Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Factors affecting state management of historical and cultural relics associated with the Tay Son movement in Gia Lai Province

ThS. Cao Kỳ Nam
Trường Đại học Quy Nhơn
Email: caokynam@qnu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Hệ thống di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai có giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học và phát triển. Đến tháng 12/2025, tỉnh Gia Lai có 196 di tích lịch sử – văn hóa được xếp hạng, trong đó có 25 di tích, cụm di tích gắn với phong trào Tây Sơn, gồm 43 điểm di tích thành phần. Bài viết sử dụng phân tích tài liệu, khảo sát thực địa, phỏng vấn 40 chủ thể có liên quan, phân tích nội dung theo chủ đề với MAXQDA và ma trận đánh giá tổng hợp. Kết quả cho thấy, các yếu tố có vai trò và cơ chế tác động khác nhau, trong đó năng lực thực thi, nguồn lực, sự tham gia của cộng đồng và chuyển đổi số là những vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; di tích lịch sử – văn hóa; phong trào Tây Sơn; Gia Lai; yếu tố ảnh hưởng.

Abstract: The system of historical and cultural relics associated with the Tay Son Movement in Gia Lai Province holds significant historical, cultural, educational, scientific, and developmental value. As of December 2025, Gia Lai Province had 196 recognized historical and cultural relics, including 25 relics and relic clusters associated with the Tay Son Movement, comprising 43 constituent relic sites. The article employs document analysis, field surveys, interviews with 40 relevant stakeholders, thematic content analysis using MAXQDA, and an integrated assessment matrix. The findings indicate that these factors differ in their roles and mechanisms of influence, with implementation capacity, resources, community participation, and digital transformation requiring particular attention. On this basis, the article proposes several implications for improving state management and enhancing the effectiveness of the conservation and promotion of the values of the relic system.

Keywords: State management; historical and cultural relics; Tay Son Movement; Gia Lai; influencing factors.

1. Đặt vấn đề

Phong trào Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII có vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa. Trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay, không gian lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn được hình thành chủ yếu trên địa bàn Tây Sơn thượng đạo, Tây Sơn hạ đạo và vùng phụ cận. Đây là không gian lưu giữ nhiều dấu tích, địa danh, truyền thuyết và ký ức cộng đồng liên quan đến quá trình hình thành, phát triển của phong trào Tây Sơn; đồng thời, phản ánh sự giao lưu, liên kết giữa các không gian văn hóa Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.

Đến tháng 12/2025, toàn tỉnh Gia Lai có 196 di tích lịch sử – văn hóa được xếp hạng; trong đó xác định 25 di tích, cụm di tích gắn với phong trào Tây Sơn, gồm 43 điểm di tích thành phần. Quần thể di tích Tây Sơn thượng đạo được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 93/QĐ-TTg ngày 18/01/2022, gồm 9 di tích, cụm di tích thành phần (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2025). Hệ thống di tích này phân bố trên không gian rộng, có sự khác biệt về loại hình, cấp xếp hạng, giá trị, điều kiện bảo tồn và khả năng khai thác, phát huy giá trị.

Các di tích gắn với phong trào Tây Sơn có giá trị đa dạng về lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học và phát triển. Nhiều di tích phản ánh quá trình xây dựng căn cứ, tổ chức và huấn luyện lực lượng, hoạt động quân sự, giao thương, bảo đảm nguồn lực cũng như đời sống cộng đồng trong không gian Tây Sơn (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2017). Bên cạnh các giá trị vật thể, hệ thống di tích còn gắn với truyền thuyết, tín ngưỡng, ký ức và các thực hành văn hóa được cộng đồng lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do đó, bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích không chỉ là yêu cầu bảo vệ các chứng tích lịch sử mà còn liên quan đến giáo dục truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hóa, nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch và tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

Từ góc độ quản lý công và quản trị di sản, QLNN đối với di tích là một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo thể chế, điều phối và bảo đảm lợi ích công; đồng thời, chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và các chủ thể có liên quan cùng tham gia vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Cách tiếp cận hệ thống được sử dụng để xem xét các yếu tố ảnh hưởng trong mối quan hệ tương tác, qua đó, tránh cách nhìn tách rời từng yếu tố và làm rõ sự khác biệt giữa các yếu tố về vai trò, cơ chế tác động và khả năng can thiệp.

