Yếu tố tác động đến ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long

Factors affecting the ecological ethical awareness of farmers in the Mekong Delta

ThS. Nguyễn Thị Thìn
Trường Đại học Đồng Tháp
NCS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: ntthin@dthu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Cùng với sự phát triển kinh tế, trong những năm gần đây, đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Trong bối cảnh đó, ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững của vùng. Bài viết phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến ý thức đạo đức sinh thái; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Ý thức đạo đức sinh thái; đồng bằng sông Cửu Long; nông dân; nông nghiệp bền vững; biến đổi khí hậu.

Abstract: Alongside economic development, the Mekong Delta has experienced severe impacts from climate change and environmental degradation in recent years. In this context, farmers’ ecological ethical awareness plays an important role in environmental protection and the sustainable development of the region. This article analyzes both objective and subjective factors influencing farmers’ ecological ethical awareness and proposes several solutions to enhance ecological ethical awareness among farmers in the Mekong Delta in the current period.

Keywords: Ecological ethical awareness; Mekong Delta; farmers; sustainable agriculture; climate change.

1. Đặt vấn đề

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có hệ thống sông ngòi dày đặc, đất đai màu mỡ và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Đây là vựa lúa lớn nhất cả nước, đóng góp trên 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản nuôi trồng và 70% sản lượng trái cây của Việt Nam (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2022a). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, biểu hiện qua các hiện tượng cực đoan, như: hạn hán kéo dài; sụt lún, sạt lở nghiêm trọng ven sông; xâm nhập mặn gia tăng khiến diện tích trồng lúa và hoa màu bị thu hẹp; ô nhiễm môi trường nước và suy giảm nguồn lợi thủy sản. Đợt xâm nhập mặn lịch sử mùa khô 2019 – 2020 và 2023 – 2024 đã ảnh hưởng trực tiếp đến hàng trăm nghìn hộ nông dân sản xuất và sinh kế trong vùng.

Trước tình hình đó, việc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trở thành yêu cầu cấp bách để bảo đảm phát triển bền vững và sinh kế lâu dài của người nông dân. Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu và Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ định hướng phát triển vùng theo hướng “thuận thiên”, bền vững, chuyển đổi mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực tiễn cho thấy, người nông dân và chính quyền đã triển khai nhiều mô hình sản xuất thân thiện với môi trường, như: nông nghiệp giảm phát thải, nông nghiệp xanh, hạn chế sử dụng hóa chất trong trồng trọt và chăn nuôi; song bên cạnh đó vẫn còn không ít trường hợp lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thủy sản và khai thác tài nguyên thiếu hợp lý, xử lý chất thải chưa đúng quy định (Phan Đức Nam, 2023).

Ý thức đạo đức sinh thái đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và hành vi ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên. Đối với nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, ý thức đạo đức sinh thái là cơ sở để hình thành thái độ và hành vi ứng xử với đất, nước và môi trường trong quá trình sản xuất, khai thác tài nguyên. Khi có ý thức đạo đức sinh thái đúng đắn, người nông dân sẽ lựa chọn phương thức canh tác phù hợp, sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái. Thực tiễn cho thấy, có nhiều yếu tố tác động đến ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, như: điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu, điều kiện kinh tế và sinh kế, giáo dục và truyền thông môi trường, chính sách quản lý nhà nước, các giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống. Việc nghiên cứu các yếu tố này góp phần làm rõ cơ sở hình thành nhận thức và hành vi sinh thái của người nông dân, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao ý thức đạo đức sinh thái, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long.

