Phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay

Developing information literacy among students at Hanoi University in the current context of digital transformation

ThS. Nguyễn Đức Thiệu
TS. Nguyễn Thị Như
Trường Đại học Hà Nội

Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số, sinh viên, với vai trò là nguồn nhân lực cho phương thức sản xuất số, tất yếu phải có năng lực số. Năng lực thông tin là thành phần cơ bản của năng lực số, giữ vai trò quan trọng trong việc khai thác thông tin để học tập, nghiên cứu và xây dựng nền tảng thế giới quan khoa học cho hoạt động thực tiễn. Bài viết sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi Google Form về năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS. Từ số liệu thu được, tác giả tiến hành đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Từ khóa: Năng lực thông tin; sinh viên; Trường Đại học Hà Nội.

Abstract: In the context of digital transformation, students as the workforce for digital production must inevitably possess digital literacy. Information literacy is a core component of digital literacy and plays a crucial role in using information for learning, research, and building a scientific worldview that informs practical activities. This article uses a sociological survey method with a Google Form questionnaire to assess students’ information literacy at Hanoi University, with data analyzed using SPSS. Based on the collected data, the author evaluates the current situation and proposes solutions to develop students’ information literacy at Hanoi University in the context of ongoing digital transformation.

Keywords: Information literacy; students; Hanoi University.

1. Mở đầu

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và quá trình số hóa mọi ngành, lĩnh vực đã làm thay đổi cách thức tạo lập, lưu trữ, truyền tải và khai thác thông tin. Thông tin ngày nay không chỉ là nguồn tri thức mà còn là nguồn lực quan trọng phục vụ học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, sinh viên, với vai trò là lực lượng lao động tri thức tương lai, đang tiếp nhận khối lượng thông tin ngày càng lớn, đa dạng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ từ tin giả, thông tin sai lệch và thiếu kiểm chứng. Điều này đòi hỏi mỗi sinh viên phải có năng lực tìm kiếm, đánh giá, chọn lọc và sử dụng thông tin một cách hiệu quả và có trách nhiệm. Năng lực thông tin trở thành một năng lực nền tảng, giúp sinh viên hình thành tư duy phản biện, nâng cao chất lượng học tập và khả năng thích ứng trong môi trường số. Trên cơ sở đó, bài viết hệ thống các khái niệm cơ bản về năng lực thông tin, khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội.

2. Tổng quan lý thuyết về năng lực thông tin

Nghiên cứu của Gilster cho rằng: “Năng lực thông tin là khả năng hiểu và sử dụng thông tin dưới nhiều định dạng khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau, được hiển thị trên máy tính” (Gilster, P.,1997). Theo Ferrari & Punie: “Năng lực thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông một cách tự tin, có cân nhắc kỹ lưỡng và sáng tạo để đạt được các mục đích liên quan đến công việc, học tập, giải trí, hòa nhập hoặc tham gia vào xã hội” (Ferrari, A., & Punie, Y., 2013). Tiếp đó, nghiên cứu của Tang & Chaw nêu rõ: “Năng lực thông tin là nhận thức, thái độ và khả năng của mỗi cá nhân sử dụng hợp lý các công cụ và cơ sở vật chất kỹ thuật số để xác định, truy cập, quản lý, kết hợp đánh giá, phân tích tổng hợp tài nguyên số, xây dựng kiến thức mới, tạo biểu thị truyền thông và giao tiếp với người khác trong các tình huống đời sống cụ thể, nhằm thực hiện hành động xã hội mang tính xây dựng và để phản ánh về quá trình này (Tang, C. M., & Chaw, L. Y., 2016)

UNESCO cho rằng: “Năng lực thông tin là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho các công việc từ đơn giản đến phức tạp, cũng như khởi nghiệp. Năng lực thông tin là tổng hợp của năng lực sử dụng máy tính, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và năng lực truyền thông (UNESCO, 2018). Theo nghĩa này, năng lực thông tin là sự kết hợp của kiến thức, hiểu biết, kỹ năng và thái độ hội tụ ở mỗi cá nhân trong xã hội có sự phát triển của thông tin.