Trên cơ sở tham khảo cách tiếp cận phân tích môi trường của Aguilar (1967) và khung PESTEL (Aguilar, 1967; Braun, 2006). Đồng thời, điều chỉnh theo đặc thù quản lý di tích lịch sử – văn hóa, nghiên cứu xây dựng khung phân tích gồm các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai, gồm: chính trị và pháp lý; kinh tế, nguồn nhân lực, năng lực quản lý và tổ chức bộ máy; văn hóa cộng đồng và nhận thức xã hội; công nghệ và chuyển đổi số. Các nhóm yếu tố được xem xét trên bốn phương diện: mức độ ảnh hưởng, mức độ cấp thiết, khả năng can thiệp và tính bền vững.

Để nhận diện và phân tích các yếu tố trên, bài viết sử dụng kết hợp phân tích tài liệu, khảo sát thực địa và phỏng vấn bán cấu trúc. Dữ liệu được thu thập từ 40 cuộc phỏng vấn với các chủ thể có liên quan đến hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Dữ liệu định tính được xử lý theo phương pháp phân tích nội dung theo chủ đề với sự hỗ trợ của phần mềm MAXQDA. Các tỷ lệ được sử dụng nhằm phản ánh mức độ xuất hiện của các chủ đề và nhận định trong mẫu nghiên cứu, phục vụ việc so sánh và nhận diện xu hướng, không nhằm suy rộng thống kê cho toàn bộ các chủ thể quản lý di tích trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở dữ liệu đã được mã hóa và phân loại, ma trận tổng hợp được sử dụng để đối chiếu các nhóm yếu tố theo bốn tiêu chí nêu trên.

2. Khái quát hệ thống di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai

2.1. Không gian và quy mô hệ thống di tích

Không gian lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn là không gian có mối liên hệ giữa miền núi và đồng bằng, giữa các cộng đồng cư dân và các tuyến giao thương, qua đó, góp phần tạo điều kiện cho quá trình hình thành căn cứ, tập hợp lực lượng, bảo đảm hậu cần và phát triển hoạt động của phong trào Tây Sơn.

Hệ thống các di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai có sự khác biệt về loại hình, cấp xếp hạng, quy mô, tình trạng bảo tồn và điều kiện khai thác, phát huy giá trị. Sự phân bố của hệ thống di tích trên không gian tương đối rộng, cùng với sự khác biệt về điều kiện địa hình, dân cư, hạ tầng và khả năng tiếp cận, tạo nên đặc điểm quản lý đa dạng giữa các di tích. Đồng thời, mối liên hệ giữa các di tích trong cùng không gian lịch sử – văn hóa đòi hỏi việc bảo tồn và phát huy giá trị không chỉ được xem xét ở từng địa điểm riêng lẻ mà còn trong tính liên kết của toàn bộ hệ thống.

2.2. Giá trị của hệ thống di tích

Hệ thống di tích gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai có giá trị đa dạng, thể hiện trên cả phương diện vật thể và phi vật thể. Các di tích phản ánh nhiều khía cạnh của quá trình hình thành và phát triển phong trào Tây Sơn, từ xây dựng căn cứ, tổ chức và huấn luyện lực lượng, hoạt động quân sự đến giao thương, bảo đảm nguồn lực và đời sống cộng đồng.

Các di tích Lũy An Khê, An Khê trường, An Khê đình và Gò Chợ là những trường hợp tiêu biểu cho mối liên hệ giữa các chức năng lịch sử khác nhau trong không gian Tây Sơn thượng đạo (Thị ủy An Khê, tỉnh Gia Lai, 2025). Lũy An Khê và An Khê trường gắn với xây dựng căn cứ, phòng thủ và huấn luyện lực lượng; An Khê đình gắn với sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống cộng đồng; Gò Chợ phản ánh hoạt động giao thương, trao đổi hàng hóa và cung cấp nguồn lực cho phong trào.