2. Quan niệm về ý thức đạo đức sinh thái và đặc điểm ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long

2.1. Quan niệm về ý thức đạo đức sinh thái

Theo Vũ Trọng Dung (2009, tr. 76), “đạo đức sinh thái còn được gọi là đạo đức môi sinh, đạo đức môi trường”. Tương đồng với cách tiếp cận này, Trần Lê Bảo (2021) cho rằng, “đạo đức sinh thái (còn được gọi là đạo đức môi trường) là những quan điểm, cách thức ứng xử của con người và xã hội đối với tự nhiên”. Từ các quan niệm trên có thể hiểu, đạo đức sinh thái là hệ thống các quan điểm, chuẩn mực và nguyên tắc định hướng cách thức con người ứng xử với tự nhiên, qua đó, xác lập trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng đối với việc bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên và duy trì sự cân bằng của các hệ sinh thái.

Trên cơ sở đó, ý thức đạo đức sinh thái được hiểu là sự phản ánh hiện thực tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong nhận thức, tình cảm, niềm tin và trách nhiệm của con người, từ đó định hướng cách thức ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức sinh thái. Ý thức này không dừng lại ở sự hiểu biết về các quy luật tự nhiên, giá trị của tài nguyên và những tác động của hoạt động sản xuất, sinh hoạt đối với môi trường mà còn thể hiện ở thái độ trân trọng tự nhiên, ý thức trách nhiệm, khả năng tự điều chỉnh lợi ích và định hướng hành vi theo yêu cầu bảo vệ, phục hồi và sử dụng bền vững các hệ sinh thái.

Như vậy, nếu đạo đức sinh thái phản ánh hệ thống chuẩn mực và yêu cầu về cách ứng xử giữa con người với tự nhiên, thì ý thức đạo đức sinh thái là phương diện nhận thức – tình cảm – trách nhiệm của chủ thể đối với những chuẩn mực đó, giữ vai trò định hướng hành vi sinh thái của cá nhân và cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xem xét ý thức đạo đức sinh thái của nông dân không chỉ qua mức độ nhận biết các vấn đề môi trường, mà còn qua cách họ cân bằng giữa lợi ích kinh tế trước mắt với lợi ích sinh thái và lợi ích cộng đồng trong quá trình sản xuất.

2.2. Đặc điểm ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long

Là vùng có thế mạnh đặc biệt về sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; đồng thời, có đời sống kinh tế – xã hội gắn chặt với hệ thống sông, kênh, rạch và các hệ sinh thái đất ngập nước, ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long được hình thành trong sự tương tác thường xuyên giữa sinh kế, điều kiện tự nhiên và những biến đổi ngày càng mạnh của môi trường sinh thái. Đồng bằng sông Cửu Long hiện đóng góp khoảng 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 60% sản lượng trái cây của cả nước cho thấy, mức độ phụ thuộc và tác động qua lại rất lớn giữa hoạt động sản xuất của người dân với tài nguyên đất, nước và các hệ sinh thái của vùng.

Thứ nhất, ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất và sinh kế.

Khác với cách tiếp cận môi trường thuần túy, ở đồng bằng sông Cửu Long, tự nhiên là không gian sinh tồn, tư liệu sản xuất và nguồn lực tạo sinh kế của một bộ phận lớn dân cư. Đất, nước, nguồn lợi thủy sản, phù sa và chế độ lũ có quan hệ trực tiếp với năng suất và hiệu quả sản xuất. Do đó, ý thức về bảo vệ đất, sử dụng tiết kiệm và hợp lý nguồn nước, kiểm soát chất thải trong sản xuất, hạn chế sử dụng hóa chất và bảo vệ nguồn lợi thủy sản không chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo vệ môi trường, mà còn gắn với nhu cầu duy trì năng lực sản xuất lâu dài.

Tuy nhiên, sự phụ thuộc trực tiếp vào tự nhiên cũng đặt người nông dân trước một mâu thuẫn, một mặt phải bảo vệ nền tảng sinh thái của sinh kế; mặt khác phải đáp ứng yêu cầu gia tăng năng suất, sản lượng và thu nhập. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh, nếu lợi ích kinh tế trước mắt được đặt cao hơn lợi ích sinh thái dài hạn, có thể xuất hiện các hành vi khai thác quá mức tài nguyên, sử dụng vật tư nông nghiệp không hợp lý hoặc xả thải gây ô nhiễm. Vì vậy, đặc điểm nổi bật của ý thức đạo đức sinh thái ở đây là sự đan xen giữa nhận thức về sự phụ thuộc vào tự nhiên và sức ép tối đa hóa lợi ích kinh tế từ tự nhiên.

