay
a) Giai đoạn 1986 – 1999: hình thành thể chế quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân
Đại hội VI (năm 1986) và công cuộc Đổi mới tạo tiền đề thay đổi phương thức quản lý và cung ứng dịch vụ y tế. Trong bối cảnh y tế công lập gặp khó khăn về cơ sở vật chất, thuốc men và tài chính, yêu cầu huy động nguồn lực xã hội trở nên cấp thiết, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước tham gia khám, chữa bệnh và kinh doanh dược. Tuy nhiên, do y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người, Nhà nước phải “thiết lập cơ chế quản lý phù hợp nhằm đồng thời thực hiện hai mục tiêu: mở rộng nguồn lực xã hội cho y tế và bảo đảm chất lượng, an toàn dịch vụ” (Nguyễn Nguyệt Nga, 1997). Vì vậy, trọng tâm quản lý giai đoạn này là xác lập địa vị pháp lý, điều kiện hành nghề và cơ chế kiểm soát khu vực tư nhân.
Năm 1989, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân tạo cơ sở pháp lý cho việc huy động trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội. Bước ngoặt là Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân năm 1993, lần đầu xác lập tương đối đầy đủ khuôn khổ pháp lý cho hoạt động y, dược tư nhân. Nghị định số 06/CP ngày 29/01/1994 của Chính phủ về cụ thể hóa một số điều trong Pháp luật Hành nghề Y, dược tư nhân tiếp tục quy định về điều kiện, thủ tục cấp phép, phạm vi hoạt động và quyền, trách nhiệm của người hành nghề. Các văn bản này đánh dấu bước chuyển từ chưa có khuôn khổ pháp lý chuyên biệt sang hình thành hệ thống công cụ quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân, chủ yếu thông qua cấp phép, thẩm định điều kiện và tiền kiểm (Bộ Y tế & Nhóm Đối tác Y tế, 2015).
Nhìn tổng thể, giai đoạn 1986 – 1999 đặt nền tảng thể chế cho y tế tư nhân, đánh dấu bước chuyển từ trực tiếp tổ chức, cung ứng dịch vụ sang thừa nhận và quản lý sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước, tạo tiền đề cho xã hội hóa y tế và hợp tác công – tư trong các giai đoạn tiếp theo.
b) Giai đoạn 2000 – 2008: hoàn thiện thể chế và huy động nguồn lực xã hội cho phát triển y tế tư nhân
Bước sang thế kỷ XXI, quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân chuyển từ thừa nhận, kiểm soát hành nghề sang hoàn thiện thể chế và huy động nguồn lực xã hội. Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06/3/2000 mở rộng thu hút đầu tư vào khám, chữa bệnh; Pháp lệnh Hành nghề Y, dược tư nhân số 07/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25/02/2003 tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường quản lý điều kiện hành nghề, chất lượng dịch vụ (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2003). Từ năm 2006, chính sách chuyển mạnh sang tự chủ và xã hội hóa y tế. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường đã từng bước hoàn thiện cơ chế ưu đãi, hỗ trợ và thu hút nguồn lực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ y tế.
Như vậy, giai đoạn 2000 – 2008 đánh dấu bước chuyển từ quản lý sự tồn tại sang kiến tạo thể chế và huy động nguồn lực xã hội, qua đó xác lập vai trò của y tế tư nhân như một nguồn lực bổ trợ cho hệ thống y tế công, đồng thời tạo nền tảng cho quá trình xã hội hóa và phát triển cung ứng dịch vụ y tế đa chủ thể.