Bên cạnh giá trị lịch sử, các di tích còn gắn với truyền thuyết, tín ngưỡng, ký ức và thực hành văn hóa của cộng đồng. Những giá trị này góp phần duy trì mối liên hệ giữa di tích với đời sống xã hội và tạo nên bản sắc riêng của không gian lịch sử – văn hóa Tây Sơn.

Có thể khái quát giá trị của hệ thống di tích trên các phương diện chủ yếu: lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học và phát triển. Giá trị lịch sử cung cấp những chứng tích về phong trào Tây Sơn; giá trị văn hóa gắn với truyền thống, ký ức và các thực hành văn hóa; giá trị giáo dục tạo điều kiện giáo dục lịch sử và truyền thống; giá trị khoa học cung cấp tư liệu cho nghiên cứu; còn giá trị phát triển mở ra khả năng kết nối di sản với du lịch, giáo dục, nghiên cứu và các hoạt động văn hóa.

Từ đặc điểm về không gian, quy mô và giá trị nêu trên, hệ thống di tích gắn với phong trào Tây Sơn đặt ra yêu cầu quản lý theo hướng liên ngành, liên địa bàn, kết hợp bảo tồn với phát huy giá trị và tăng cường sự tham gia của các chủ thể xã hội.

3. Các yếu tố ảnh hưởng và những điểm nghẽn

3.1. Yếu tố chính trị và pháp lý

Yếu tố chính trị và pháp lý tạo thành nền tảng định hướng và thể chế cho QLNN đối với di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn. Yếu tố chính trị thể hiện ở việc xác lập quan điểm, mục tiêu và định hướng bảo tồn, phát huy giá trị di tích; trong khi pháp lý xác định nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế tổ chức thực hiện. Đối với hệ thống di tích có tính liên kết về lịch sử, văn hóa và phân bố trên nhiều địa bàn, hai yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính thống nhất của hoạt động quản lý.

Kết quả phân tích 40 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc cho thấy, yếu tố chính trị được nhận diện khá rõ trong tổng thể các yếu tố ảnh hưởng, với 38/40 người (chiếm 95%) đề cập đến yếu tố này. Tuy nhiên, khi đặt trong tương quan với các yếu tố khác, chính trị không được lựa chọn là nhóm ảnh hưởng mạnh nhất đến hiệu quả quản lý hiện nay (yếu tố kinh tế được 19/40 người (47,5%) lựa chọn, trong khi nguồn nhân lực, năng lực quản lý và tổ chức bộ máy được 18/40 người (45%) lựa chọn). Kết quả này cho thấy, vai trò của chính trị chủ yếu được nhận thức ở phương diện nền tảng và định hướng, trong khi những yếu tố tác động trực tiếp hơn đến hiệu quả quản lý tập trung ở nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện.

Điều này được thể hiện rõ hơn khi xem xét các điểm nghẽn trong thực tiễn quản lý. Nguồn lực tài chính được 36/40 người (90%) đề cập; nhân lực 22/40 người (55%); tổ chức thực thi 11/40 người (27,5%) và phối hợp quản lý 5/40 người (12,5%). Như vậy, mặc dù định hướng chính trị được đánh giá là tương đối rõ, hiệu quả quản lý vẫn phụ thuộc đáng kể vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chính sách, nguồn lực, tổ chức bộ máy và năng lực thực thi cụ thể.

Đối với yếu tố pháp lý, kết quả phỏng vấn cho thấy, đây là thành tố quan trọng của môi trường thể chế nhưng không nổi lên như một điểm nghẽn chủ yếu. Chỉ 1/40 người (2,5%) đề cập đến vấn đề thuộc nhóm thể chế khi nhận diện các điểm nghẽn. Đồng thời, 5/40 người (12,5%) đánh giá pháp lý là yếu tố có khả năng can thiệp cao và 6/40 người (15%) nhận định có tác động bền vững lâu dài, không có người tham gia lựa chọn pháp lý là nhóm cần ưu tiên xử lý trước mắt.