Thứ hai, ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long được hình thành trên nền tảng văn hóa sông nước và sự gắn bó lâu đời với tự nhiên.

Đồng bằng sông Cửu Long có mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc, trong đó sông Tiền và sông Hậu giữ vai trò quan trọng trong phân phối nước và phù sa; mật độ kênh rạch trung bình của vùng khoảng 4 km/km². Đặc điểm địa hình thấp, hệ thống sông ngòi chằng chịt và chế độ thủy văn đặc thù vừa tạo điều kiện cho sản xuất, giao thông, nuôi trồng thủy sản, vừa làm cho sinh hoạt và sinh kế của người dân phụ thuộc chặt chẽ vào sự vận động của nước.

Trong quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên, cộng đồng cư dân đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành tri thức bản địa về mùa nước, con nước, đất đai, nguồn lợi thủy sản và mùa vụ. Trần Ngọc Thêm (2022, tr. 394) nhận định: “Tây Nam Bộ với hệ thống sông nước Cửu Long và mạng lưới kênh rạch chằng chịt là vùng văn hóa thấm đẫm nước nhiều nhất, mang bản sắc văn hóa nước rõ rệt nhất”. Những tri thức và giá trị văn hóa đó tạo nền tảng cho thái độ gần gũi, thích ứng và tôn trọng tự nhiên. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, sự gắn bó với tự nhiên không đương nhiên đồng nghĩa với hành vi sinh thái bền vững; quá trình thương mại hóa sản xuất và gia tăng khai thác tài nguyên có thể làm thay đổi phương thức ứng xử truyền thống. Do đó, cần nhìn nhận ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long vừa trong chiều sâu của văn hóa sông nước, vừa trong sự biến đổi của các quan hệ kinh tế – xã hội hiện đại.

Thứ ba, ý thức đạo đức sinh thái chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và những biến đổi của hệ sinh thái vùng.

Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, suy giảm nguồn nước, sụt lún đất và các biến động khác của hệ thống sông Mê Kông. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, các rủi ro về nước ở đồng bằng sông Cửu Long có tính liên kết, bao gồm: nước biển dâng, hạn hán, lũ, xói lở, xâm nhập mặn, sụt lún đất và ô nhiễm, trong đó nhiều tác động chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các hoạt động của con người. Năm 2023, toàn vùng ghi nhận trên 813 điểm sạt lở lớn, nhỏ, gây thiệt hại hơn 147,8 tỷ đồng; riêng lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản bị ảnh hưởng đáng kể.

Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường không còn là những vấn đề mang tính xa xôi mà tác động trực tiếp đến thu nhập, tài sản và khả năng duy trì sinh kế của người nông dân. Đây là yếu tố thúc đẩy sự chuyển biến trong nhận thức: từ tư duy khai thác và kiểm soát tự nhiên sang thích ứng, bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn lực sinh thái. Quan điểm này phù hợp với định hướng phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu được Chính phủ xác lập tại Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và tôn trọng các quy luật tự nhiên.

Thực tiễn sản xuất cũng cho thấy, sự chuyển biến bước đầu trong hành vi sinh thái của người dân, như: tiết giảm sử dụng hóa chất, tăng cường các giải pháp sinh học, điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và chủ động tích trữ, sử dụng tiết kiệm nước trong những thời kỳ hạn, mặn. Tuy nhiên, sự chuyển biến này không đồng đều giữa các nhóm nông dân, bởi còn phụ thuộc vào quy mô sản xuất, điều kiện kinh tế, trình độ nhận thức, khả năng tiếp cận khoa học – công nghệ, thông tin thị trường và khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ. Do đó, ý thức đạo đức sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long cần được nhìn nhận không chỉ như vấn đề nhận thức cá nhân mà còn là kết quả của sự tương tác giữa giá trị đạo đức, lợi ích kinh tế, điều kiện sinh kế, tri thức bản địa, khoa học – công nghệ và thể chế quản lý tài nguyên.