Tại Việt Nam, nhóm tác giả Nguyễn Tấn Đại và Marquet định nghĩa: “Năng lực thông tin là khả năng sử dụng vững vàng và có ý thức các công cụ của xã hội thông tin trong công việc, giải trí và giao tiếp” (Nguyễn Tấn Đại, Marquet, P., 2019).

Một nghiên cứu khác nhận định: “Năng lực thông tin là khả năng của người học trong việc xác định nhu cầu thông tin, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong bối cảnh xã hội số” (Đỗ Văn Hùng, 2022, tr.82). Có thể thấy, nghiên cứu này đã dựa trên định nghĩa năng lực thông tin của UNESCO, song có bổ sung thêm một yếu tố là “trách nhiệm” bởi “năng lực tự chịu trách nhiệm được coi là một phần khổng thể thiếu của năng lực thông tin và có tác động quan trọng khi đưa ra đề xuất năng lực số”. Bài viết sử dụng định nghĩa về năng lực số của tác giả Đỗ Văn Hùng, lấy nền tảng từ định nghĩa của UNESCO làm cơ sở khoa học để nghiên cứu và luận giải. Theo đó, năng lực thông tin bao gồm 5 yếu tố chính:

Thứ nhất, khả năng xác định nhu cầu thông tin: đây là yếu tố đầu tiên của năng lực thông tin, bởi trước khi tìm kiếm và sử dụng thông tin, họ cần xác định được nhu cầu thông tin của mình. Khả năng xác định thông tin được biểu hiện thông qua việc nhận diện thông tin, xác định vấn đề, mục tiêu và loại hình thông tin cần thiết cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của chủ thể.

Thứ hai, khả năng tìm kiếm và truy cập thông tin: đây là hành động cụ thể thể hiện năng lực tìm kiếm và truy cập thông tin của chủ thể. Khả năng này được thể hiện thông qua việc chủ thể sử dụng đa dạng và thành thạo các công cụ tìm kiếm thông tin, khai thác thông tin và dữ liệu từ các nguồn đáng tin cậy, qua đó tạo nền tảng khoa học cho quá trình nhận thức.

Thứ ba, khả năng đánh giá thông tin: yếu tố giữ vai trò quan trọng, quyết định tính khoa học và chính xác của thông tin, giúp người dùng chọn lọc thông tin cần thiết dựa trên các căn cứ khoa học, tránh tin giả, tin độc. Khả năng đánh giá thông tin biểu hiện ở việc chủ thể kiểm soát thông tin như thế nào, và sử dụng phương pháp nào để kiểm tra nguồn gốc và tính chính xác của thông tin.

Thứ tư, khả năng sử dụng thông tin: đó là việc chủ thể có sử dụng thông tin đúng mục đích, lành mạnh, trong sáng, phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học hay nhằm mục đích công kích, miệt thị, bạo lực đối với người khác. Chủ thể sử dụng thông tin tuân thủ chuẩn mực đạo đức trong giao tiếp, pháp luật về bản quyền và sở hữu trí tuệ, không đạo văn, không đánh cắp bản quyền, bảo đảm tính liêm chính học thuật.

Thứ năm, khả năng chia sẻ và truyền đạt thông tin: thông tin cần được trao đổi và lan tỏa trong quá trình sử dụng. Khả năng này phản ánh việc chủ thể sử dụng thông tin để giao tiếp hiệu quả trong môi trường số. Chủ thể cung cấp thông tin khoa học, chính xác, biết cách bảo vệ dữ liệu cá nhân và đảm bảo an toàn thông tin trong môi trường số.

Có thể thấy, năng lực thông tin được tiếp cận và diễn đạt ở nhiều góc độ khác nhau, song có tính thống nhất về nội hàm: khả năng xác định, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng và chia sẻ thông tin. Đây chính là cơ sở khoa học để tác giả khảo sát và phân tích năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội.

