Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh

Improving the quality of inspection work conducted by commune-level Party Inspection Commissions in Ho Chi Minh City

ThS. Phạm Thái Ngọc
Ban Thi đua Khen  thưởng Trung ương, Bộ Nội vụ
Email: thaingocq7@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chất lượng công tác kiểm tra của tổ chức đảng cần được đánh giá đồng thời và toàn diện qua căn cứ lựa chọn nội dung, độ vững chắc của chứng cứ, tính tuân thủ quy trình và hiệu quả khắc phục sau kiểm tra. Trên cơ sở phân tích hệ thống văn bản của Đảng và xây dựng khung phân tích, bài viết kiến nghị các nhóm giải pháp nhằm đổi mới việc lựa chọn trọng tâm, quản lý hồ sơ, thẩm tra, xác minh, ứng dụng dữ liệu số, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và siết chặt kỷ luật theo dõi sau kết luận. Khung tiêu chí này là đề xuất nghiên cứu định hướng, cần được thử nghiệm thực tiễn và không thay thế các quy định nghiệp vụ hiện hành của Đảng.

Từ khóa: Chất lượng kiểm tra, Ủy ban kiểm tra cấp xã, chứng cứ kiểm tra, khung tiêu chí, quy định nghiệp vụ, TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: The quality of inspection work conducted by Party organizations must be evaluated simultaneously and comprehensively based on the selection of inspection topics, the strength of the evidence, compliance with procedures, and the effectiveness of corrective actions taken following the inspection. Based on an analysis of the Party’s regulatory framework and the development of an analytical framework, this article proposes a set of solutions aimed at reforming the selection of priorities, document management, verification, fact-finding, the application of digital data, capacity-building for cadres, and the tightening of disciplinary oversight following the issuance of conclusions. This criteria framework is a research-oriented proposal that requires practical testing and does not replace the Party’s current operational regulations.

Keywords: Inspection quality; Commune-level Inspection Committees; inspection evidence; criteria framework; operational regulations; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã là yêu cầu cấp thiết gắn liền với việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng ở cơ sở. Tuy nhiên, để đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, trước hết, cần làm rõ quan niệm về “chất lượng” trong hoạt động kiểm tra. Nếu chỉ đánh giá dựa trên số lượng các cuộc kiểm tra được thực hiện, hoạt động có thể đạt thành tích cao về mặt hình thức nhưng lại mơ hồ về giá trị thực chất. Ngược lại, nếu chỉ quy đổi chất lượng thành số lượng các trường hợp vi phạm bị kỷ luật, chúng ta sẽ vô tình bỏ qua ý nghĩa phòng ngừa từ sớm, từ xa, cũng như những cuộc kiểm tra giúp bảo vệ uy tín cho các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ.

Tại Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu vấn đề này phải đặt trong bối cảnh thực tiễn đặc thù của hệ thống chính trị đô thị lớn, bao gồm cả cấp xã, phường, đặc khu theo các mô hình quản lý hiện hành. Chất lượng được xem xét tập trung vào hiệu năng thực hiện nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã, không đồng nhất với toàn bộ hoạt động kiểm tra của cấp ủy hay công tác thanh tra nhà nước. Trong đó, công tác giám sát được tiếp cận như nguồn thông tin quan trọng để phòng ngừa và định hướng lựa chọn vấn đề; kỷ luật đảng được xem xét trong giới hạn thẩm quyền khi liên quan đến kết quả xử lý vi phạm.

Trong thời gian gần đây, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như của Nguyễn Hương Giang (20/01/2026) khi khảo sát tại phường Xuân Đỉnh (thành phố Hà Nội) đã chỉ ra hướng tiếp cận chất lượng từ nội dung, phương pháp đến điều kiện thực hiện; hay nghiên cứu của Cầm Thị Lai (19/8/2026) tập trung vào yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra cấp xã trong bối cảnh mới. Các công trình này là những điểm đối thoại học thuật quan trọng để bài viết phát triển sâu hơn hướng đánh giá kết quả gắn liền với chất lượng chứng cứ và mức độ chuyển biến thực tế sau kiểm tra.