Từ những phân tích trên có thể thấy, ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long được hình thành trên ba nền tảng cơ bản: (1) Sự phụ thuộc trực tiếp của sinh kế vào tài nguyên và hệ sinh thái; (2) Nền tảng văn hóa sông nước và tri thức thích ứng với tự nhiên; (3) Sức ép ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Ba phương diện này tác động qua lại, tạo nên đặc điểm riêng của ý thức đạo đức sinh thái của nông dân trong vùng. Vì vậy, nâng cao ý thức đạo đức sinh thái không thể chỉ dừng ở tuyên truyền bảo vệ môi trường mà cần gắn với chuyển đổi phương thức sản xuất, bảo đảm sinh kế bền vững, phát huy tri thức bản địa, nâng cao năng lực thích ứng và tăng cường trách nhiệm của cộng đồng trong quản trị tài nguyên và bảo vệ hệ sinh thái. Đây cũng là cơ sở thực tiễn để tiếp tục phân tích những yếu tố tác động và đề xuất giải pháp phát triển ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay.

3. Các yếu tố tác động đến ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long

3.1. Nhóm yếu tố khách quan

Một là, điều kiện tự nhiên và biến đổi khí hậu. Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, đất đai và điều kiện khí hậu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tạo nên mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa người dân với tự nhiên. Đặc biệt, mùa nước nổi không chỉ cung cấp nguồn nước và phù sa mà còn mang lại nhiều nguồn lợi thủy sản, góp phần duy trì sinh kế của cộng đồng. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, cùng với khai thác tài nguyên thiếu hợp lý, đang làm gia tăng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và suy giảm nguồn lợi tự nhiên, qua đó, tác động trực tiếp đến sinh kế của nông dân. Những biến đổi này thúc đẩy người dân điều chỉnh nhận thức và phương thức sản xuất theo hướng thích ứng, sử dụng tài nguyên tiết kiệm và giảm tác động đến hệ sinh thái. Thực tiễn đã xuất hiện nhiều mô hình, như: lúa – tôm, lúa – cá, sen – cá, góp phần đa dạng hóa sinh kế và thích ứng với điều kiện sinh thái từng tiểu vùng. Đặc biệt, Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 đã tạo cơ sở chính sách cho chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao giá trị sản phẩm, góp phần chuyển biến nhận thức và hành vi sinh thái của nông dân.

Hai là, điều kiện kinh tế và sinh kế của người nông dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tồn tại xã hội có vai trò quyết định đối với ý thức xã hội; vì vậy, điều kiện kinh tế và sinh kế là yếu tố quan trọng định hình ý thức đạo đức sinh thái của nông dân. Thu nhập, mức độ ổn định của sinh kế và khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất tác động trực tiếp đến lựa chọn phương thức ứng xử với tự nhiên. Khi sức ép về thu nhập và lợi ích trước mắt lớn, một bộ phận nông dân có thể ưu tiên mục tiêu tối đa hóa sản lượng, dẫn đến khai thác quá mức tài nguyên hoặc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản chưa hợp lý, làm gia tăng nguy cơ tổn hại môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Ngược lại, khi sinh kế ổn định và có điều kiện tiếp cận khoa học – công nghệ, vốn, thị trường và các mô hình sản xuất xanh, nông dân có khả năng chuyển sang phương thức sản xuất tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái. Do đó, nâng cao ý thức đạo đức sinh thái không thể tách rời bảo đảm sinh kế và tạo động lực kinh tế cho sản xuất bền vững. Khi bảo vệ môi trường trở thành điều kiện duy trì sinh kế và nâng cao thu nhập, trách nhiệm sinh thái của người nông dân sẽ có cơ sở vật chất và động lực xã hội bền vững hơn.