c) Giai đoạn 2009 – 2016: chuẩn hóa và điều tiết hoạt động y tế tư nhân
Từ năm 2009, quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân chuyển từ khuyến khích hình thành, phát triển sang chuẩn hóa và tích hợp vào hệ thống cung ứng dịch vụ y tế có sự điều tiết của Nhà nước. Thông tư số 10/2009/TT-BYT ngày 14/8/2009 tạo cơ sở để các cơ sở y tế tư nhân đáp ứng yêu cầu về nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị được tham gia khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Cùng với đó, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 tiếp tục hoàn thiện các quy định về điều kiện hành nghề, tổ chức cung ứng dịch vụ và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Đây là bước tiến quan trọng trong xã hội hóa y tế, khi khu vực tư nhân không chỉ cung ứng dịch vụ theo cơ chế thanh toán trực tiếp mà còn được kết nối với nguồn tài chính công thông qua bảo hiểm y tế. Sự tham gia của y tế tư nhân vào hệ thống bảo hiểm y tế làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước, từ phân biệt theo hình thức sở hữu sang quản lý dựa trên điều kiện hoạt động, năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ và trách nhiệm cung ứng. Đồng thời, Nhà nước phải tăng cường kiểm soát chất lượng khám, chữa bệnh, chi phí, chỉ định kỹ thuật, thanh toán bảo hiểm y tế và phòng ngừa lạm dụng quỹ (Bộ Y tế, 2015a, 2015b).
Như vậy, giai đoạn 2009 – 2016 đánh dấu bước chuyển từ “khuyến khích tư nhân đầu tư” sang “tích hợp và điều tiết y tế tư nhân trong hệ thống cung ứng dịch vụ y tế”. Trọng tâm quản lý nhà nước chuyển dần từ kiểm soát điều kiện gia nhập sang chuẩn hóa chất lượng, giám sát năng lực cung ứng và bảo đảm trách nhiệm của các chủ thể, tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển sâu hơn của xã hội hóa y tế.
d) Giai đoạn 2017 – 2026: đổi mới quản trị và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống y tế
Từ năm 2017, quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân chuyển từ trọng tâm mở rộng xã hội hóa sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 xác định y tế tư nhân là nguồn lực về vốn, công nghệ, nhân lực và quản trị; đồng thời đặt ra yêu cầu kết hợp giữa khuyến khích đầu tư, cạnh tranh lành mạnh với kiểm soát chất lượng, chi phí và quyền lợi người bệnh. Theo đó, phương thức quản lý từng bước chuyển sang quản lý dựa trên tiêu chuẩn chất lượng, an toàn và trách nhiệm giải trình.
Bước sang năm 2019, đại dịch Covid-19 cho thấy, vai trò ngày càng rõ của việc huy động và phối hợp nguồn lực công – tư, nhất là về cơ sở vật chất, công nghệ, nhân lực và cung ứng dịch vụ. Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển y tế. Đến năm 2026, y tế tư nhân không còn chỉ được nhìn nhận như nguồn lực bổ trợ mà ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế quốc gia.
Như vậy, giai đoạn 2017 – 2026 đánh dấu bước chuyển từ quản lý từng cơ sở sang quản trị hệ thống y tế đa thành phần. Trọng tâm quản lý nhà nước chuyển sang kiến tạo thể chế, điều phối nguồn lực, thiết lập chuẩn mực, quản lý chất lượng và rủi ro, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình, hướng tới sự phát triển hài hòa giữa khu vực công và tư, đồng thời bảo đảm an toàn và công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế.
4. Nhận xét về quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân
Một là, khuôn khổ pháp lý đối với y tế tư nhân từng bước được hình thành và hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất. Năm 1993, Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân lần đầu xác lập cơ sở pháp lý riêng cho khu vực này; các văn bản hướng dẫn năm 1994 tiếp tục quy định điều kiện và thủ tục hành nghề. Năm 2003, Pháp lệnh mới mở rộng định hướng xã hội hóa, đa dạng hóa dịch vụ y, dược và thống nhất quản lý hoạt động tư nhân. Đến năm 2008, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP mở rộng cơ chế xã hội hóa, khuyến khích huy động vốn, nhân lực, công nghệ và cho phép cơ sở y tế ngoài công lập đủ điều kiện tham gia khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023, có hiệu lực từ năm 2024, tiếp tục chuẩn hóa điều kiện hành nghề, chất lượng chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp. Qua đó, quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân chuyển dần từ xác lập địa vị pháp lý sang khuyến khích xã hội hóa, chuẩn hóa chất lượng và tăng cường quản lý, giám sát.