3. Thực trạng năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

Trong bối cảnh chuyển đổi số, Trường Đại học Hà Nội đã xây dựng Đề án chuyển đổi số Trường Đại học Hà Nội giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030 chủ động đầu tư thiết bị và công nghệ phục vụ đào tạo như: Hệ thống eHANU (LMS/Moodle), phòng Lab chuyên dụng và thư viện Trường Đại học Hà Nội trang bị hệ thống máy tính kết nối internet tốc độ cao, phủ sóng Wifi toàn trường (Trường Đại học Hà Nội, 2022). Thư viện số của Trường kết nối trực tiếp với các kho dữ liệu lớn trên toàn cầu, cung cấp tài khoản truy cập tài liệu điện tử cho 100% sinh viên. Tính đến ngày 31/12/2025, Trường Đại học Hà Nội có khoảng 18.664 sinh viên (Trường Đại học Hà Nội, 2025), trong đó đại bộ phận là người trẻ, am hiểu kiến thức khoa học và có khả năng thích ứng cao với sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ. Với những chiến lược khoa học, sự đầu tư bài bản vào hạ tầng công nghệ và việc xây dựng chương trình đào tạo định hướng số, Trường Đại học Hà Nội đã xây dựng một môi trường số chất lượng, tạo điều kiện phát triển năng lực công nghệ thông tin cho sinh viên.

Để đánh giá năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội, nhóm tác giả tiến hành thu thập và phân tích số liệu về năng lực thông tin của sinh viên thông qua bảng hỏi trên Google Forms. Kết quả thu được 1.484 ý kiến (đạt tỷ lệ 100%), phản ánh sự quan tâm của sinh viên Trường Đại học Hà Nội đối với vấn đề năng lực thông tin.

(a) Những điểm tích cực về năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội

Một là, đa số sinh viên Trường Đại học Hà Nội có nhận thức toàn diện về thông tin, năng lực thông tin và sự cần thiết của năng lực thông tin trong bối cảnh hiện nay.

Có 91,3% sinh viên hiểu đúng về thông tin, với ý nghĩa là tập hợp kiến thức, dữ liệu và tin tức do con người truyền tải. Trong đó có 52% đồng ý và 39,3% hoàn toàn đồng ý. 93% sinh viên khẳng định thông tin được truyền đạt đa phương tiện, trong đó 41,8% đồng ý và 51,3% hoàn toàn đồng ý. 93,1% sinh viên cho biết năng lực thông tin là tập hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ về thông tin trong môi trường số. Đối với tất cả sinh viên được hỏi, đã nhận thức cơ bản về các biểu hiện cụ thể của năng lực thông tin là đó là tri thức, hiểu biết về thông tin (90,4%); tìm kiếm, tiếp cận, khai thác, xử lý và đánh giá thông tin (91,4%); ứng xử và tương tác với thế giới thông tin (87,6%), tuân thủ pháp luật và đạo đức trong sử dụng, khai thác thông tin (88,9%). Đặc biệt, 90,5% sinh viên được hỏi cho biết năng lực thông tin là quan trọng và 86% cho biết năng lực thông tin là đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên số hiện nay.

Hai là, sinh viên Trường Đại học Hà Nội bước đầu hình thành năng lực thông tin

Về khả năng xác định nhu cầu thông tin, 91,7% sinh viên cho biết bản thân biết xác định nhu cầu thông tin của mình trước khi tìm kiếm. Đây là yếu tố cơ bản chứng minh sinh viên có nền tảng về năng lực thông tin, bởi trước khi thực hiện nhiệm vụ, họ cần có kế hoạch và mục tiêu về thông tin, chứ không phải tìm kiếm một cách ngẫu nhiên.

