Digital transformation in the performance of public duties by commune-level civil servants – the case of Ho Chi Minh City
ThS. Nguyễn Thị Ngọc
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh
Email: ngocnguyentcb@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức thực thi công vụ của công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tập trung vào bốn phương diện: tái cấu trúc quy trình thực thi công vụ; liên thông, khai thác dữ liệu; quản lý, điều hành dựa trên dữ liệu và phát triển năng lực số của công chức. Kết quả cho thấy, Thành phố đã triển khai nền tảng chính quyền số, kết nối và khai thác dữ liệu; đào tạo nhân lực số, nâng cao hiệu quả và công khai, minh bạch trong quá trình thực thi công vụ. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, như: nền tảng số chưa đồng bộ; dữ liệu còn phân tán; phát triển năng lực số chưa gắn với vị trí việc làm và kết quả thực thi công vụ. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện chuyển đổi số trong thực thi công vụ của công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Chuyển đổi số; công chức cấp xã; thực thi công vụ; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Digital transformation is reshaping how commune-level civil servants in Ho Chi Minh City carry out their official duties. Through a review of existing literature, this study focuses on four key aspects: the restructuring of administrative workflows; data interconnection and utilization; data-driven management and operations; and the development of civil servants’ digital competencies. The findings indicate that the City has implemented digital government platforms, established data connectivity and utilization, and conducted digital skills training, thereby enhancing efficiency, openness, and transparency in the performance of official duties. However, certain limitations persist, such as a lack of synchronization across digital platforms, data fragmentation, and a disconnect between digital competency development and specific job roles or performance outcomes. Based on these findings, the study proposes policy recommendations to refine the digital transformation of official duty performance among commune-level civil servants in Ho Chi Minh City in the current period.
Keywords: Digital transformation; commune-level civil servants; performance of public duties; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang thúc đẩy sự chuyển dịch từ nền hành chính dựa trên tin học hóa nghiệp vụ sang quản trị dựa trên dữ liệu, tái cấu trúc quy trình và lấy người dân làm trung tâm trong cung ứng dịch vụ công (Mergel & cộng sự, 2019; Dunleavy & cộng sự, 2006). Trên nền tảng đó, Việt Nam xác định chuyển đổi số là động lực đột phá để đổi mới phương thức quản trị và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp (Thủ tướng Chính phủ, 2021, 2026). Tại TP. Hồ Chí Minh, mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 168 đơn vị cấp xã làm gia tăng yêu cầu về năng lực tổ chức và thực thi công vụ ở cơ sở (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Các nền tảng số đã được mở rộng, song mức độ tích hợp dữ liệu, khai thác dữ liệu và năng lực số trong thực thi công vụ vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện (Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, tập trung thu thập, phân tích và tổng hợp các văn bản pháp lý, chính sách, báo cáo và dữ liệu liên quan đến chuyển đổi số trong thực thi công vụ. Qua đó, nghiên cứu nhận diện kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuyển đổi số trong thực thi công vụ của công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh.
2. Cơ sở lý luận về chuyển đổi số trong thực thi công vụ của công chức cấp xã
Công vụ là hoạt động do cán bộ, công chức thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn được giao theo quy định của cấp có thẩm quyền và của pháp luật nhằm thực hiện quản lý nhà nước, đáp ứng nhu cầu chung của xã hội (Quốc hội, 2025). Thực thi công vụ của công chức cấp xã được hiểu là quá trình công chức sử dụng thẩm quyền, kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và nguồn lực công để tham mưu, tổ chức thực hiện pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, quản lý địa bàn, phối hợp liên ngành, xử lý phản ánh, kiến nghị và cung cấp dịch vụ công. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công chức cấp xã vừa trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, vừa là cầu nối truyền tải chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn. Vì vậy, chất lượng thực thi công vụ của công chức cấp xã phản ánh trực tiếp năng lực vận hành của chính quyền ở cơ sở.