Ba là, cơ chế, chính sách quản lý và giáo dục, truyền thông về bảo vệ môi trường. Cơ chế, chính sách và pháp luật của Nhà nước giữ vai trò định hướng, điều chỉnh và củng cố các chuẩn mực ứng xử với tự nhiên. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, cùng các chủ trương phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải, đã từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý cho chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững (Quốc hội, 2020). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) xác định nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới, qua đó, đặt yêu cầu phát huy vai trò chủ động của người dân trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững.

Tuy nhiên, chính sách chỉ thực sự tác động đến ý thức và hành vi khi được cụ thể hóa thành các cơ chế khuyến khích, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và hỗ trợ chuyển đổi sản xuất; đồng thời, được truyền tải đến người dân bằng những hình thức phù hợp. Tại đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động khuyến nông, tập huấn kỹ thuật, truyền thông cộng đồng và các nền tảng thông tin của địa phương góp phần giúp nông dân tiếp cận kiến thức về sử dụng tài nguyên, sản xuất an toàn, giảm hóa chất và thích ứng với biến đổi khí hậu. Vì vậy, hiệu lực của chính sách kết hợp với hiệu quả giáo dục, truyền thông và khả năng tiếp cận thông tin là những điều kiện quan trọng để chuyển các chuẩn mực pháp lý và yêu cầu bảo vệ môi trường thành nhận thức, trách nhiệm và hành vi sinh thái của nông dân.

Nhìn chung, ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long chịu tác động của điều kiện tự nhiên và biến đổi khí hậu, điều kiện kinh tế, sinh kế, cùng với thể chế, chính sách và giáo dục, truyền thông. Các yếu tố này không tồn tại biệt lập mà tác động qua lại: biến đổi của môi trường làm gia tăng sức ép lên sinh kế; điều kiện sinh kế chi phối lựa chọn sản xuất; trong khi chính sách, pháp luật, giáo dục và truyền thông tạo khuôn khổ và động lực để điều chỉnh những lựa chọn đó theo hướng bền vững. Do đó, nâng cao ý thức đạo đức sinh thái của nông dân đồng bằng sông Cửu Long cần được đặt trong tổng thể bảo đảm sinh kế, chuyển đổi mô hình sản xuất và hoàn thiện quản trị tài nguyên, thay vì chỉ tiếp cận như một vấn đề tuyên truyền, giáo dục ý thức.

3.2. Nhóm yếu tố chủ quan

Một là, trình độ học vấn và năng lực nhận thức của người nông dân là những tiền đề quan trọng hình thành ý thức đạo đức sinh thái, bởi đây là cơ sở để người nông dân tiếp nhận tri thức khoa học, nhận diện mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất với môi trường và dự liệu hệ quả của các hành vi đối với hệ sinh thái. Nguyễn Thị Thùy Linh & cộng sự (2025) cho rằng, “người nông dân có học vấn cao hơn thì có nhiều khả năng quan tâm hơn đến ý thức bảo vệ môi trường trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp”. Trên thực tế, năng lực nhận thức càng được nâng cao, người nông dân càng có khả năng hiểu rõ tác động của việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc hóa học và các loại vật tư nông nghiệp đến chất lượng đất, nguồn nước, đa dạng sinh học và sức khỏe cộng đồng; từ đó chủ động lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp hơn với yêu cầu bảo vệ môi trường. Vì vậy, nâng cao trình độ nhận thức không chỉ làm gia tăng hiểu biết về môi trường mà còn góp phần chuyển hóa tri thức thành trách nhiệm và hành vi sinh thái trong sản xuất.