2. Chất lượng kiểm tra và tiêu chí đánh giá

2.1. Chất lượng kiểm tra là sự thống nhất biện chứng giữa tính đúng đắn và giá trị thực tiễn

Trong phạm vi nghiên cứu này, chất lượng công tác kiểm tra được hiểu là mức độ đáp ứng các yêu cầu về nhiệm vụ chính trị và quy định của Đảng, thể hiện qua sự phù hợp của nội dung, độ vững chắc của căn cứ, tính khách quan, đúng quy trình của quá trình xem xét và năng lực tạo ra sự thay đổi, sửa chữa khuyết điểm. Quan niệm này không làm phát sinh thêm thẩm quyền mới cho cơ quan kiểm tra, mà thiết lập một hệ thống câu hỏi khoa học nhằm đánh giá khách quan các hoạt động đã diễn ra để tìm ra giải pháp hoàn thiện. Căn cứ pháp lý hiện hành được quán triệt dựa trên Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Cần phân định rõ ba cấp độ kết quả trong hoạt động kiểm tra:

Thứ nhất, sản phẩm trực tiếp là toàn bộ hệ thống hồ sơ, báo cáo, biên bản và kết luận được hình thành sau quá trình làm việc.

Thứ hai, kết quả thực hiện là sự chấp hành nghiêm túc các yêu cầu, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thứ ba, tác động lan tỏa là sự chuyển biến tích cực trong kỷ luật tổ chức, năng lực thực thi công vụ và hiệu quả phòng ngừa vi phạm.

Một hồ sơ kiểm tra đầy đủ thể thức là điều kiện cần nhưng chưa đủ để khẳng định tác động thực tế của cuộc kiểm tra đó. Ngược lại, không nên quy kết mọi thay đổi tích cực của địa phương đều do công tác kiểm tra mang lại nếu thiếu đi các dữ liệu chứng minh quan hệ nhân quả.

2.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm tra

Để định lượng hóa và chuẩn mực hóa việc đánh giá chất lượng kiểm tra, cần phải có 5 nhóm tiêu chí trọng tâm sau:

Một là, phù hợp nhiệm vụ. Nội dung kiểm tra phải có mối quan hệ trực tiếp với các nhiệm vụ chính trị trọng tâm, công tác xây dựng Đảng và nằm trong phạm vi thẩm quyền của Ủy ban kiểm tra cấp xã. Tiêu chí này được minh chứng qua tài liệu xác định trọng tâm, nguồn thông tin căn cứ và chất lượng giải trình mục tiêu.

Hai là, vững chắc căn cứ. Mọi nhận định, kết luận quan trọng phải dựa trên hệ thống tài liệu, chứng cứ khách quan, được đối chiếu kỹ lưỡng để giải thích rõ bản chất sự việc. Tính vững chắc thể hiện ở sự liên kết trực tiếp giữa tài liệu với nội dung xem xét, thay vì chạy theo số lượng văn bản thu thập mang tính hình thức.

Ba là, đúng nguyên tắc và quy trình. Hoạt động kiểm tra phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, thẩm quyền, trình tự thủ tục và chế độ bảo mật thông tin. Tuyệt đối không định sẵn kết quả trước khi hoàn tất quá trình xác minh, bảo đảm quyền giải trình của đối tượng kiểm tra.

Bốn là, kịp thời và sử dụng nguồn lực hợp lý. Cuộc kiểm tra phải được tiến hành đúng tiến độ thời gian, bảo đảm tốc độ đi đôi với độ chính xác cao. Mọi khoảng chậm trễ phát sinh đều phải được phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan để rút kinh nghiệm.

Năm là, tạo chuyển biến thực chất sau kiểm tra. Kết luận kiểm tra phải dẫn đến các hành động khắc phục cụ thể, bịt kín những lỗ hổng về cơ chế, quy trình quản lý và góp phần nâng cao năng lực phòng ngừa sai phạm tại địa phương.