Hai là, phương thức huy động nguồn lực cho phát triển y tế từng bước được đổi mới và đa dạng hóa. Từ chỗ chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và hệ thống công lập, sau năm 1986, Nhà nước từng bước thể chế hóa xã hội hóa, mở rộng huy động vốn, nhân lực, công nghệ và các hình thức đầu tư, liên doanh, liên kết. Số bệnh viện tư nhân tăng từ 39 cơ sở năm 2005 lên hơn 100 cơ sở năm 2010 và 170 cơ sở năm 2014; năm 2014 có khoảng 9.501 giường bệnh tư nhân, tương đương 1 giường/10.000 dân, cùng hơn 30.000 phòng khám tư nhân (Bộ Y tế, 2015). Năm 2010, riêng phòng khám chuyên khoa có 17.850 cơ sở, chiếm 57,83% tổng số cơ sở y tế tư nhân (Bộ Y tế, 2011). Đến năm 2009, các bệnh viện đã huy động hơn 3.000 tỷ đồng thông qua đầu tư, liên doanh, liên kết để phát triển trang thiết bị kỹ thuật y tế. Đến năm 2024, cả nước có 1.665 bệnh viện, trong đó 384 bệnh viện ngoài công lập, chiếm khoảng 23,1%; khu vực tư nhân chiếm khoảng 6% tổng số giường bệnh (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Nghệ An, 2026). Năm 2026, định hướng huy động nguồn lực tiếp tục chuyển theo hướng kết hợp ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế, đầu tư tư nhân, liên doanh, liên kết và các nguồn hợp pháp khác. Như vậy, trong giai đoạn 1986 – 2026, phương thức huy động nguồn lực đã chuyển từ dựa chủ yếu vào đầu tư trực tiếp của Nhà nước sang huy động, phối hợp và điều tiết nhiều nguồn lực công – tư, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và điều tiết hệ thống.
Ba là, vai trò của Nhà nước trong quản lý y tế từng bước chuyển từ trực tiếp quản lý hoạt động cung ứng sang kiến tạo thể chế, điều tiết và quản trị hệ thống. Đây là sự chuyển biến có ý nghĩa quan trọng nhất trong quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân. Khi khu vực tư nhân ngày càng tham gia sâu vào cung ứng dịch vụ y tế, Nhà nước không còn chủ yếu quản lý bằng các biện pháp hành chính trực tiếp đối với từng cơ sở, mà tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn chuyên môn, cơ chế cấp phép, kiểm định, thanh tra, kiểm tra và giám sát chất lượng. Đồng thời, Nhà nước tăng cường sử dụng các công cụ quản lý hiện đại như quy hoạch, chính sách, bảo hiểm y tế, đặt hàng, đấu thầu, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình nhằm điều tiết hoạt động của toàn bộ hệ thống y tế. Sự chuyển biến này phản ánh quá trình đổi mới từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hệ thống y tế đa thành phần, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng phát triển, bảo đảm công bằng, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ quyền lợi của người dân.