Hai là, kinh nghiệm sản xuất và các giá trị văn hóa truyền thống. Kinh nghiệm sản xuất được hình thành qua quá trình người nông dân trực tiếp quan sát, thích ứng và ứng xử với những biến đổi của tự nhiên. Đối với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, những trải nghiệm về hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún và suy giảm chất lượng đất, nước ngày càng trở thành những “bài học thực tiễn”, giúp họ nhận thức rõ hơn sự phụ thuộc của sinh kế vào tài nguyên và hệ sinh thái. Qua đó, kinh nghiệm sản xuất không chỉ cung cấp tri thức thực hành mà còn góp phần hình thành ý thức sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu tác động bất lợi đến môi trường và chủ động thích ứng với những biến đổi của tự nhiên.

Bên cạnh kinh nghiệm sản xuất, các giá trị văn hóa truyền thống cũng là một thành tố quan trọng định hình cách ứng xử của người dân với tự nhiên. Trần Ngọc Thêm (2022, tr. 651) nhận định: “Hình ảnh sông nước đi vào mọi mặt của đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của con người. Con người Tây Nam Bộ sống gắn bó với sông nước, yêu thương nó, nhờ cậy nó, đối phó nhưng không xung đột với nó mà hòa hợp với nó ở mức độ rất cao”. Sự gắn bó lâu đời với sông nước và môi trường tự nhiên góp phần hình thành những giá trị coi trọng sự hài hòa, thích ứng và khai thác hợp lý các nguồn lực tự nhiên. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và phương thức sản xuất ngày càng thương mại hóa, các giá trị truyền thống cũng chịu sự tác động và biến đổi. Vì vậy, việc phát huy những giá trị văn hóa phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường cần gắn với tri thức khoa học và phương thức sản xuất bền vững, tránh đồng nhất kinh nghiệm truyền thống với mọi hành vi sinh thái tích cực.

Ba là, lợi ích và trách nhiệm của bản thân người nông dân. Trong quá trình sản xuất, người nông dân thường xuyên phải giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế trước mắt với lợi ích sinh thái lâu dài, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của cộng đồng và các thế hệ tương lai. Đây là yếu tố trực tiếp chi phối sự chuyển hóa nhận thức thành hành vi đạo đức sinh thái. Khi lợi ích trước mắt được đặt cao hơn lợi ích lâu dài, người nông dân có thể lựa chọn các phương thức sản xuất nhằm tối đa hóa năng suất, sản lượng hoặc thu nhập mà chưa tính đầy đủ đến chi phí môi trường. Ngược lại, khi nhận thức được rằng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ đất và nước, giảm ô nhiễm và duy trì hệ sinh thái chính là bảo vệ điều kiện sinh kế lâu dài, người nông dân có xu hướng gắn lợi ích kinh tế với trách nhiệm sinh thái.

Ở phương diện này, ý thức đạo đức sinh thái chỉ thực sự được củng cố khi người nông dân nhận thức được trách nhiệm của mình không chỉ đối với bản thân mà còn đối với cộng đồng và các thế hệ tương lai. Khi bảo vệ môi trường trở thành một bộ phận của lợi ích lâu dài và trách nhiệm xã hội, các chuẩn mực đạo đức sinh thái có điều kiện chuyển từ nhận thức thành sự tự giác trong lựa chọn phương thức sản xuất và sử dụng tài nguyên.

Đây là những cơ sở quan trọng để xác định các giải pháp nâng cao ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, hướng tới sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái và bảo đảm sinh kế lâu dài.

4. Một số giải pháp

Một là, tăng cường giáo dục, truyền thông về đạo đức sinh thái theo hướng thiết thực, phù hợp với đặc điểm nông dân và từng tiểu vùng sinh thái. Giáo dục và truyền thông là cơ sở quan trọng để chuyển hóa nhận thức về môi trường thành trách nhiệm và hành vi sinh thái. Đối với nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, nội dung truyền thông cần gắn trực tiếp với những vấn đề mà họ đang đối mặt trong sản xuất và đời sống như sử dụng nước tiết kiệm, giảm hóa chất nông nghiệp, bảo vệ đất, kiểm soát chất thải, thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thay vì truyền đạt những thông điệp chung chung, cần làm rõ mối quan hệ giữa hành vi sản xuất với chi phí môi trường, hiệu quả sinh kế hiện tại và điều kiện sống của các thế hệ tương lai.

