Upholding the role of the people in building the political system in the spirit of the Party’s 14th National Congress
TS. Trung tá, Lã Trọng Đại
Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng
Email: trongdaihvct@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị là nội dung, biện pháp quan trọng để củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; tạo sự đồng thuận, thống nhất cao về nhận thức, hành động trong xã hội. Bài viết làm rõ quan điểm của Đảng về vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng hệ thống chính trị trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; từ đó xác định hệ thống quan điểm của Đảng về phát huy vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng hệ thống chính trị trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Từ khóa: Phát huy vai trò; Nhân dân; hệ thống chính trị; Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Abstract: Promoting the people’s role in building the political system is a crucial measure for consolidating and maintaining public confidence in the Party’s leadership and the State’s management, as well as for fostering social consensus and unity in both awareness and action. This article clarifies the Party’s perspective on the people’s role in building the political system as outlined in the documents of the 14th National Party Congress, thereby defining the Party’s comprehensive framework regarding the promotion of this role.
Keywords: Upholding the role; the people; the political system; Documents of the 14th Party Congress.
1. Đặt vấn đề
Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với bản chất, sức mạnh và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam. Kế thừa và phát triển nhận thức của Đảng qua 40 năm đổi mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, vấn đề không chỉ là khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân về phương diện nguyên tắc mà quan trọng hơn là xây dựng các cơ chế để Nhân dân thực sự tham gia vào quá trình xây dựng, vận hành, giám sát và đánh giá hệ thống chính trị.
2. Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Quan điểm của Đảng về vai trò của Nhân dân trong xây dựng hệ thống chính trị được hình thành, bổ sung và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới. Từ tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Đảng từng bước làm rõ địa vị chủ thể của Nhân dân đối với quyền lực chính trị; mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; nội dung, hình thức và cơ chế để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Văn kiện Đại hội XIV kế thừa những nhận thức đó, đồng thời phát triển theo hướng nhấn mạnh hơn tính thực chất của quyền làm chủ, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị trước Nhân dân và sự tham gia của Nhân dân vào toàn bộ quá trình tổ chức, thực thi và kiểm soát quyền lực.
Thứ nhất, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán Nhân dân là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong xây dựng và hoạt động của hệ thống chính trị. Quan điểm chỉ đạo của Đại hội xác định: “Quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”, phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.22-23).
Đây là quan điểm có ý nghĩa bao quát đối với nhận thức về vị trí của Nhân dân trong hệ thống chính trị. “Dân là gốc” không chỉ khẳng định nguồn sức mạnh xã hội của cách mạng mà còn xác định cơ sở chính trị – xã hội của quyền lực. Nhân dân không đứng bên ngoài hệ thống chính trị và cũng không chỉ là đối tượng được vận động, quản lý hoặc thụ hưởng thành quả phát triển. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, là lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng và là căn cứ để kiểm nghiệm chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Vì vậy, phát huy vai trò của Nhân dân phải được đặt trong toàn bộ chu trình hoạt động của hệ thống: từ phát hiện vấn đề, xây dựng chủ trương, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả và thụ hưởng thành quả.
Điểm đáng chú ý trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu “thực hành triệt để” quan điểm “Dân là gốc”. Điều đó cho thấy trọng tâm nhận thức đã chuyển mạnh từ khẳng định địa vị chính trị của Nhân dân sang yêu cầu hiện thực hóa địa vị đó trong cơ chế vận hành của hệ thống chính trị. Quyền làm chủ chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi được thể chế hóa thành những quyền, trách nhiệm, quy trình và phương thức tham gia cụ thể; khi ý kiến của Nhân dân có khả năng tác động thực tế đến quá trình ban hành và tổ chức thực hiện quyết định; khi sự giám sát của Nhân dân dẫn đến trách nhiệm giải trình và sự điều chỉnh cần thiết của cơ quan, tổ chức, cán bộ có thẩm quyền.
Thứ hai, Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ hơn dựa vào Nhân dân là một phương thức quan trọng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là bước phát triển có ý nghĩa về nhận thức. Nhân dân không chỉ là nền tảng xã hội của Đảng mà còn trực tiếp cung cấp những thông tin, kinh nghiệm thực tiễn và sự kiểm nghiệm xã hội cần thiết cho quá trình tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng. Đại hội khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.121).