Kết quả đánh giá tổng hợp cũng cho thấy, yếu tố chính trị có mức độ ảnh hưởng cao và tính bền vững cao, trong khi mức độ cấp thiết và khả năng can thiệp trực tiếp thấp hơn. Yếu tố pháp lý có mức độ ảnh hưởng cao, khả năng can thiệp khá cao và tính bền vững cao, giữ vai trò khuôn khổ thể chế. Như vậy, vấn đề đặt ra đối với hai yếu tố này là bảo đảm sự thống nhất, rõ ràng về trách nhiệm và nâng cao khả năng chuyển hóa định hướng, quy định thành hành động quản lý cụ thể.

3.2. Yếu tố kinh tế, nguồn nhân lực và năng lực thực thi

Kinh tế, nguồn nhân lực, năng lực quản lý và tổ chức bộ máy là nhóm yếu tố có quan hệ chặt chẽ với khả năng thực hiện các nhiệm vụ quản lý trên thực tế. Nếu nguồn lực kinh tế tạo điều kiện vật chất thì nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy quyết định khả năng chuyển hóa nguồn lực, chính sách và quy định thành kết quả bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

Nguồn lực tài chính cần thiết cho nhiều hoạt động, như: bảo vệ, tu bổ, tôn tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng, nghiên cứu, tuyên truyền và phát huy giá trị di tích. Với hệ thống di tích phân bố trên không gian rộng, nhu cầu nguồn lực có tính thường xuyên và lâu dài. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 36/40 người (90%) đề cập nguồn lực tài chính khi nhận diện những vấn đề ảnh hưởng đến QLNN. Đây là tỷ lệ cao nhất trong các vấn đề được xác định.

Nguồn nhân lực cũng là một vấn đề đáng chú ý. Có 22/40 người (55%) đề cập đến nhân lực khi nhận diện các vấn đề ảnh hưởng đến quản lý. Đồng thời, 30/40 người (75%) xác định nhóm nguồn nhân lực, năng lực quản lý và tổ chức bộ máy là nhóm cần ưu tiên xử lý; 17/40 người (42,5%) đánh giá nhóm này có khả năng can thiệp cao.

Từ phân tích kết quả phỏng vấn cho thấy, nhóm nguồn nhân lực, năng lực quản lý và tổ chức bộ máy có mức độ ảnh hưởng cao, mức độ cấp thiết cao, khả năng can thiệp cao và tính bền vững cao, giữ vai trò năng lực thực thi. Trong khi đó, yếu tố kinh tế có mức độ ảnh hưởng, cấp thiết và khả năng can thiệp cao, nhưng tính bền vững ở mức trung bình, vai trò nổi bật là nguồn lực và điều kiện bảo đảm.

Bên cạnh nguồn lực và nhân lực, vấn đề tổ chức thực thi và phối hợp cũng xuất hiện trong dữ liệu phỏng vấn. Có 11/40 người (27,5%) xác định tổ chức thực thi là một điểm nghẽn, trong khi 5/40 người (12,5%) đề cập đến phối hợp quản lý.

Những kết quả này cho thấy, điểm nghẽn không chỉ nằm ở “thiếu tài chính” hay “thiếu nhân lực” mà còn nằm ở khả năng tổ chức và phối hợp để sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có. Một bộ máy có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng nhưng thiếu nhân lực phù hợp hoặc cơ chế phối hợp hiệu quả vẫn có thể hạn chế năng lực thực thi. Ngược lại, nguồn lực được tăng cường nhưng không đi kèm năng lực tổ chức và chuyên môn phù hợp cũng khó tạo ra chuyển biến tương xứng.