Cùng với các phương thức truyền thống như báo chí, phát thanh, truyền hình và hệ thống truyền thanh cơ sở, cần khai thác hiệu quả mạng xã hội và các nền tảng số với nội dung ngắn, trực quan, dễ tiếp cận, sử dụng những tình huống và mô hình sản xuất thực tế tại địa phương. Các tổ chức chính trị – xã hội, như: Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên cần tham gia thường xuyên vào hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn và giám sát cộng đồng. Đồng thời, có thể nhân rộng các mô hình “ấp, khóm, tổ sản xuất xanh”, mô hình sản xuất giảm phát thải và các hình thức thi đua cộng đồng gắn với tiêu chí môi trường. Qua đó, bảo vệ môi trường từng bước trở thành chuẩn mực ứng xử được cộng đồng thừa nhận và thực hành, thay vì chỉ dừng ở yêu cầu tuyên truyền.

Hai là, bảo đảm sinh kế bền vững và tạo động lực kinh tế cho nông dân thực hành đạo đức sinh thái. Ý thức đạo đức sinh thái khó có thể được củng cố bền vững nếu người nông dân phải lựa chọn giữa bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập. Vì vậy, nâng cao thu nhập, giảm rủi ro sinh kế và tạo điều kiện để nông dân tham gia các mô hình sản xuất bền vững cần được xem là một bộ phận của giải pháp nâng cao ý thức đạo đức sinh thái. Nhà nước và chính quyền địa phương cần tiếp tục hỗ trợ chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn và giảm phát thải, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng khu vực và định hướng tại Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ.

Đặc biệt, cần triển khai hiệu quả Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh hỗ trợ kỹ thuật và vốn, cần chú trọng liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường đối với sản phẩm có tiêu chuẩn môi trường. Khi các phương thức sản xuất tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bảo vệ hệ sinh thái đồng thời tạo ra giá trị kinh tế và thị trường ổn định, người nông dân sẽ có thêm động lực duy trì hành vi sinh thái. Theo đó, trách nhiệm bảo vệ môi trường không đối lập với lợi ích kinh tế mà được tích hợp vào chính chiến lược bảo đảm sinh kế lâu dài.

Ba là, hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò cộng đồng và thúc đẩy khoa học – công nghệ trong chuyển hóa ý thức thành hành vi sinh thái. Ý thức chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong môi trường thể chế và xã hội phù hợp. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên và phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm tính thống nhất, khả thi và phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng khu vực trong đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, cần xây dựng cơ chế khuyến khích đủ rõ để ghi nhận và nhân rộng các cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và địa phương thực hiện hiệu quả mô hình sản xuất thân thiện với môi trường.

Ở cấp cộng đồng, cần phát huy vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ dân cư và các tổ chức chính trị – xã hội trong xây dựng và thực hiện các chuẩn mực ứng xử với môi trường. Sự giám sát của cộng đồng có thể góp phần hạn chế những hành vi gây ô nhiễm, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa đối với những mô hình sản xuất có trách nhiệm. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, cách tiếp cận này cần được gắn với đặc điểm quản trị tài nguyên theo không gian liên kết, bởi chất lượng nước, nguồn lợi thủy sản và các hệ sinh thái không bị giới hạn bởi địa giới hành chính.

Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, ưu tiên các giải pháp có khả năng giảm chi phí và rủi ro cho nông dân như quan trắc đất, nước và môi trường; tưới tiết kiệm; công nghệ sinh học; xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, chất thải; truy xuất nguồn gốc và các nền tảng quản lý sản xuất. Khoa học – công nghệ không chỉ cung cấp phương tiện để giảm tác động đến môi trường mà còn giúp người nông dân nhìn thấy, đo lường và kiểm soát được tác động sinh thái của hoạt động sản xuất, từ đó tăng khả năng chuyển hóa nhận thức thành hành vi cụ thể.