Mergel & cộng sự (2019) xem chuyển đổi số trong khu vực công là sự thay đổi toàn diện về cách thức tổ chức vận hành và cung cấp giá trị, được thúc đẩy bởi công nghệ số nhưng không đồng nhất với việc mua sắm hoặc đưa công cụ vào quy trình sẵn có. Chuyển đổi số trong thực thi công vụ của công chức cấp xã được hiểu là quá trình sử dụng dữ liệu, nền tảng số, định danh điện tử, chữ ký số và công cụ hỗ trợ thông minh để tái cấu trúc chu trình thực hiện nhiệm vụ từ tiếp nhận, phân công, phối hợp, xử lý, phê duyệt, trả kết quả đến theo dõi và đánh giá theo hướng đúng pháp luật, minh bạch, có thể truy vết và lấy người dân làm trung tâm.
Trong môi trường số, hiệu quả thực thi phụ thuộc không chỉ vào công nghệ mà vào khả năng tái cấu trúc quy trình, tích hợp dữ liệu, đổi mới phương thức điều hành và phát triển năng lực số (Mergel & cộng sự, 2019; OECD, 2020, 2021). Vì vậy, chuyển đổi số phải được nhìn nhận như một thay đổi mang tính tổ chức, hướng tới tạo lập giá trị công thay vì đơn thuần số hóa nghiệp vụ (Dunleavy & cộng sự, 2006; OECD, 2019). Các mô hình nghiên cứu hiện nay về chính phủ số chủ yếu tập trung ở tầm vĩ mô, chưa có nhiều nghiên cứu làm rõ cách thức ứng dụng công nghệ, dữ liệu và kỹ năng số thành kết quả thực thi công vụ tại cấp cơ sở. Khoảng trống này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cấp xã trực tiếp thực hiện thêm nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung vào bốn phương diện: tái cấu trúc quy trình thực thi công vụ; liên thông, khai thác dữ liệu; điều hành, giám sát dựa trên dữ liệu; và phát triển năng lực số của công chức.
3. Thực trạng chuyển đổi số trong thực thi công vụ của công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh
(1) Tái cấu trúc quy trình thực thi công vụ trên nền tảng số.
Thành phố đã triển khai nền tảng chính quyền số đến 168 phường, xã, đặc khu; đã có 2.042/2.188 thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến, đạt 93,3%, trong đó dịch vụ công trực tuyến toàn trình chiếm hơn 80%. Đáng chú ý, 100% thủ tục hành chính liên quan hoạt động sản xuất – kinh doanh được xử lý trên môi trường điện tử; đồng thời, công bố 2.065 thủ tục đủ điều kiện thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính. Để chuẩn hóa quy trình, Thành phố đã rà soát 643 thủ tục được phân cấp, cắt giảm, đơn giản hóa, trong đó 157 thủ tục được phân cấp, 234 thủ tục bãi bỏ và 250 thủ tục được cắt giảm, đơn giản hóa (Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, 13/7/2026). Những kết quả này cho thấy, chuyển đổi số đã vượt khỏi điện tử hóa hồ sơ, bước đầu gắn với phân cấp thẩm quyền, chuẩn hóa và đơn giản hóa quy trình, qua đó, làm thay đổi cách thức tổ chức thực thi công vụ. Kết quả này phù hợp với Mergel & cộng sự (2019) khi chuyển đổi số khu vực công được nhìn nhận là quá trình thay đổi mang tính tổ chức, tác động đến quy trình, cấu trúc và phương thức tạo giá trị công.