2.3. Điều kiện áp dụng khung tiêu chí

Khung 5 nhóm tiêu chí ở trên không phải là bảng điểm hành chính mang tính bắt buộc đã được cấp có thẩm quyền ban hành, mà là công cụ nghiên cứu phương pháp luận. Trước khi áp dụng thử nghiệm, cần xác định rõ đối tượng đánh giá là một cuộc kiểm tra cụ thể, một nhóm chuyên đề hay toàn bộ hoạt động trong một khoảng thời gian. Trong giai đoạn đầu, nên sử dụng phương pháp định tính phân tích hồ sơ để chỉ ra điểm đạt và những điểm cần khắc phục, tránh vội vã cộng gộp thành điểm số khi chưa xây dựng được hệ thống trọng số tương thích.

3. Bối cảnh thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh và vấn đề đặt ra

3.1. Từ định hướng chỉ đạo chiến lược đến năng lực tổ chức thực hiện tại cấp cơ sở

Những năm qua, Thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, xác định giám sát thường xuyên là một trong những nhiệm vụ quan trọng, giúp kịp thời chấn chỉnh, bảo đảm triển khai các nội dung theo chỉ đạo của Đảng ủy thông suốt, hiệu quả. Đồng thời, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong Đảng; triển khai chuyển đổi số toàn diện trong ngành kiểm tra Đảng, từng bước chuyển đổi phương thức kiểm tra, giám sát từ cách làm truyền thống sang “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”, bảo đảm tính chính xác, kịp thời, an toàn và bảo mật thông tin.

Công tác triển khai chuyển đổi số trong ngành kiểm tra Đảng được thực hiện một cách toàn diện, ứng dụng dữ liệu số trong ngành kiểm tra Đảng. Thực tiễn cho thấy, nhiều cấp ủy xã, phường đã có những đổi mới mạnh mẽ, như: tại Đảng ủy phường Đông Hưng Thuận, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy phường xác định ứng dụng khoa học – công nghệ trong công tác kiểm tra là yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao năng lực giám sát, bảo mật dữ liệu và phòng ngừa sai phạm. Ủy ban kiểm tra Đảng ủy phường từng bước chuyển đổi phương thức làm việc từ truyền thống sang môi trường số, nâng cao tính chính xác, kịp thời trong công tác kiểm tra, giám sát. Trong đó, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích dữ liệu, phục vụ giám sát thường xuyên, phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm (Văn Minh, 09/7/2026). Hay như Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Tân Sơn Hòa đã xây dựng hệ thống dữ liệu số phục vụ công tác kiểm tra, giám sát trên cơ sở dữ liệu được số hóa; đồng thời triển khai theo dõi, đánh giá nhiệm vụ cán bộ, công chức theo chỉ số đánh giá hiệu suất công việc KPI (Văn Minh, 09/7/2026).

Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, chuyển đổi số trong công tác kiểm tra đòi hỏi phải giải quyết câu hỏi cốt lõi: Dữ liệu số đã làm thay đổi chất lượng công việc gì? Nếu việc số hóa chỉ dừng lại ở việc lưu trữ tệp điện tử mà không chuẩn hóa nguồn gốc, thiếu cơ chế truy nguyên và bảo mật, thì hiệu quả mang lại sẽ rất hạn chế. Công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ, còn năng lực tư duy, bản lĩnh chính trị và sự chịu trách nhiệm của người cán bộ kiểm tra trong việc phân tích, kết luận mới là yếu tố quyết định.