Ở đây, quan hệ giữa Đảng với Nhân dân được xác định trên nhiều phương diện gắn bó hữu cơ: gắn bó với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nếu “gắn bó” đòi hỏi Đảng phải thường xuyên nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn, thì “phục vụ” xác định mục tiêu của hoạt động lãnh đạo; “chịu sự giám sát” đặt hoạt động của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong sự kiểm nghiệm của xã hội; còn “chịu trách nhiệm trước Nhân dân” làm rõ mối quan hệ giữa quyền lực và trách nhiệm chính trị. Các phương diện này thống nhất với nhau, tạo cơ sở để hạn chế tình trạng quan liêu, xa dân, chủ quan trong lãnh đạo, đồng thời góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhân dân.
Từ phương diện đó, công tác dân vận không thể chỉ được hiểu là tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng mà còn phải trở thành một kênh để hệ thống chính trị tiếp nhận tiếng nói từ xã hội. Khi đánh giá kết quả nhiệm kỳ Đại hội XIII, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Công tác dân vận được tăng cường, góp phần thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Chủ trương đối thoại, lắng nghe ý kiến, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.58). Như vậy, dân vận trong điều kiện mới bao hàm cả quá trình đối thoại, lắng nghe, tiếp nhận phản hồi và giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra từ Nhân dân.
Thứ ba, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng mở rộng phạm vi tham gia của Nhân dân từ thực hiện chủ trương sang tham gia xây dựng, ban hành và đánh giá kết quả thực hiện chủ trương, chính sách. Đại hội yêu cầu: “Đổi mới công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động Nhân dân. Phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc Nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.132-133).
Quan điểm này làm rõ một chu trình tham gia tương đối đầy đủ của Nhân dân. Nhân dân tham gia ngay từ khâu xây dựng, ban hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật; tham gia tổ chức thực hiện; sau đó tiếp tục giám sát và đánh giá kết quả. Việc lấy ý kiến Nhân dân vì vậy không nên được xem là công việc bổ sung sau khi cơ bản đã hình thành quyết định, mà cần trở thành một bộ phận của quá trình hoạch định chính sách, nhất là đối với những vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống, quyền và lợi ích của người dân. Tri thức thực tiễn, kinh nghiệm xã hội và những phản hồi từ Nhân dân là nguồn thông tin quan trọng giúp nhận diện sớm những bất cập của chính sách, hạn chế chủ quan, duy ý chí và nâng cao tính khả thi của quyết định.
Đồng thời, Văn kiện đặt ra yêu cầu cao hơn đối với giám sát của Nhân dân. Đối tượng giám sát không chỉ là việc chấp hành chủ trương, chính sách hoặc phát hiện hành vi vi phạm mà còn bao gồm hiệu quả hoạt động của tổ chức và phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên. Đây là một sự phát triển đáng chú ý, bởi nó gắn giám sát của Nhân dân trực tiếp với việc đánh giá chất lượng hệ thống chính trị. Nhân dân, thông qua trải nghiệm thực tế trong quan hệ với cơ quan công quyền và cán bộ, có điều kiện kiểm nghiệm mức độ tận tụy, trách nhiệm, năng lực giải quyết công việc và chất lượng phục vụ của bộ máy.
Thứ tư, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội trong việc tổ chức, đại diện và tạo điều kiện để Nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị. Đại hội yêu cầu: “Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, cộng đồng dân cư trong việc tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong hoạt động “tự quản – tự quản” theo pháp luật. Xây dựng và thực thi có hiệu quả cơ chế giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước; đẩy mạnh thực hiện dân chủ trong xã hội, nhất là dân chủ ở cơ sở” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 87).
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội có vị trí đặc biệt bởi đây là những thiết chế kết nối Nhân dân với Đảng, Nhà nước, tập hợp những ý kiến, nhu cầu và lợi ích đa dạng trong xã hội thành những kiến nghị, đề xuất có tổ chức. Hiệu quả đại diện vì thế không chỉ được thể hiện ở phạm vi tổ chức hoặc số lượng hoạt động mà trước hết ở khả năng phản ánh trung thực tiếng nói của đoàn viên, hội viên và Nhân dân; chất lượng giám sát, phản biện; khả năng tham gia giải quyết những vấn đề thiết thực của cộng đồng. Phát huy vai trò của Nhân dân đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của chính các tổ chức đại diện, khắc phục biểu hiện hành chính hóa, hình thức, xa cơ sở.