Tuy nhiên, phần lớn sở, ban, ngành chưa có hệ thống quản lý phục vụ hoạt động chuyên ngành, dữ liệu chủ yếu lưu dưới dạng tệp Excel nên khó chia sẻ tự động. Trung tâm dữ liệu quốc gia chưa vận hành chính thức việc kết nối, chia sẻ dữ liệu quốc gia về giải quyết thủ tục hành chính và dữ liệu chuyên ngành; Cổng Dịch vụ công quốc gia đang triển khai mô hình “một cửa số” nên tiến độ hoàn thiện hệ sinh thái số địa phương còn phụ thuộc vào năng lực vận hành của hệ thống bộ, ngành (Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, 2026). Vì vậy, một số công việc công chức phải thao tác trên nhiều nền tảng, đối chiếu hoặc nhập lại dữ liệu nhiều lần. Nguyên nhân cốt lõi là số hóa chưa gắn đầy đủ với rà soát, đơn giản hóa, chuẩn hóa quy trình và kiến trúc dữ liệu, trong khi việc tổ chức lại đơn vị hành chính và phân cấp nhiệm vụ làm gia tăng yêu cầu đối với năng lực tổ chức và thích ứng công nghệ ở cấp cơ sở.
(2) Liên thông và khai thác dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính.
Thành phố đã rà soát 432 thủ tục có thể sử dụng dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành để thay thế thành phần hồ sơ (Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, 13/7/2026); đồng thời, tích hợp 30/45 cơ sở dữ liệu dùng chung và kết nối 13/16 nhóm dữ liệu quốc gia (Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2026). Những kết quả này cho thấy, dữ liệu đã từng bước được tích hợp vào chu trình thực thi công vụ, tạo điều kiện tái sử dụng thông tin, giảm yêu cầu cung cấp lại dữ liệu. Ở góc độ quản trị, đây là bước chuyển quan trọng từ số hóa thông tin sang khai thác dữ liệu như một nguồn lực tạo giá trị công, bởi dữ liệu được kết nối và tái sử dụng có thể hỗ trợ cung ứng dịch vụ, nâng hiệu quả xử lý và cải thiện năng lực quản trị (OECD, 2019). Qua đó, chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức tiếp nhận, xử lý hồ sơ mà từng bước giảm sự phụ thuộc vào thông tin do người dân cung cấp và tăng tính chủ động của cơ quan hành chính trong thực thi công vụ.
Tuy nhiên, mức độ liên thông và khai thác dữ liệu chưa đồng đều; việc tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống vẫn đang tiếp tục hoàn thiện (Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2026). Nguyên nhân cốt lõi là kiến trúc dữ liệu, chuẩn kết nối và cơ chế quản trị, chia sẻ dữ liệu chưa hoàn chỉnh, làm phát sinh các “kho dữ liệu biệt lập” và hạn chế khả năng tích hợp giữa hệ thống (OECD, 2019, 2020). Theo OECD (2019), thiếu kiến trúc dữ liệu thống nhất, tiêu chuẩn tương tác và cơ chế quản trị liên cơ quan là những rào cản trực tiếp đối với chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu trong khu vực công. Do mức độ tích hợp và chia sẻ dữ liệu chưa đồng đều, hiệu quả tái sử dụng dữ liệu trong một số khâu thực thi công vụ vẫn bị hạn chế.
(3) Đổi mới trong quản lý, điều hành, giám sát và phối hợp dựa trên dữ liệu.
Hệ thống quản lý văn bản dùng chung, trục liên thông văn bản quốc gia và nền tảng quản lý chính quyền số đã được triển khai tới cấp xã (Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, 2026). So với trao đổi thủ công, dữ liệu về trạng thái hồ sơ được lưu lại trên môi trường số giúp cán bộ, công chức nhận diện hồ sơ chậm trễ, xác định bộ phận đang xử lý và điều chỉnh phân công. Đây là thay đổi trực tiếp trong cơ chế phối hợp và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Tuy nhiên, dữ liệu hiện chủ yếu phục vụ theo dõi tiến độ và trạng thái xử lý, chưa được khai thác đầy đủ để phân tích khối lượng, độ phức tạp, nguyên nhân chậm trễ và chất lượng đầu ra. Nguyên nhân chủ yếu có thể được lý giải bởi dữ liệu chưa được chuẩn hóa đầy đủ theo mục đích quản trị, còn phân tán giữa các hệ thống và thiếu cơ chế tích hợp, phân tích thống nhất. Cách lý giải này phù hợp với yêu cầu của OECD (2019, 2020) về kết nối, tái sử dụng và chuyển hóa dữ liệu thành thông tin phục vụ quyết định. Vì vậy, sự phân tán và thiếu chuẩn hóa không chỉ hạn chế khả năng hình thành bức tranh tổng thể về hoạt động công vụ mà còn làm dữ liệu chủ yếu dừng ở chức năng giám sát. Điểm nghẽn cốt lõi không còn ở thu thập dữ liệu, mà ở năng lực chuyển hóa dữ liệu vận hành thành thông tin quản trị để phân bổ nguồn lực, điều chỉnh quy trình và đánh giá kết quả công vụ.