5. Kết luận

Ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long được hình thành và phát triển trong sự tác động đồng thời của các yếu tố khách quan và chủ quan. Điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu, kinh tế – sinh kế, cơ chế, chính sách, giáo dục và truyền thông tạo nên môi trường xã hội và những điều kiện bên ngoài; trong khi trình độ nhận thức, kinh nghiệm sản xuất, các giá trị văn hóa, lợi ích và trách nhiệm của người nông dân trực tiếp chi phối quá trình chuyển hóa nhận thức thành thái độ và hành vi ứng xử với tự nhiên. Đáng chú ý, các yếu tố này không tồn tại độc lập mà tác động qua lại, trong đó sinh kế, lợi ích kinh tế và khả năng thích ứng với biến đổi của hệ sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì các hành vi có trách nhiệm với môi trường.

Từ đó cho thấy, nâng cao ý thức đạo đức sinh thái của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long không thể chỉ được tiếp cận từ phương diện giáo dục, tuyên truyền, mà cần đặt trong mối quan hệ thống nhất giữa nâng cao nhận thức, bảo đảm sinh kế, tạo động lực kinh tế, hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực khoa học – công nghệ. Đây là cơ sở để người nông dân không chỉ nhận thức được trách nhiệm bảo vệ môi trường mà còn có đủ điều kiện và động lực thực hiện trách nhiệm đó trong hoạt động sản xuất và đời sống.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và những biến động ngày càng phức tạp của hệ sinh thái đồng bằng sông Cửu Long, việc phát triển ý thức đạo đức sinh thái cần được đặt trong định hướng phát triển bền vững của vùng, phù hợp với Nghị quyết số 120/NQ-CP, Nghị quyết số 13-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW và Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp. Theo đó, bảo vệ môi trường, bảo đảm sinh kế của người dân và phát triển bền vững không phải là những mục tiêu tách rời mà cần được giải quyết trong một chỉnh thể thống nhất. Đây vừa là yêu cầu đối với quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất, vừa là điều kiện để hình thành và củng cố ý thức đạo đức sinh thái của nông dân, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thích ứng, có trách nhiệm với tự nhiên và phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2021: Môi trường không khí – Thực trạng và giải pháp.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Nguyễn Thị Thùy Linh, Phan Thế Công, Trần Thị Mai Khanh, Tô Thế Nguyên & Nguyễn Thị Lan Hương (31/7/2025). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bảo vệ môi trường của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 337, 48-58. https://doi.org/10.33301/JED.VI.2116
Nguyễn Tiến Dũng & Phan Thuận (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của cư dân vùng hạn mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 57(1), 210 – 216. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2021.027
Phạm Tiến Quân (06/3/2022). Để đồng bằng sông Cửu Long phát triển tương xứng so với đầu tư và mong muốn. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://media.chinhphu.vn/de-dong-bang-song-cuu-long-phat-trien-tuong-xung-so-voi-dau-tu-va-mong-muon-102220306182843019.htm
Phan Đức Nam (2023). Nhận thức, thái độ và hành vi về bảo vệ môi trường của nông dân ngày nay. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (9), 20 – 29. https://doi.org/10.56794/KHXHVN.9(189).20-29
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 phê duyệt Đề án Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.
Trần Lê Bảo (16/11/2021). Đạo đức sinh thái trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/824309/dao-duc-sinh-thai-trong-boi-canh-toan-cau-hoa-va-hoi-nhap-quoc-te.aspx
Trần Ngọc Thêm (2022). Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (Tái bản lần 3, có sửa chữa năm 2022). Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
Vũ Trọng Dung (2009). Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái. Nxb Chính trị quốc gia.