Về tìm kiếm và truy cập thông tin, 83,6% sinh viên cho biết bản thân có khả năng sử dụng đa dạng và thành thạo các công cụ tìm kiếm. Trong đó, 91,6% sinh viên cho biết sử dụng từ khóa khi tìm kiếm thông tin, 90,6% sinh viên cho biết mình thành thạo các công cụ tìm kiếm (Google Scholar, thư viện số, AI), và 91,1% sinh viên khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Về đánh giá thông tin, có 92,6% sinh viên cho biết bản thân nhận thức về mối nguy hại của thông tin lạ, 70,9% sinh viên chỉ tìm kiếm dữ liệu thông qua các trang chính thống, nguồn thư viện của quốc gia và các trường học uy tín. Có 81,2% sinh viên khẳng định bản thân biết cách kiểm tra độ tin cậy của nguồn thông tin. Có 83% sinh viên thường xuyên đối chiếu nhiều nguồn thông tin để xác thực thông tin. Ngoài ra, 82,7% sinh viên cho biết họ phân biệt được thông tin học thuật và thông tin phổ biến; 82% sinh viên thường xuyên tham khảo ý kiến thầy cô, bạn bè về các nguồn thông tin. Đặc biệt, 69,1% sinh viên khẳng định bản thân có kỹ năng đánh giá chất lượng bài báo khoa học; 82% sinh viên có kỹ năng phân tích tổng hợp thông tin phục vụ học tập. Có thể thấy, sinh viên Trường Đại học Hà Nội hình thành được sự thận trọng và năng lực đánh giá thông tin phục vụ quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.

Về sử dụng thông tin, sinh viên Trường Đại học Hà Nội biểu hiện khả năng sử dụng thông tin một cách khoa học, chính xác, có ý thức tuân thủ pháp luật, đạo đức và liêm chính học thuật: 74,8% sinh viên cho biết bản thân trích dẫn nguồn thông tin theo quy chuẩn trong quá trình sử dụng, 77,7% thường xuyên ghi chú và sử dụng thông để phục vụ học tập về sau, 57% đã sử dụng các phần mềm quản lý tài liệu. Mặt khác, 83% sinh viên cho biết bài viết của họ được tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin sau khi tìm kiếm và đánh giá. 81,4% sinh viên biết sử dụng công cụ bảo mật thông tin cá nhân; 87% khẳng định không cung cấp thông tin cá nhân tùy tiện; 86,7% không truy cập các trang web, đường link không chính thống. Đây là những biểu hiện cơ bản khẳng định sinh viên Trường Đại học Hà Nội có khả năng sử dụng thông tin một cách hiệu quả và khoa học. Về vấn đề bản quyền tác giả, sinh viên có ý thức sâu sắc: 91,5% sinh viên khẳng định có ý thức; 91,2% sinh viên cho biết có ý thức về việc không đạo văn trong nghiên cứu.

Về chia sẻ và truyền đạt thông tin, 92,1% sinh viên cho biết bản thân tôn trọng khi giao tiếp với người khác bằng ngôn từ chuẩn mực, không kỳ thị, bạo lực; 91,6% không kích động, miệt thị, bắt nạt khi sử dụng mạng xã hội; 90,8% bày tỏ rằng không nên chia sẻ thông tin cá nhân hoặc bình luận về đời sống cá nhân của người khác. 91,2% khẳng định luôn lan tỏa giá trị và chia sẻ thông tin tích cực; 91,6% giữ gìn hình ảnh cá nhân bằng cách chia sẻ nội dung phù hợp; 92,5% không tung tin giả, tin sai sự thật.

Ba là, sinh viên Trường Đại học Hà Nội tích cực, chủ động rèn luyện năng lực thông tin.

Trên nền tảng nhận thức về tầm quan trọng của năng lực thông tin đối với sinh viên trong kỷ nguyên số, 90,7% sinh viên cho biết bản thân xác định năng lực thông tin là một năng lực cần thiết cho sự nghiệp trong tương lai. Do đó, sinh viên Trường Đại học Hà Nội thể hiện sự tích cực, chủ động rèn luyện và hình thành thói quen tốt nhằm thúc đẩy sự phát triển năng lực thông tin của bản thân. 79,9% sinh viên được hỏi cho biết họ luôn chủ động tìm kiếm thông tin sau giờ học, 78,1% sinh viên thực hiện tạo thói quen đọc sách, báo, tài liệu học thuật hàng tuần, 69,8% sinh viên thường xuyên tham gia các khoa học về kỹ năng thông tin, 82% khẳng định phải tìm hiểu pháp luật về thông tin, tuân thủ quy định của trường lớp về thông tin (89,5) và ý thức bảo vệ thông tin cá nhân (90,7%).

Bốn là, sinh viên Trường Đại học Hà Nội cơ bản nhận thức được các yếu tố quy định sự phát triển năng lực thông tin.