3.2. Tính đa dạng của địa bàn đô thị và yêu cầu phân loại điều kiện tổ chức

TP. Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt với sự phân hóa rõ rệt giữa các loại hình địa bàn (phường nội đô, xã nông thôn mới chuyển đổi, các khu vực phát triển nhanh). Do đó, yêu cầu về chất lượng kiểm tra tuy thống nhất về nguyên tắc nhưng không thể áp dụng một mô hình cứng nhắc cho mọi cấp xã. Cần khảo sát kỹ lưỡng các điều kiện về nguồn lực, biên chế và hạ tầng kỹ thuật của từng đơn vị trước khi tiến hành so sánh hay đánh giá chéo.

3.3. Sử dụng đúng mục đích các nguồn thông tin phản ánh

Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh ban hành Quy định số 1312-QĐ/TU ngày 22/8/2026 về quy trình giải quyết thông tin phản ánh liên quan đến tập thể, cá nhân suy thoái, vi phạm là hành lang pháp lý cực kỳ quan trọng (Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 2026). Đối với ủy ban kiểm tra cấp xã, thách thức đặt ra là phải phân loại chính xác bản chất thông tin (phản ánh về chất lượng thực thi công vụ khác với đơn thư tố cáo hành vi vi phạm hay tranh chấp dân sự, khiếu nại hành chính thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước). Việc phân loại đúng từ khâu tiếp nhận sẽ giúp tránh lãng phí nguồn lực và không bỏ sót các dấu hiệu vi phạm cần tập trung xử lý.

4. Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, bài viết đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay:

Một là, nâng cao chất lượng lựa chọn trọng tâm kiểm tra bằng tư duy kiểm chứng. Gắn việc xây dựng chương trình kiểm tra hằng năm với các vấn đề bức xúc, điểm nghẽn tại địa phương. Chuẩn bị kỹ lưỡng hồ sơ căn cứ lựa chọn đối với từng nội dung trọng tâm, giải trình rõ lý do và dự kiến sản phẩm đạt được, tránh chạy theo số lượng phong trào.

Hai là, tổ chức thẩm tra, xác minh gắn liền với hệ thống nhận định có căn cứ. Xây dựng bảng đối chiếu giữa câu hỏi kiểm tra, nguồn tài liệu chứng minh và các ý kiến giải trình. Mọi nhận định đưa ra phải có chứng cứ xác thực, phân định rõ trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm tập thể, tuyệt đối không dùng suy đoán chủ quan thay cho hồ sơ pháp lý.

Ba là, siết chặt cơ chế kiểm soát chất lượng hồ sơ và nhận định trước khi kết luận. Đề cao vai trò thảo luận dân chủ trong tập thể ủy ban kiểm tra; rà soát kỹ lưỡng tính hợp pháp của tài liệu, thời điểm áp dụng quy định và độ chính xác của ngôn ngữ chính luận trong văn bản kết luận. Ngay cả khi kết luận không có vi phạm, hồ sơ cũng phải giải thích đầy đủ cơ sở để giải tỏa nghi ngờ và bảo vệ uy tín cho cán bộ.

Bốn là, ứng dụng dữ liệu số gắn liền với kỷ luật truy nguyên và bảo mật thông tin. Chuẩn hóa định danh hồ sơ điện tử, phân quyền truy cập minh bạch, ghi nhận lịch sử khai thác dữ liệu để bảo đảm an toàn thông tin tuyệt đối. Sử dụng các công cụ số để phát hiện độ vênh về thời gian, tiến độ công việc nhưng phải luôn khẳng định nguyên tắc quyền quyết định thuộc về chủ thể có thẩm quyền.

Năm là, đổi mới công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ kiểm tra cấp xã. Chuyển từ đào tạo theo diện rộng sang bồi dưỡng theo sản phẩm công việc thực tế. Tổ chức các lớp tập huấn xử lý tình huống giả định dựa trên hồ sơ điện tử thực tế, rèn giũa tư duy logic, kỹ năng đối chiếu chứng cứ và bản lĩnh đấu tranh cho đội ngũ cán bộ cơ sở.