3.3. Yếu tố văn hóa, cộng đồng và nhận thức xã hội

Yếu tố văn hóa, cộng đồng và nhận thức xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến QLNN đối với di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn. Nếu chính trị giữ vai trò định hướng, pháp lý tạo lập khuôn khổ thể chế, kinh tế bảo đảm nguồn lực và nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy bảo đảm năng lực thực thi thì văn hóa tạo nền tảng giá trị và bối cảnh, còn cộng đồng và nhận thức xã hội tạo nền tảng xã hội và tính bền vững.

Đối với hệ thống di tích gắn với phong trào Tây Sơn, các giá trị lịch sử không chỉ được lưu giữ qua địa điểm, công trình và dấu tích vật chất mà còn gắn với ký ức cộng đồng, truyền thuyết, tín ngưỡng, lễ hội và các thực hành văn hóa. Sự đa dạng về cộng đồng cư dân và không gian văn hóa vừa làm phong phú giá trị di sản, vừa đặt ra yêu cầu quản lý phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, từng cộng đồng.

Kết quả phân tích 40 cuộc phỏng vấn cho thấy, 33/40 người (82,5%) đề cập đến yếu tố văn hóa. Tuy nhiên, không có người tham gia lựa chọn văn hóa là nhóm có xu hướng tác động mạnh hơn trong thời gian tới hoặc ảnh hưởng mạnh nhất đến hiệu quả quản lý hiện nay. Điều này cho thấy, văn hóa chủ yếu tác động ở phương diện nền tảng giá trị và bối cảnh, mang tính gián tiếp và xuyên suốt hơn là một điểm nghẽn có thể can thiệp bằng một biện pháp quản lý đơn lẻ.

Đối với cộng đồng và nhận thức xã hội, cơ chế tác động thể hiện qua nhận thức, sự đồng thuận và mức độ tham gia của người dân trong bảo vệ, giám sát và phát huy giá trị di tích. Kết quả phỏng vấn cho thấy, 39/40 người (97,5%) đề cập đến nhóm yếu tố này. Đáng chú ý, 24/40 người (60%) đánh giá cộng đồng và nhận thức xã hội có khả năng tạo ra tác động bền vững lâu dài, cao nhất trong các nhóm yếu tố được xem xét.

Kết quả trên cho thấy, cộng đồng và nhận thức xã hội có thể chưa phải là điểm nghẽn cần ưu tiên can thiệp trực tiếp trong ngắn hạn nhưng giữ vai trò quan trọng đối với khả năng duy trì kết quả quản lý trong dài hạn. Vì vậy, QLNN cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu “quản lý cộng đồng” sang “quản trị với cộng đồng”, tạo điều kiện để người dân tham gia cung cấp thông tin, bảo vệ, giám sát và phát huy giá trị di tích.

Bên cạnh đó, phát huy giá trị di tích cần gắn với giáo dục, văn hóa và du lịch nhưng phải bảo đảm tính xác thực và toàn vẹn của di sản, tránh thương mại hóa hoặc sân khấu hóa quá mức. Như vậy, văn hóa là nền tảng về giá trị và bối cảnh; cộng đồng và nhận thức xã hội là nền tảng xã hội và tính bền vững của QLNN đối với hệ thống di tích.

3.4. Yếu tố công nghệ và chuyển đổi số

Công nghệ và chuyển đổi số tạo ra khả năng đổi mới phương thức quản lý di tích, từ số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu, quản lý thông tin đến quảng bá và phát huy giá trị di sản. Đối với hệ thống di tích phân bố trên không gian rộng, ứng dụng công nghệ có thể tăng khả năng kết nối thông tin giữa các di tích và giữa các chủ thể quản lý.

Kết quả đánh giá tổng hợp xác định công nghệ và chuyển đổi số có mức độ ảnh hưởng khá cao, mức độ cấp thiết cao, khả năng can thiệp cao và tính bền vững cao, với vai trò nổi bật là động lực đổi mới.