Thứ năm, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng phát triển rõ hơn quan điểm lấy Nhân dân và kết quả phục vụ Nhân dân làm căn cứ kiểm nghiệm chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Việc xác định “sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc” là tiêu chí đánh giá cán bộ làm cho quan điểm “vì Nhân dân” có thêm nội dung có thể kiểm nghiệm trong thực tiễn. Hệ thống chính trị không thể chỉ đánh giá chất lượng hoạt động thông qua quy trình nội bộ, khối lượng công việc hoặc những tiêu chí hành chính; hiệu quả cuối cùng phải được phản ánh ở khả năng giải quyết những vấn đề của thực tiễn, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, cải thiện đời sống và tạo được niềm tin của Nhân dân.
Từ đó có thể thấy, điểm nổi bật trong quan điểm của Đại hội XIV của Đảng là sự thống nhất giữa Nhân dân với tư cách chủ thể của quyền lực, Nhân dân với tư cách chủ thể tham gia xây dựng và kiểm soát quyền lực, và Nhân dân với tư cách mục tiêu phục vụ, chủ thể thụ hưởng và căn cứ đánh giá quyền lực. Đây không phải những vai trò tách rời. Quyền lực bắt nguồn từ Nhân dân thì quá trình thực thi quyền lực phải có sự tham gia và giám sát của Nhân dân; kết quả của việc thực thi quyền lực phải phục vụ Nhân dân; mức độ đạt được mục tiêu đó lại phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn đời sống và sự đánh giá của Nhân dân. Chính sự thống nhất ấy làm rõ bản chất dân chủ của hệ thống chính trị và tạo cơ sở chính trị – xã hội cho việc tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.
3. Phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay
Quan điểm Đại hội XIV của Đảng về phát huy vai trò của Nhân dân cần được đặt trong bối cảnh hệ thống chính trị Việt Nam đang có những điều chỉnh quan trọng về tổ chức, phương thức hoạt động và yêu cầu quản trị. Đại hội XIV xác định tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; bảo đảm các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu phải đồng thời giải quyết hai vấn đề có quan hệ chặt chẽ: đổi mới, hoàn thiện tổ chức và phương thức vận hành của hệ thống chính trị; đồng thời mở rộng và nâng cao tính thực chất của các cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
Một là, cần tiếp tục cụ thể hóa quan điểm “Dân là gốc” thành các cơ chế thực chất để Nhân dân tham gia toàn bộ quá trình xây dựng và hoạt động của hệ thống chính trị. Khoảng cách giữa quyền được quy định và khả năng thực hiện quyền trong thực tiễn là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Một cơ chế dân chủ chỉ phát huy giá trị khi người dân biết rõ mình được tham gia vào vấn đề gì, ở thời điểm nào, bằng hình thức nào; cơ quan nào có trách nhiệm tiếp nhận; ý kiến được xử lý ra sao và kết quả xử lý được phản hồi như thế nào.
Bởi vậy, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cần được nhìn nhận như một chu trình hoàn chỉnh của quyền làm chủ. “Dân biết” là tiền đề thông tin; nếu thiếu công khai, minh bạch thì không có cơ sở cho sự tham gia có chất lượng. “Dân bàn” thể hiện quyền tham gia hình thành quyết định. “Dân làm” xác định Nhân dân là lực lượng trực tiếp chuyển hóa chủ trương thành kết quả thực tiễn. “Dân kiểm tra, dân giám sát” bảo đảm quyền lực đã được trao không tách khỏi sự kiểm soát của chủ thể quyền lực. “Dân thụ hưởng” xác lập mối liên hệ giữa quá trình phát triển với lợi ích thực tế của Nhân dân. Nếu một khâu bị hình thức hóa, tính chỉnh thể của cơ chế dân chủ cũng bị hạn chế.
Hai là, cần đổi mới thực chất cơ chế tham vấn, đối thoại và tiếp nhận phản hồi của Nhân dân trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách và pháp luật. Trong điều kiện cơ cấu xã hội, nhu cầu và lợi ích ngày càng đa dạng, việc hoạch định chính sách từ một chiều khó có thể phản ánh đầy đủ những vấn đề phát sinh trong đời sống. Tham vấn Nhân dân phải được tiến hành đủ sớm để ý kiến xã hội có khả năng tác động đến nội dung quyết định, thay vì chủ yếu nhằm tạo sự đồng thuận đối với phương án đã được hình thành.