(4) Phát triển năng lực số của công chức.
Chuyển đổi số trong thực thi công vụ chỉ có thể thành công khi công chức có năng lực sử dụng và khai thác các công nghệ số. Thành phố đã bố trí nhân sự tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của 168 đơn vị cấp xã và 100% cán bộ, công chức cấp xã đã tham gia bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản. Đây là điều kiện cần để bảo đảm các nền tảng số được vận hành sau sắp xếp đơn vị hành chính. Bên cạnh đó, Thành phố đã tổ chức bồi dưỡng về quản trị công trong kỷ nguyên số cho 479 cán bộ lãnh đạo, quản lý. Trong đó, 300 học viên thuộc các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp xã tham gia chương trình MLP 2025; 53 học viên thuộc khối UBND phường, xã khu vực Bình Dương (cũ) tham gia chương trình MLP 2026; 126 học viên tại các phường Bà Rịa, Phú Mỹ và xã Đất Đỏ tham gia khóa “Lãnh đạo quản trị công trong kỷ nguyên số” (Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, 2026).
Kế hoạch 452/KH-UBND đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức, viên chức cơ sở được bồi dưỡng hằng năm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số và ứng dụng công nghệ số; đồng thời, phấn đấu bảo đảm năng lực làm việc trong môi trường số (Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, 2026). Các chương trình bồi dưỡng này hỗ trợ cho công chức có thể thao tác trên các nền tảng số mới. Đặc biệt, việc mở rộng bồi dưỡng từ kỹ năng số cơ bản sang khai thác trí tuệ nhân tạo (AI) và quản trị công số cho thấy yêu cầu năng lực đang từng bước chuyển từ sử dụng công cụ sang thích ứng với môi trường quản trị dựa trên dữ liệu.
Tuy nhiên, số lượng đào tạo chưa đồng nghĩa với năng lực áp dụng trong công vụ. Theo OECD (2021), công chức trong môi trường số cần năng lực khai thác dữ liệu, cộng tác trên nền tảng số, bảo đảm an toàn thông tin và sử dụng công nghệ mới có trách nhiệm. Mặc dù Thành phố đã định hướng đào tạo theo vị trí việc làm và nhóm chuyên môn, việc đánh giá mức độ chuyển hóa kết quả bồi dưỡng thành năng lực thực thi trong môi trường số vẫn cần được tăng cường (Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, 2026). Vì vậy, thách thức không còn là mở rộng tiếp cận công nghệ mà là chuyển từ biết sử dụng sang biết khai thác công nghệ để nâng cao chất lượng, hiệu quả và trách nhiệm công vụ.
4. Một số hàm ý chính sách
Một là, tái cấu trúc quy trình công vụ theo hướng “số hóa ngay từ đầu”, gắn với phân quyền, phân cấp. Thành phố cần chuyển trọng tâm từ điện tử hóa quy trình hiện hữu sang thiết kế lại quy trình dựa trên chức năng, thẩm quyền và kết quả đầu ra, trong đó công nghệ số được tích hợp ngay từ khâu thiết kế. Ưu tiên phải là loại bỏ các khâu trung gian, giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin và thống nhất quy trình đối với những nhiệm vụ có tính chất tương đồng giữa các đơn vị cấp xã. Đồng thời, cần gắn mỗi quy trình với một đầu mối chịu trách nhiệm và cơ chế kiểm soát trên môi trường số, qua đó, hạn chế tình trạng chuyển nguyên trạng quy trình giấy sang quy trình điện tử. Đối với các nhiệm vụ được phân cấp, ủy quyền, việc tái cấu trúc cần đồng thời làm rõ thẩm quyền quyết định, trách nhiệm giải trình và dữ liệu cần thiết cho từng cấp xử lý. Hàm ý cốt lõi là chuyển từ tư duy số hóa sang tái thiết kế cách thức thực thi công vụ bằng công nghệ số, để chuyển đổi số thực sự tạo ra thay đổi về hiệu quả, tính minh bạch và trách nhiệm của công chức cấp xã.