Có 84,1% sinh viên cho rằng để phát triển năng lực thông tin cho sinh viên cần vai trò quản lý thông tin của Nhà nước, bộ, chủ quản, ban, ngành, khẳng định phải có pháp luật bảo đảm tính ràng buộc trong sử dụng thông tin (85,7%). Đặc biệt, sinh viên Trường Đại học Hà Nội đã nhận thấy vai trò quyết định trong việc phát triển năng lực thông tin thuộc về chính bản thân mình, khi 91,3% sinh viên khẳng định tính chủ động và sự nghiêm túc là những yếu tố then chốt. Ngoài ra, sinh viên còn thể hiện nhận thức toàn diện về việc phát triển năng lực thông tin khi cho biết yếu tố môi trường và cơ sở vật chất kỹ thuật có ảnh hưởng tới sự phát triển năng lực thông tin: 84,7% sinh viên đề cập tới yếu tố môi trường học tập, 84,7% cho rằng thuộc về yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật.

(b) Một số hạn chế về năng lực thông tin của sinh viên Trường Đại học Hà Nội.

(1) Một bộ phận sinh viên Trường Đại học Hà Nội chưa nhận thức đúng về thông tin, năng lực thông tin và sự cần thiết của năng lực thông tin đối với bản thân trong bối cảnh hiện nay. Có 8.7% sinh viên chưa hiểu đúng về thông tin, tức là tập hợp kiến thức, dữ liệu và tin tức do con người truyền tải. Có 6,9% sinh viên không xác định được hoặc phân vân về cách thông tin được truyền đạt, liệu có phải dưới dạng đa phương tiện hay không.

Vẫn còn khoảng 10,8% sinh viên chưa hiểu rõ các khái niệm cơ bản về năng lực thông tin. Trong đó, 6,9% bày tỏ thái độ trung lập, không có ý kiến. Nhiều sinh viên được hỏi, còn khiêm tốn trong nhận nhận thức về các biểu hiện cụ thể của năng lực thông tin là đó là tri thức, hiểu biết về thông tin (9,6%); 8,6% sinh viên chỉ cho rằng đó là tìm kiếm, tiếp cận, khai thác, xử lý và đánh giá thông tin; 12,4% hiểu là ứng xử và tương tác với thế giới thông tin, tuân thủ pháp luật và đạo đức trong sử dụng, khai thác thông tin (11,1%). Thậm chí, có đến 26,7% sinh viên được hỏi cho biết năng lực thông tin không quan trọng, và 34,9% sinh viên tin rằng đó chỉ là một kỹ năng đơn thuần. Nếu không nhận thức đúng về năng lực thông tin, một số sinh viên sẽ không thể có năng lực tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin phục vụ học tập và nghiên cứu, cũng như không thể tự bảo vệ an toàn thông tin của bản thân trong đời sống xã hội.

(2) Một số sinh viên chưa hình thành được các kỹ năng cơ bản của năng lực thông tin.

Về việc xác định nhu cầu thông tin, có tới 8,3% sinh viên cho biết bản thân chưa biết cách xác định nhu cầu thông tin của mình trước khi tìm kiếm. Đây là thực trạng xảy ra ở không ít sinh viên bởi họ làm theo phản xạ tức thời, cảm tính mà chưa đi sâu vào phân tích, nhận định. Khi thực hiện nhiệm vụ, họ không có kế hoạch hay mục tiêu mà chỉ tìm kiếm một cách chung chung, dựa trên sự ngẫu nhiên và thiếu chủ đích. Từ đó, dẫn đến việc thông tin xuất hiện nhiều nhưng thiếu tính hữu ích trong việc giải quyết vấn đề.

Về tìm kiếm và truy cập thông tin, có tới 16,3% sinh viên bày tỏ sự không đồng ý hoàn toàn hoặc còn phân vân về việc bản thân đã sử dụng đa dạng và thành thạo các công cụ tìm kiếm. Có nghĩa là một số sinh viên không chắc chắn về khả năng sử dụng đa dạng và thành thạo các công cụ tìm kiếm thông tin của mình. Thậm chí, có tới 70,8% sinh viên thừa nhận việc tìm kiếm thông tin qua AI để nhanh gọn. Điều này cảnh báo về thực trạng lệ thuộc vào AI, làm suy giảm tính sáng tạo trong tư duy của sinh viên. Từ chỗ là một công cụ phục vụ hoạt động nhận thức, AI đã khiến sinh viên lệ thuộc vào công cụ này.