Điều quan trọng hơn là phải nâng cao chất lượng xử lý ý kiến sau tham vấn. Người dân cần biết ý kiến nào được tiếp thu, ý kiến nào chưa được tiếp thu và căn cứ của việc lựa chọn đó. Cơ chế phản hồi như vậy vừa thể hiện sự tôn trọng Nhân dân, vừa nâng cao trách nhiệm của chủ thể hoạch định chính sách. Đối thoại cũng cần được tổ chức theo nguyên tắc hai chiều: cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin, giải thích chính sách; đồng thời lắng nghe để nhận diện những tác động chưa được dự liệu, những lợi ích chưa được tính toán đầy đủ và những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn.
Ba là, phải gắn phát huy vai trò của Nhân dân với hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nhân dân chỉ có thể giám sát quyền lực khi có đủ thông tin cần thiết về thẩm quyền, quy trình, nội dung quyết định, việc sử dụng nguồn lực và kết quả thực hiện. Do đó, công khai, minh bạch không đơn thuần là yêu cầu về quản trị mà là điều kiện để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
Giám sát của Nhân dân không thay thế kiểm tra, giám sát của Đảng, giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, thanh tra, kiểm toán hay các cơ chế kiểm soát khác. Giá trị riêng của giám sát xã hội nằm ở khả năng cung cấp nguồn thông tin trực tiếp từ thực tiễn, nhất là những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa bộ máy với người dân. Thông qua phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, giám sát và phản biện xã hội, những biểu hiện quan liêu, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm, lãng phí hoặc bất hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách có thể được nhận diện sớm hơn. Tuy nhiên, giám sát chỉ thực chất khi kết quả giám sát gắn với trách nhiệm giải trình và xử lý. Nếu ý kiến của Nhân dân được tiếp nhận nhưng không có cơ chế phản hồi; nếu kiến nghị đúng không dẫn tới sự điều chỉnh cần thiết; nếu người chịu trách nhiệm không phải giải trình thì giám sát khó tạo ra tác động thực tế. Vì vậy, cần hình thành mối liên hệ chặt chẽ giữa công khai thông tin – giám sát – giải trình – xử lý kiến nghị – công khai kết quả xử lý.
Bốn là, cần nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội với tư cách những thiết chế trực tiếp tổ chức và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Yêu cầu quan trọng nhất không phải mở rộng đơn thuần số lượng hoạt động mà nâng cao năng lực đại diện. Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội phải thực sự nắm được những vấn đề mà Nhân dân quan tâm, phản ánh trung thực những lợi ích chính đáng, lựa chọn đúng vấn đề để giám sát, phản biện và theo đuổi việc giải quyết kiến nghị đến kết quả cuối cùng.
Trong bối cảnh đời sống xã hội thay đổi nhanh, các hình thức tập hợp, biểu đạt lợi ích và trao đổi thông tin của người dân ngày càng đa dạng, phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội cũng cần tiếp tục đổi mới. Cùng với những phương thức truyền thống, cần khai thác phù hợp các nền tảng số để tiếp nhận ý kiến, khảo sát xã hội, công khai kết quả giám sát, phản biện và duy trì sự tương tác thường xuyên với đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Công nghệ có thể mở rộng khả năng tham gia, nhưng không thay thế yêu cầu về tính đại diện, trách nhiệm và chất lượng xử lý ý kiến.
Năm là, phải gắn việc phát huy vai trò của Nhân dân với xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân. Mọi cơ chế dân chủ cuối cùng đều được thực hiện thông qua hoạt động cụ thể của tổ chức và con người. Một hệ thống quy định tương đối đầy đủ vẫn có thể không phát huy hiệu quả nếu người thực thi thiếu trách nhiệm, né tránh đối thoại, không tôn trọng ý kiến của Nhân dân hoặc coi việc tiếp nhận phản ánh chỉ là thủ tục hành chính.
Việc Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ có ý nghĩa trực tiếp đối với đổi mới công tác cán bộ. Điều cần thiết là tiếp tục cụ thể hóa tiêu chí này thành những phương thức đánh giá khách quan, phù hợp với từng lĩnh vực và vị trí công tác, tránh cả hai khuynh hướng: hoặc chỉ đánh giá cán bộ bằng các tiêu chí nội bộ, hoặc giản đơn hóa sự hài lòng thành một chỉ số hình thức. Sự đánh giá của Nhân dân phải được đặt cùng với kết quả thực hiện chức trách, chất lượng phục vụ, tính liêm chính, kỷ luật, năng lực giải quyết công việc và trách nhiệm trước những vấn đề thuộc thẩm quyền.