Dữ liệu phỏng vấn cho thấy 40/40 người (100%) đề cập vấn đề công nghệ và chuyển đổi số khi trao đổi về các vấn đề liên quan đến QLNN đối với di tích. Có 18/40 người (45%), nhận định công nghệ và chuyển đổi số có xu hướng tác động mạnh hơn trong thời gian tới, trong khi 13/40 người (32,5%), đánh giá đây là nhóm có khả năng can thiệp cao.

Những kết quả trên cho thấy, chuyển đổi số đang được nhìn nhận không chỉ như một công cụ kỹ thuật mà còn như một hướng đổi mới phương thức quản lý. Tuy nhiên, điểm nghẽn không đơn thuần nằm ở khả năng tiếp cận công nghệ mà còn ở xây dựng, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu; hạ tầng; nguồn lực triển khai và năng lực số của đội ngũ. Vì vậy, hiệu quả của chuyển đổi số phụ thuộc vào nhóm yếu tố nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy và kinh tế.

3.5. Mối quan hệ giữa các yếu tố và những vấn đề đặt ra

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhóm yếu tố không tác động độc lập mà có mối quan hệ tương tác, tạo thành các lớp tác động khác nhau đối với QLNN. Trong đó, chính trị và pháp lý tạo định hướng, khuôn khổ thể chế; kinh tế, nguồn nhân lực và tổ chức bộ máy tạo nguồn lực và năng lực thực thi; văn hóa, cộng đồng và công nghệ tạo nền tảng xã hội, tính bền vững và động lực đổi mới.

Các điểm nghẽn chủ yếu tập trung ở nguồn lực tài chính, năng lực thực thi, tổ chức và phối hợp quản lý. Những hạn chế này có quan hệ chặt chẽ với nhau: nguồn lực hạn chế ảnh hưởng đến đầu tư cho nhân lực và công nghệ; năng lực thực thi chưa đáp ứng làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực; trong khi chuyển đổi số muốn phát huy hiệu quả cần có dữ liệu, hạ tầng và nhân lực phù hợp. Vì vậy, hoàn thiện QLNN cần được tiếp cận đồng bộ giữa thể chế, nguồn lực, năng lực thực thi, sự tham gia của cộng đồng và đổi mới công nghệ.

4. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực thực thi. Cần rà soát, làm rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương có liên quan, hạn chế tình trạng chồng chéo, phân tán hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Đối với hệ thống di tích phân bố trên không gian rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực, cần xác lập cơ chế phối hợp rõ về trách nhiệm, trao đổi thông tin và xử lý các vấn đề liên ngành. Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng đội ngũ trực tiếp thực hiện quản lý di tích theo hướng kết hợp kiến thức về pháp luật với chuyên môn lịch sử, văn hóa, bảo tồn di sản, quản lý, truyền thông và làm việc với cộng đồng. Việc đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với yêu cầu của từng vị trí việc làm và đặc điểm của hệ thống di tích.

Bên cạnh đó, cần gắn phân công trách nhiệm với cơ chế đánh giá kết quả thực thi. Khi trách nhiệm được xác định rõ, thông tin được chia sẻ và phối hợp được thực hiện thực chất, chính sách và nguồn lực mới có khả năng chuyển hóa thành kết quả bảo tồn và phát huy giá trị di tích.

Hai là, bảo đảm nguồn lực, phát huy vai trò cộng đồng và gắn bảo tồn với phát triển. Việc bố trí nguồn lực cần căn cứ vào giá trị, cấp xếp hạng, tình trạng bảo tồn, mức độ cấp thiết và yêu cầu phát huy giá trị của từng di tích; ưu tiên phù hợp đối với những di tích có giá trị nổi bật hoặc có nguy cơ xuống cấp. Đồng thời, cần huy động hợp lý nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng, bảo đảm công khai, minh bạch và tuân thủ các yêu cầu về bảo tồn.