Về đánh giá thông tin, có tới 7,5% sinh viên nghi ngờ về khả năng nhận thức mối nguy hại của thông tin lạ đối với bản thân, 29,1% sinh viên biết rằng bản thân không hoàn toàn tìm kiếm dữ liệu thông qua các trang chính thống, nguồn thư viện của quốc gia và các trường học uy tín. 17,8% sinh viên chưa chắc chắn về cách kiểm tra độ tin cậy của nguồn thông tin. 17% sinh viên không thường xuyên đối chiếu nhiều nguồn thông tin để xác thực thông tin. Ngoài ra, 17,3% sinh viên chưa biết phân biệt được thông tin học thuật và thông tin phổ biến; 18% sinh viên không tham khảo ý kiến thầy cô, bạn bè về các nguồn thông tin. Đặc biệt, 39,9% sinh viên thừa nhận bản thân chưa có kỹ năng đánh giá chất lượng của bài báo khoa học. Những số liệu trên khẳng định một bộ phận sinh viên Trường Đại học Hà Nội chưa có kỹ năng đánh giá thông tin một cách khoa học, có nguy cơ bị tác động tiêu cực bởi tin giả, tin phản khoa học và tin độc hại. Thực trạng này cần có phương án giải quyết.

Về việc sử dụng thông tin, một bộ phận sinh viên Trường Đại học Hà Nội vẫn chưa sử dụng thông tin một cách khoa học, chưa có ý thức tuân thủ pháp luật, đạo đức và liêm chính học thuật: 25,2% sinh viên cho biết bản thân chưa biết trích dẫn nguồn thông tin theo quy chuẩn trong quá trình sử dụng. Mặt khác, 18,6% sinh viên không tự tin rằng bản thân biết cách sử dụng các công cụ bảo mật thông tin cá nhân; 13,3% cho biết từng truy cập các trang web hoặc đường link không chính thống. Đặc biệt, 8,5% sinh viên cho biết chưa nhận thức sâu sắc về vấn đề bản quyền tác giả; 8,8% sinh viên phân vân về việc có đạo văn trong nghiên cứu hay không.

Về chia sẻ và truyền đạt thông tin, 8,0% sinh viên cho biết chưa thực sự sử dụng ngôn từ chuẩn mực khi giao tiếp. Đây là một vấn đề cần thay đổi ngay vì nó liên quan trực tiếp đến văn hóa giao tiếp. Yếu tố cơ bản của con người trong xã hội văn minh.

(3) Một bộ phận sinh viên Trường Đại học Hà Nội chưa có ý thức tự giác, chủ động, tích cực rèn luyện năng lực về thông tin. Có đến 11,2% sinh viên chưa thực sự xác định năng lực thông tin là năng lực cần thiết cho sự nghiệp trong tương lai. Với nhận thức đó, tính tích cực và sự chủ động trong việc rèn luyện năng lực thông tin của bộ phận sinh viên này vẫn còn hạn chế. 20,1% sinh viên cho biết họ chưa chủ động tìm kiếm thông tin sau giờ học; 21,9% sinh viên chưa có thói quen đọc sách, báo, tài liệu học thuật hằng tuần; 30,2% sinh viên không tham gia các khóa học về kỹ năng thông tin; 18% không hiểu pháp luật về thông tin.