Sáu là, cần phát huy đầy đủ vai trò của Nhân dân trong quá trình tiếp tục đổi mới, sắp xếp và hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả không chỉ là sự thay đổi về đầu mối tổ chức. Quá trình này trực tiếp tác động đến chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, quy trình giải quyết công việc và quan hệ giữa cơ quan công quyền với người dân. Vì vậy, hiệu quả của đổi mới tổ chức bộ máy cuối cùng phải được thể hiện ở chất lượng phục vụ tốt hơn, thủ tục thuận lợi hơn, trách nhiệm rõ hơn và khả năng đáp ứng quyền, lợi ích chính đáng của Nhân dân cao hơn.
Trong quá trình đó, ý kiến và trải nghiệm thực tế của Nhân dân là một nguồn thông tin quan trọng để đánh giá chất lượng sau sắp xếp. Một tổ chức có thể giảm đầu mối nhưng chưa chắc đã hiệu quả hơn nếu phát sinh tầng nấc trung gian trong xử lý công việc hoặc làm giảm khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Ngược lại, bộ máy tinh gọn thực sự phải đồng thời rút ngắn quy trình, xác định rõ trách nhiệm, nâng cao chất lượng phục vụ và tăng khả năng giám sát. Chính vì vậy, phản hồi của Nhân dân phải trở thành một trong những căn cứ để kiểm nghiệm kết quả đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Bảy là, mở rộng các hình thức tham gia phải đồng thời nâng cao năng lực thực hành dân chủ, ý thức pháp luật và trách nhiệm công dân của Nhân dân. Dân chủ không chỉ là hệ thống quyền mà còn gắn với trách nhiệm thực hiện quyền đúng pháp luật và vì lợi ích chung. Trong điều kiện không gian số ngày càng trở thành môi trường quan trọng của đời sống xã hội, khả năng tiếp cận thông tin, phân biệt thông tin đúng – sai, biểu đạt quan điểm có căn cứ và tham gia thảo luận xã hội một cách có trách nhiệm ngày càng có ý nghĩa đối với chất lượng thực hành dân chủ.
Bởi vậy, phát huy vai trò của Nhân dân cần gắn với nâng cao dân trí, văn hóa pháp luật, kỹ năng tham gia và năng lực sử dụng các thiết chế dân chủ. Mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, thượng tôn pháp luật; bảo đảm quyền biểu đạt, giám sát, phản biện chính đáng đồng thời với trách nhiệm tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cộng đồng và người khác. Đây là điều kiện để quyền làm chủ trở thành nguồn lực tích cực đối với xây dựng hệ thống chính trị và phát triển xã hội.
Quan điểm của Đại hội XIV của Đảng về phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị là sự kế thừa nhất quán tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đồng thời thể hiện bước phát triển trong nhận thức của Đảng về cơ chế thực hiện quyền làm chủ trong điều kiện mới. Điểm cốt lõi không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định Nhân dân là chủ thể, giữ vị trí trung tâm, mà còn ở yêu cầu dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; mở rộng sự tham gia của Nhân dân từ xây dựng đến thực hiện, giám sát và đánh giá quyết định; gắn quyền làm chủ với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình; đồng thời lấy hiệu quả phục vụ, hạnh phúc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm căn cứ quan trọng để kiểm nghiệm chất lượng của tổ chức và cán bộ.
4. Kết luận
Trong giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả ngày càng cao, phát huy vai trò của Nhân dân càng không thể dừng ở nguyên tắc chính trị chung. Vấn đề có ý nghĩa quyết định là tiếp tục hoàn thiện thể chế và các cơ chế cụ thể để Nhân dân có đủ thông tin, có khả năng tham gia, có điều kiện giám sát và có tiếng nói thực chất đối với những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích và đời sống của mình. Khi quyền làm chủ được hiện thực hóa trong toàn bộ quá trình vận hành quyền lực, sự tham gia của Nhân dân sẽ trở thành nguồn lực trực tiếp để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, qua đó củng cố nền tảng xã hội và sức mạnh của hệ thống chính trị Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.