Hai là, chuyển từ kết nối hệ thống sang quản trị dữ liệu thống nhất. Thành phố cần coi dữ liệu là hạ tầng cốt lõi của thực thi công vụ, thay vì chỉ là sản phẩm đầu ra của các hệ thống nghiệp vụ. Trọng tâm là hình thành kiến trúc dữ liệu dùng chung, thống nhất chuẩn dữ liệu, mã định danh, nguyên tắc kết nối và quyền khai thác; đồng thời, xác lập rõ trách nhiệm của từng cơ quan đối với chất lượng, tính cập nhật và khả năng chia sẻ dữ liệu. Ưu tiên liên thông các cơ sở dữ liệu có giá trị sử dụng cao trong giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm dữ liệu được tạo lập một lần nhưng có thể khai thác nhiều lần theo đúng thẩm quyền. Qua đó, chuyển phương thức phục vụ từ người dân cung cấp thông tin sang cơ quan nhà nước chủ động khai thác thông tin đã có, giảm trùng lặp, hạn chế nhập liệu và nâng tính nhất quán trong xử lý.
Ba là, chuyển từ giám sát tiến độ sang điều hành và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Thành phố cần nâng cấp dữ liệu vận hành từ công cụ theo dõi sang hệ thống thông tin quản trị, phản ánh khối lượng, độ phức tạp, tiến độ, tỷ lệ bổ sung, chất lượng và nguyên nhân chậm trễ của hồ sơ. Trên cơ sở đó, dữ liệu phải trở thành căn cứ để lãnh đạo cấp xã phân bổ nhân lực, điều chỉnh quy trình, dự báo quá tải và đánh giá kết quả thực thi, thay vì chủ yếu kiểm soát thời hạn. Việc đánh giá công chức cần kết hợp chỉ số định lượng với mức độ phức tạp công việc, chất lượng xử lý, trách nhiệm giải trình và thẩm định chuyên môn, tránh đồng nhất năng suất với số lượng hồ sơ.
Bốn là, chuyển từ phổ cập kỹ năng số sang phát triển năng lực số theo vị trí việc làm và kết quả thực thi công vụ. Thành phố cần tiếp cận năng lực số như một thành tố của năng lực công vụ, không tách rời yêu cầu nghiệp vụ. Chuẩn năng lực cần phân hóa theo nhóm vị trí, từ tiếp nhận, xử lý hồ sơ đến tham mưu, điều hành; trọng tâm là khả năng khai thác dữ liệu, phân tích thông tin, phối hợp trên nền tảng số, bảo đảm an toàn và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Vì vậy, bồi dưỡng cần chuyển từ truyền đạt công cụ sang giải quyết tình huống công vụ thực tế, gắn nội dung đào tạo với những quy trình, dữ liệu và công nghệ mà công chức trực tiếp sử dụng. Hiệu quả không nên đo chủ yếu bằng số lượt tham gia mà bằng khả năng vận dụng và sản phẩm đầu ra sau đào tạo, như: cải tiến quy trình, khai thác dữ liệu hoặc xử lý tình huống trên môi trường số.