(4) Một số sinh viên Trường Đại học Hà Nội chưa nhận thức đầy đủ về các yếu tố quyết định sự phát triển năng lực thông tin của sinh viên. Có nhiều sinh viên cho rằng việc rèn luyện năng lực thông tin được quyết định bởi vai trò quản lý của Nhà nước, trường học, cơ sở vật chất và môi trường học tập, mà không nhận thức được rằng bản thân mới chính là yếu tố quyết định. Có đến 8,6% sinh viên chưa nhận thức được rằng tính chủ động và sự nghiêm túc của sinh viên là những yếu tố quyết định. Đây là một vấn đề cần định hướng trong thế giới quan của sinh viên

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, nhà trường cần nghiên cứu, lựa chọn và sắp xếp các học phần tự chọn nhằm trang bị năng lực thông tin cho sinh viên trong chương trình đào tạo, tiến tới xây dựng tiêu chuẩn năng lực thông tin cho sinh viên. Hiện nay, Trường Đại học Hà Nội đã tổ chức tập huấn kỹ năng tìm kiếm và khai thác nguồn thông tin cho sinh viên. Tuy nhiên, việc xây dựng năng lực thông tin cho sinh viên cần đa dạng hơn về các biện pháp. Trong quá trình đào tạo, ngoài những kiến thức công nghệ thông tin cơ bản, cần có học phần tự chọn giảng dạy về năng lực xác định mục tiêu, khai thác thông tin, cung cấp kiến thức về pháp luật và đạo đức thông tin, thay vì chỉ lồng ghép nhắc tới trong các môn học về công nghệ thông tin, pháp luật đại cương hay phương pháp nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, nhà trường cần xây dựng tiêu chuẩn về năng lực thông tin. Tiêu chuẩn được xây dựng có thể dựa trên nghiên cứu độc lập hoặc kế thừa các khung năng lực đã công bố, đồng thời được chỉnh sửa và bổ sung để phù hợp với đặc thù của sinh viên Trường Đại học Hà Nội. Từ đó, nhà trường có thêm căn cứ để đánh giá năng lực tiếp cận thông tin của sinh viên. Đồng thời, sinh viên có tiêu chí  để chủ động rèn luyện và tự đánh giá năng lực thông tin.

Thứ hai, đội ngũ giảng viên cần phát huy vai trò định hướng cách thức tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin, đồng thời cung cấp kiến thức về pháp luật an toàn thông tin và luật sở hữu trí tuệ. Trong giáo dục đại học, người học là trung tâm; giảng viên giữ vai trò người hướng dẫn, tổ chức và đồng hành. Bản thân giảng viên phải chủ động tìm hiểu, rèn luyện và phát triển năng lực thông tin để áp dụng trong quá trình giảng dạy. Giảng viên Trường Đại học Hà Nội cần phát huy được vai trò định hướng, cung cấp kiến thức về thông tin, tổ chức bồi dưỡng và rèn luyện năng lực thông tin cho sinh viên thông qua các phương diện: tìm kiếm, khai thức, đánh giá thông tin, sử dụng công cụ công nghệ thông tin, đặc biệt, giảng viên cần lồng ghép cung cấp kiến thức pháp luật về thông tin, đạo đức thông tin trên phương diện giao tiếp chuẩn mực, liêm chính học thuật và sở hữu trí tuệ. Từ đó, từng bước xây dựng thế giới quan khoa học cho sinh viên về năng lực thông tin. Khi sinh viên nhận thức đúng về năng lực thông tin, điều này sẽ dần dần thúc đẩy hành vi chuẩn mực về thông tin.

Thứ ba, tăng cường đầu tư cho hệ thống thư viện của nhà trường, hệ thống học liệu số, và nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật về công nghệ thông tin. Hiện nay, Trường Đại học Hà Nội đã có thư viện khang trang, hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tiếp cận nguồn thông tin khoa học, chính thống. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của thời đại số, tri thức khoa học được cập nhật nhanh chóng; vì thế, hệ thống thư viện nhà trường luôn cần không ngừng đổi mới về hình thức hoạt động, phương thức tiếp cận và cách thức quản lý để sinh viên ngày càng thuận lợi hơn trong quá trình tiếp cận tri thức phục vụ học tập và nghiên cứu. Mặt khác, trong quá trình học tập, học liệu là yếu tố cơ bản. Trong kỷ nguyên công nghệ, xây dựng học liệu số là việc làm tất yếu nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nhanh chóng, trực quan, dễ tiếp thu, góp phần nâng cao khả năng học tập của sinh viên trong mọi điều kiện, đồng thời thúc đẩy học tập suốt đời. Đặc biệt, cơ sở vật chất về công nghệ, mạng internet là yếu tố bảo đảm quá trình học tập số của sinh viên hiện nay, do đó, nhà trường cần tăng cường hiện đại hóa cơ sở vật chất công nghệ và mạng internet để phục vụ điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập của sinh viên bởi cơ sở vật chất công nghệ có tính lạc hậu nhanh hơn so với cơ sở chất của các hình thức đào tạo khác.