Bốn là, y tế tư nhân từng bước được tích hợp vào tổng thể hệ thống y tế quốc gia. Từ chỗ chủ yếu là lực lượng bổ trợ cho khu vực công, y tế tư nhân ngày càng trở thành một bộ phận của hệ thống y tế đa thành phần. Đến năm 2024, cả nước có 384 bệnh viện ngoài công lập và hơn 53.000 phòng khám tư nhân, cho thấy quy mô cung ứng dịch vụ của khu vực này đã phát triển đáng kể. Đồng thời, 95,5 triệu người, tương đương 94,2% dân số, tham gia bảo hiểm y tế vào cuối năm 2024, tạo cơ sở để các cơ sở tư nhân đủ điều kiện tham gia cung ứng dịch vụ trong hệ thống bảo hiểm y tế. Bộ Y tế cũng chủ trương tạo điều kiện để bệnh viện tư nhân tham gia khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế nhằm giảm tải cho bệnh viện công. Như vậy, quản lý nhà nước đang chuyển từ phân biệt công – tư sang quản lý thống nhất theo chất lượng chuyên môn, an toàn người bệnh và trách nhiệm nghề nghiệp, từng bước hình thành mô hình y tế đa thành phần dưới sự điều tiết của Nhà nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân vẫn bộc lộ một số hạn chế, như: thể chế, chính sách và cơ chế phát triển y tế tư nhân chưa thực sự đồng bộ. Cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng và đầu tư chưa đi đôi với các công cụ quản lý dựa trên chất lượng, an toàn, hiệu quả và kết quả chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, ranh giới giữa huy động nguồn lực xã hội và thương mại hóa dịch vụ y tế ở một số trường hợp chưa rõ, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm hài hòa lợi ích kinh tế với mục tiêu công bằng và phục vụ cộng đồng.
Phương thức và năng lực quản lý nhà nước chưa theo kịp tốc độ phát triển của khu vực y tế tư nhân; việc quản lý dữ liệu, giám sát chất lượng, kiểm soát quảng cáo, phòng ngừa xung đột lợi ích, thanh tra, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại. Việc bảo đảm mục tiêu công bằng và phát triển bền vững của hệ thống y tế vẫn còn đặt ra nhiều thách thức. Điều này đòi hỏi Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa khu vực công và khu vực tư, đồng thời duy trì mục tiêu công bằng, hiệu quả và chất lượng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
5. Định hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện nhận thức và thể chế quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân. Cần xác định y tế tư nhân là một bộ phận của hệ thống y tế quốc gia, bổ trợ cho y tế công lập trong huy động nguồn lực và cung ứng dịch vụ. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu và bảo đảm công bằng; đồng thời hoàn thiện pháp luật theo hướng minh bạch, ổn định, bình đẳng, đồng bộ các quy định về đầu tư, đất đai, thuế, bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh và hợp tác công – tư. Chính sách ưu đãi cần có mục tiêu, có điều kiện, gắn với hiệu quả xã hội, ưu tiên y tế dự phòng, chăm sóc ban đầu, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi và vùng khó khăn, phù hợp với định hướng huy động nguồn lực xã hội cho phát triển y tế của Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăg cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Thứ hai, đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng quản trị hiện đại, lấy chất lượng và hiệu quả làm trung tâm. Trong điều kiện y tế tư nhân phát triển nhanh và đa dạng, quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ quản lý điều kiện sang quản lý chất lượng, kết quả và mức độ an toàn của dịch vụ. Cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá chất lượng; tăng cường kiểm định độc lập, công khai thông tin chất lượng dịch vụ; xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhân lực và kết quả hoạt động; đồng thời nâng cao hiệu quả giám sát sự cố y khoa, quản lý rủi ro và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng giảm chi phí tuân thủ nhưng tăng trách nhiệm giải trình của các cơ sở cung ứng dịch vụ; từng bước áp dụng quản lý theo mức độ rủi ro, kết hợp hài hòa giữa tiền kiểm và hậu kiểm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Thứ ba, gắn phát triển y tế tư nhân với công bằng, hiệu quả và bền vững. Phát triển y tế tư nhân cần đặt trong tổng thể chiến lược y tế quốc gia, hài hòa giữa huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Nhà nước cần tạo cơ chế để khu vực tư nhân tham gia các lĩnh vực nhu cầu cao nhưng lợi nhuận thấp thông qua đặt hàng dịch vụ, bảo hiểm y tế, hợp tác công – tư và hỗ trợ có mục tiêu. Qua đó, Nhà nước chuyển từ can thiệp trực tiếp sang kiến tạo, điều tiết thị trường và định hướng phân bổ nguồn lực phù hợp với mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị và thực thi của bộ máy quản lý nhà nước. Hiệu quả của quá trình đổi mới quản lý nhà nước không chỉ phụ thuộc vào chất lượng thể chế mà còn phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ và cơ quan quản lý. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý theo hướng kết hợp kiến thức về y khoa, pháp luật, kinh tế y tế, tài chính, quản trị bệnh viện, quản trị chất lượng, phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro và chuyển đổi số. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhằm chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên mệnh lệnh hành chính sang quản trị bằng pháp luật, dữ liệu, tiêu chuẩn và trách nhiệm giải trình, đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống y tế trong giai đoạn mới.