Năm là, chuyển từ quản trị triển khai sang quản trị theo kết quả và trách nhiệm thực thi. Thành phố cần xác lập rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì, đơn vị chuyên môn và người đứng đầu cấp xã đối với từng quy trình, hệ thống và nguồn dữ liệu; đồng thời gắn quyền hạn với trách nhiệm xử lý các điểm nghẽn phát sinh trên môi trường số. Cơ chế giám sát cần dựa trên dữ liệu vận hành, cho phép phát hiện sớm chậm trễ, xác định nguyên nhân và quy trách nhiệm thay vì chỉ tổng hợp kết quả cuối kỳ. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phản hồi từ công chức và người dân để điều chỉnh kịp thời quy trình, nền tảng và phương thức cung ứng dịch vụ.
5. Kết luận
Chuyển đổi số trong thực thi công vụ của công chức cấp xã tại TP. Hồ Chí Minh không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước, mà còn là quá trình tái cấu trúc phương thức quản trị công theo hướng dựa trên dữ liệu, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Các kết quả đạt được trong thời gian qua cho thấy nền tảng số đã góp phần nâng cao hiệu quả xử lý công việc, duy trì tính liên tục của hoạt động hành chính sau sắp xếp và cải thiện chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Trong thời gian tới, Thành phố cần lấy chất lượng thực thi công vụ làm thước đo trọng tâm của chuyển đổi số. Giải pháp không chỉ là mở rộng ứng dụng công nghệ mà còn là tái cấu trúc quy trình, hoàn thiện dữ liệu liên thông, phát triển năng lực số theo vị trí việc làm và quản trị theo kết quả. Khi các điều kiện này được thực hiện đồng bộ, chuyển đổi số sẽ góp phần hình thành nền công vụ cấp xã chuyên nghiệp, hiện đại, chủ động và hướng đến kết quả phục vụ.
Tài liệu tham khảo:
Dunleavy, P., Margetts, H., Bastow, S., & Tinkler, J. (2006). New public management is dead – Long live digital-era governance. Journal of Public Administration Research and Theory, 16(3), 467-494. https://doi.org/10.1093/jopart/mui057
Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), Article 101385. https://doi.org/10.1016/j.giq.2019.06.002
OECD (2019). The path to becoming a data-driven public sector. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/059814a7-en
OECD (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a digital government (OECD Public Governance Policy Papers No. 2). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f64fed2a-en
OECD (2021). The OECD framework for digital talent and skills in the public sector (OECD Working Papers on Public Governance No. 45). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/4e7c3f58-en
Quốc hội (2025). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (13/7/2026). TP. Hồ Chí Minh cắt giảm đến 50% thời gian giải quyết nhiều thủ tục hành chính. https://dost.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc-cai-cach-hanh-chinh/tphcm-cat-giam-den-50-thoi-gian-giai-quyet-nhieu-thu-tuc-hanh-chinh/
Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Chuyển đổi số. https://www.dost.hochiminhcity.gov.vn/chuyen-doi-so/
Sở Văn hóa và Thể thao TP. Hồ Chí Minh (2026). Từ quản lý truyền thống đến lãnh đạo thích ứng: Chuyển đổi tất yếu trong khu vực hành chính công nhìn từ thực tiễn TP. Hồ Chí Minh. https://svhtt.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/tu-quan-ly-truyen-thong-%C4%91en-lanh-%C4%91ao-thich-ung-chuyen-%C4%91oi-tat-yeu-trong-khu-vuc-hanh-chinh-cong-nhin-tu-thuc-tien-tp-ho-chi-minh-25677-2512.html
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về Chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045.
Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo số 73/BC-TTCĐS ngày 12/6/2026 về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 của Trung tâm Chuyển đổi số Thành phố.
Trung tâm Thông tin báo chí TP. Hồ Chí Minh (2026). Tổng hợp thông tin báo chí liên quan đến TP. Hồ Chí Minh. https://ttbc-hcm.gov.vn/tong-hop-thong-tin-bao-chi-lien-quan-den-tp-hcm-ngay-28-8-2026-1022065.html
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Kế hoạch số 452/KH-UBND ngày 21/8/2026 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025.