Thứ tư, bản thân sinh viên cần nâng cao ý thức chủ động xây dựng năng lực thông tin cho bản thân, xem đây là một năng lực cốt lõi của người lao động trong kỷ nguyên số. Với mọi đối tượng, phát triển là tự thân phát triển. Do đó, các giải pháp từ phía nhà trường, giảng viên, thư viện, học liệu hay cơ sở vật chất chỉ là những điều kiện bên ngoài có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm, chứ không mang tính quyết định. Bản thân sinh viên là yếu tố giữ vai trò chủ đạo. Do đó, sinh viên cần có ý thức tự học, tự nghiên cứu và tinh thần học tập suốt đời. Mỗi sinh viên phải xác định được năng lực thông tin là năng lực cần thiết của người lao động trong kỷ nguyên số để chủ động, tích cực rèn luyện năng lực này. Trước hết, cần tìm hiểu năng lực thông tin là gì, hiểu rõ các thành tố của năng lực thông tin và lập kế hoạch học tập, rèn luyện năng lực thông tin. Ngoài ra, sinh viên có thể tham gia các buổi tọa đàm, workshop, các lớp kỹ năng công nghệ thông tin… để từ đó không chỉ nâng cao nhận thức mà còn rèn luyện, củng cố năng lực công nghệ thông tin cho bản thân.

5. Kết luận

Có thể thấy, sinh viên Trường Đại học Hà Nội về cơ bản đã nhận thức đúng và bước đầu hình thành năng lực thông tin cho bản thân trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tuy nhiên, những hạn chế về năng lực thông tin còn tồn tại ở một bộ phận sinh viên; việc còn thiếu, còn yếu trong nhận thức và hành động khiến năng lực thông tin của bộ phận sinh viên này chưa đạt yêu cầu. Do đó, cấp thiết cần có những biện pháp về chính sách của nhà trường, sự đồng hành, định hướng của giảng viên và sự chủ động, tích cực của chính bản thân sinh viên.

Tài liệu tham khảo:
Đỗ Văn Hùng (2022). Cẩm nang phát triển năng lực thông tin cho sinh viên. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ferrari, A., & Punie, Y. (2013). DIGCOMP: A framework for developing and understanding digital competence in Europe. In: Publications Office of the European Union, Luxembourg, 45p.
Gilster, P. (1997). Digital literacy. Wiley Computer Pub. New York, 267p.
Nguyễn Tấn Đại, Marquet, P. (2019). Năng lực công nghệ số đáp ứng nhu cầu xã hội: Các mô hình quốc tế và hướng tiếp cận tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh, 2019, số 244(12), tr. 23–39.
Tang, C. M., & Chaw, L. Y. (2016). Digital Literacy: A Prerequisite for Effective Learning in a Blended Learning Environment? Electronic Journal of e-Learning,14(1), 54 – 65.
Trường Đại học Hà Nội (2022). Trường Đại học Hà Nội khởi động Đề án Chuyển đổi số giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030, https://hanu.vn/a/101434/Truong-Dai-hoc-Ha-Noi-khoi-dong-De-an-Chuyen-doi-so-giai-doan-2022-2025-dinh-huong-den-nam-2030
Trường Đại học Hà Nội (2025). Báo cáo số 5539/BC-ĐHHN ngày 31/12/2025 về báo cáo thường niên thực hiện chương trình giáo dục đại học của Trường Đại học Hà Nội năm 2025.
UNESCO (2018). A Global framework of reference on digital literacy skills for indicator. UNESCO Institute for Statistics, Information Paper No. 51, Ref: UIS/2018/ICT/IP51.ALA (2000), Information literacy competency standards of higher education. American Library Association, Chicago, 16p.