Thực hiện nghiêm chế độ theo dõi, đôn đốc khắc phục sau kiểm tra: Thiết lập hệ thống theo dõi tiến độ khắc phục khuyết điểm một cách khoa học (rõ người thực hiện, rõ sản phẩm, rõ thời hạn). Kiên quyết khắc phục tình trạng “kiểm tra xong để đấy”, đồng thời, kịp thời biểu dương những tập thể, cá nhân có tinh thần cầu thị, sửa chữa tốt.

5. Cách triển khai khung đánh giá và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Thứ nhất, thử nghiệm khung đánh giá trên các hồ sơ đã kết thúc.

Giai đoạn đầu, nên lựa chọn thử nghiệm khung tiêu chí trên các hồ sơ kiểm tra đã kết thúc, được phép nghiên cứu theo quy định, bao gồm cả các trường hợp có vi phạm và không có vi phạm. Việc đánh giá nên được thực hiện độc lập bởi các chuyên gia hoặc cán bộ có kinh nghiệm, sau đó đối chiếu kết quả để hoàn thiện định nghĩa và cách thức đo lường của từng tiêu chí.

Thứ hai, phân biệt giữa thiếu dữ liệu và chất lượng thấp.

Trong quá trình đánh giá, nếu một tiêu chí chưa có tài liệu chứng minh do phạm vi nghiên cứu hạn chế, cần ghi nhận là “chưa đủ thông tin để đánh giá” thay vì vội vàng kết luận “không đạt”. Sự phân biệt này giúp bảo đảm tính khách quan, khoa học của phương pháp nghiên cứu, tránh tạo ra những đánh giá cảm tính, thiếu căn cứ thực tiễn.

Thứ ba, gắn kết quả đánh giá với công tác cải tiến nghiệp vụ và đo lường hiệu quả phòng ngừa.

Kết quả đánh giá bằng khung tiêu chí phải được sử dụng trực tiếp để định hướng các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ, điều chỉnh phương thức quản lý hồ sơ hoặc hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành. Đồng thời, cần tiếp tục mở rộng các hướng nghiên cứu về hiệu quả phòng ngừa từ sớm, từ xa của công tác kiểm tra Đảng trong giai đoạn phát triển mới của Thành phố.

6. Kết luận

Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra đảng ủy cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh là một yêu cầu chiến lược nhằm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh. Khung năm nhóm tiêu chí được đề xuất trong bài viết không chỉ giúp kết nối chặt chẽ giữa định hướng lựa chọn nội dung, tính vững chắc của chứng cứ, tuân thủ nguyên tắc mà còn bảo đảm hiệu quả chuyển biến thực chất sau kiểm tra.

Thông qua việc đổi mới phương thức tổ chức công việc, ứng dụng dữ liệu số trong kỷ luật thông tin nghiêm ngặt và bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công tác kiểm tra của Đảng ở cấp cơ sở sẽ ngày càng khẳng định rõ vai trò là “thanh bảo kiếm” giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, góp phần đắc lực vào sự phát triển bền vững của TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Ban Thường vụ Thành ủy TP. Hồ Chí Minh (2026). Quy định số 1312-QĐ/TU ngày 22/8/2026 về quy trình giải quyết thông tin phản ánh liên quan các tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cầm Thị Lai (19/8/2026). Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng ở cấp xã hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/08/19/xay-dung-doi-ngu-can-bo-lam-cong-tac-kiem-tra-cua-dang-o-cap-xa-hien-nay/.
Nguyễn Hương Giang (20/01/2026). Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Xuân Đỉnh, thành phố Hà Nội. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/01/20/nang-cao-chat-luong-cong-tac-kiem-tra-cua-uy-ban-kiem-tra-dang-uy-phuong-xuan-dinh-thanh-pho-ha-noi/.
Văn Minh (09/7/2026). TP. Hồ Chí Minh chuyển đổi số toàn diện trong ngành kiểm tra Đảng. Báo Sài Gòn Giải phóng. https://www.sggp.org.vn/tphcm-chuyen-doi-so-toan-dien-trong-nganh-kiem-tra-dang-post861463.html.