Bên cạnh nguồn lực vật chất, cần coi cộng đồng là một chủ thể tham gia quản trị di sản, thay vì chỉ là đối tượng tuyên truyền, vận động. Cơ chế tham gia cần tạo điều kiện để cộng đồng góp phần bảo vệ, giám sát và phát huy giá trị di tích; đồng thời, gắn lợi ích chính đáng của cộng đồng với bảo tồn, nhất là đối với những giá trị được duy trì thông qua truyền thuyết, ký ức và thực hành văn hóa.

Việc phát huy giá trị di tích cần được đặt trong quan hệ hài hòa với phát triển kinh tế – xã hội. Du lịch, giáo dục, nghiên cứu và các hoạt động văn hóa có thể tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn, nhưng việc khai thác phải phù hợp với đặc điểm và khả năng chịu tải của từng di tích, bảo đảm không làm tổn hại đến tính xác thực và toàn vẹn của di sản.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản lý. Cần xây dựng, chuẩn hóa và thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu về hệ thống di tích, bao gồm: vị trí, hồ sơ khoa học, cấp xếp hạng, hiện trạng, giá trị và nhu cầu bảo tồn. Việc kết nối dữ liệu có thể hỗ trợ theo dõi hiện trạng, lập kế hoạch, kiểm tra, giám sát và nâng cao chất lượng ra quyết định. Đồng thời, cần gắn chuyển đổi số với phát huy giá trị di tích thông qua số hóa tư liệu, bản đồ số và các phương thức giới thiệu phù hợp phục vụ nghiên cứu, giáo dục, truyền thông và du lịch. Tuy nhiên, đầu tư công nghệ cần đi cùng với chuẩn hóa dữ liệu, hạ tầng, nguồn lực và đào tạo nhân lực số; tránh tình trạng có công nghệ nhưng dữ liệu không đầy đủ, không liên thông hoặc không được khai thác hiệu quả.

Về lâu dài, chuyển đổi số cần được xem là một phương thức đổi mới quản lý, góp phần nâng cao khả năng kết nối thông tin, chất lượng ra quyết định và hiệu quả bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và phát huy giá trị di sản.

5. Kết luận

Hệ thống di tích lịch sử – văn hóa gắn với phong trào Tây Sơn trên địa bàn tỉnh Gia Lai mang giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, giáo dục, khoa học và phát triển. Việc bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di tích đòi hỏi QLNN theo hướng kết hợp hài hòa giữa bảo vệ giá trị gốc với phát huy di sản trong đời sống đương đại.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, những điểm nghẽn chủ yếu tập trung ở nguồn lực tài chính, năng lực thực thi, tổ chức và phối hợp quản lý. Sự tham gia của cộng đồng cùng năng lực chuyển đổi số ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với tính bền vững và khả năng đổi mới. Do đó, hiệu quả quản lý không thể cải thiện bằng giải pháp đơn lẻ mà cần tiếp cận đồng bộ, liên ngành, với sự tham gia của nhiều chủ thể. Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo và điều phối; đồng thời, cần nâng cao năng lực thực thi, huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò cộng đồng và đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc phát huy giá trị di tích phải gắn với yêu cầu bảo tồn, bảo đảm tính xác thực, toàn vẹn và khả năng duy trì giá trị di sản trong dài hạn.

Tài liệu tham khảo:
Aguilar, Francis J. (1967). Scanning the Business Environment, Macmillan. New York.
Braun, V., & Clarke, V. (2006). Using thematic analysis in psychology. Qualitative Research in Psychology, 3(2), pp. 77-101, https://doi.org/10.1191/1478088706qp063oa.
Lê Thị Thu Phượng (29/4/2025). Các yếu tố tác động đến quản lý di sản văn hóa. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/29/cac-yeu-to-tac-dong-den-quan-ly-di-san-van-hoa/
Quách Tấn & Quách Giao (2024). Nhà Tây Sơn. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Thị ủy An Khê, tỉnh Gia Lai (2025). Địa chí An Khê. Nxb Đà Nẵng.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2017). Tây Sơn Thượng đạo trong khởi nghĩa Tây Sơn. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2025). Quyết định số 3279/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 về ban hành Danh mục quản lý di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Gia Lai.