6. Kết luận
Quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân ở Việt Nam giai đoạn 1986 – 2026 thể hiện sự chuyển biến từ thừa nhận, thể chế hóa sang khuyến khích xã hội hóa và từng bước quản trị, điều tiết, tích hợp y tế tư nhân vào hệ thống y tế quốc gia. Qua đó, vai trò của Nhà nước chuyển từ quản lý trực tiếp sang kiến tạo thể chế, điều tiết thị trường và bảo đảm chất lượng, công bằng, an toàn trong chăm sóc sức khỏe. Trong bối cảnh mới, quản lý nhà nước cần tiếp tục dựa trên pháp luật, tiêu chuẩn, dữ liệu và kết quả; kết hợp tiền kiểm với hậu kiểm, quản lý theo chất lượng và rủi ro, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình, nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực tư nhân và bảo đảm phát triển hệ thống y tế hiện đại, hiệu quả, công bằng.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Y tế (2005a). Đề án phát triển xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Bộ Y tế (2005b). Quyết định số 2194/QĐ-BYT ngày 21/6/2005 về việc phê duyệt Đề án phát triển xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Bộ Y tế (2007). Thông tư số 07/2007/TT-BYT ngày 25/5/2007 hướng dẫn thực hiện hành nghề y, y học cổ truyền và trang thiết bị y tế tư nhân.
Bộ Y tế (2015a). Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác y tế năm 2015, giai đoạn 2011 – 2015 và các nhiệm vụ chủ yếu giai đoạn 2016 – 2020, kế hoạch năm 2016.
Bộ Y tế (2015b). Quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17/7/2015 phê duyệt kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020.
Bộ Y tế & Bộ Tài chính (2005). Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005 hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc.
Bộ Y tế & Bộ Tài chính (2007). Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 05/6/2007 hướng dẫn mức biên chế sự nghiệp trong cơ sở y tế nhà nước thuộc các bộ, ngành và địa phương.
Bộ Y tế & Nhóm đối tác y tế (2015). Báo cáo tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2015. Nxb Y học.
Bộ Y tế (2015). Quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17/7/2015 phê duyệt kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020.
Bộ Y tế (2011). Niên giám thống kê y tế năm 2010.
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Nghệ An (2026). Ngành Y tế định hướng công tác nhiệm kỳ 2026 – 2030 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. https://nghean.gov.vn, ngày 29/12/2025.
Nguyễn Nguyệt Nga (1997). Sự phát triển của khu vực y tế và cải cách kinh tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi: Việt Nam 1989 – 1997. Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Kinh tế. Trường Đại học Manchester, Vương quốc Anh.
Minh Phương, Nguyễn Trần Quế, Hà Huy Thành (2005). Kinh tế tư nhân Việt Nam sau 20 năm đổi mới: Thực trạng và những vấn đề. Nxb Khoa học xã hội.
Trịnh Minh Hoan (2004). Vai trò của y tế tư nhân qua nghiên cứu các trường hợp tại thành phố Đà Nẵng. Luận án tiến sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2003). Pháp lệnh số 07/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25/02/2003 về hành nghề y, dược tư nhân.
Tú Anh (2024). Hà Nội: Bệnh viện 1.500 tỷ đồng đi vào hoạt động. https://dantri.com.vn, ngày 21/10/2024.



