Hoàn thiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân

Improving the legal framework on administrative sanctions in the field of personal income tax

TS. Nguyễn Thế Tài
Học viện Hành chính và Quản trị công
Trần Thị Kim Bích
Thuế cơ sở 8 tỉnh Gia Lai
Email: taint@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân có đặc thù là người bị xử phạt chủ yếu là cá nhân, số vụ việc lớn nhưng phần đông là vi phạm thủ tục có mức độ nguy hiểm thấp, trong khi vi phạm ngày càng được phát hiện qua dữ liệu điện tử. Trên cơ sở đối chiếu Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025, Luật Quản lý thuế năm 2025 và các nghị định hướng dẫn, bài viết chỉ ra bốn hạn chế: thiếu cơ chế miễn xử phạt đối với người nộp thuế tự nguyện khắc phục vi phạm thủ tục; quy định về thời hiệu thiếu đồng bộ và chưa định nghĩa “ngày phát hiện hành vi vi phạm”; thủ tục lập biên bản chưa tương thích với vi phạm được phát hiện bằng dữ liệu; cơ chế thi hành quyết định xử phạt chưa theo kịp tính di động của người nộp thuế. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Từ khóa: Xử phạt vi phạm hành chính; thuế thu nhập cá nhân; thời hiệu xử phạt; biên bản vi phạm hành chính; dữ liệu điện tử.

Abstract: Administrative sanctions in the field of personal income tax are characterised by a large number of cases involving mainly individual taxpayers, most of which are low-risk procedural violations that are increasingly detected through electronic data. By examining the Law on Handling Administrative Violations, the 2025 Law on Tax Administration and their implementing decrees, the article identifies four shortcomings: the absence of a penalty waiver for taxpayers who voluntarily remedy procedural violations; inconsistent rules on the statute of limitations and the lack of a definition of the “date of detection”; a record-based procedure ill-suited to data-detected violations; and enforcement mechanisms that have not kept pace with taxpayer mobility. On that basis, the article proposes several recommendations for legal improvement.

Keywords: Administrative sanctions; personal income tax; statute of limitations; administrative violation record; electronic data.

1. Đặt vấn đề

Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế trực thu có diện người nộp thuế rộng nhất trong hệ thống thuế Việt Nam. Chủ thể có nghĩa vụ không chỉ là người làm công ăn lương mà còn bao gồm cá nhân kinh doanh, cá nhân chuyển nhượng bất động sản, chứng khoán, cá nhân có thu nhập từ nền tảng số, cùng tổ chức chi trả thu nhập có nghĩa vụ khấu trừ, khai thay. Do đó, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính về thuế thu nhập cá nhân mang tính “đại chúng” rõ rệt: số lượng vụ việc lớn, giá trị mỗi vụ việc nhỏ và phần lớn người vi phạm không phải là chủ thể chuyên nghiệp trong lĩnh vực thuế.

Giai đoạn 2025 – 2026, khung pháp lý về lĩnh vực này thay đổi liên tục. Để thích ứng với việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025 (Quốc hội, 2025a), Luật Quản lý thuế năm 2025 thay thế Luật Quản lý thuế năm 2019 (Quốc hội, 2019, 2025b), cùng Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 (Quốc hội, 2025c) được ban hành. Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn (Chính phủ, 2020) tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 (Chính phủ, 2025b) và Nghị định số 291/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 (Chính phủ, 2026). Sự điều chỉnh liên tục giúp chính sách linh hoạt hơn, nhưng khi các văn bản được sửa đổi vào những thời điểm khác nhau, với những mục tiêu khác nhau, nguy cơ thiếu đồng bộ giữa chúng là khó tránh khỏi. Bài viết phân tích các điểm thiếu đồng bộ đó, tập trung vào những vấn đề bộc lộ rõ trong xử phạt về thuế thu nhập cá nhân và đề xuất hướng hoàn thiện.

2. Khái quát quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế thu nhập cá nhân

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân không có chế định xử phạt riêng mà sử dụng chung cơ chế xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Cơ chế này được cấu trúc theo ba tầng văn bản.

Thứ nhất, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025, xác lập các nguyên tắc xử phạt, hệ thống hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và các thủ tục chung như: lập biên bản (Điều 58), giải trình (Điều 61), thời hạn ra quyết định xử phạt (Điều 66), giao quyết định (Điều 70), chấp hành và thời hiệu thi hành quyết định xử phạt (Điều 73, Điều 74), cưỡng chế thi hành (Điều 86). Luật sửa đổi, bổ sung năm 2025, không còn trực tiếp quy định mức thẩm quyền của từng chức danh mà giao Chính phủ quy định chi tiết (Điều 37a); trên cơ sở đó, Điều 13 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 (Chính phủ, 2025a) quy định thẩm quyền xử phạt của các chức danh trong cơ quan thuế.

Thứ hai, Luật Quản lý thuế năm 2025, với các quy định đặc thù tại Mục 1 Chương VIII. Theo khoản 7 Điều 44, thời hiệu xử phạt là 2 năm đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế và 5 năm đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu; thời điểm tính thời hiệu thực hiện theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo khoản 8 Điều 44, quá thời hiệu xử phạt, người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu và tiền chậm nộp trong thời hạn 10 năm trở về trước kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Khoản 2 Điều 44 quy định các trường hợp không xử phạt; Điều 48 và Điều 49 quy định các trường hợp và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

Thứ ba, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 (Chính phủ, 2021), Nghị định số 310/2025/NĐ-CP và Nghị định số 291/2026/NĐ-CP, quy định cụ thể hành vi vi phạm, mức phạt, thẩm quyền và một số thủ tục riêng. Các hành vi liên quan đến thuế thu nhập cá nhân tập trung ở ba nhóm chính: (1) Vi phạm thời hạn nộp hồ sơ khai thuế (Điều 13), với mức phạt tăng dần theo số ngày chậm và có thể chỉ bị phạt cảnh cáo khi chậm từ 01 – 5 ngày và có tình tiết giảm nhẹ (khoản 1 Điều 13); (2) Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn (Điều 16), với mức phạt 20% số thuế khai thiếu; (3) Trốn thuế (Điều 17), với mức phạt từ 1 – 3 lần số thuế trốn. Nghị định số 291/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 19a về vi phạm trong việc cung cấp thông tin phục vụ trao đổi thông tin thuế theo điều ước quốc tế. Về thủ tục, Nghị định có các quy định riêng về thời hiệu xử phạt (Điều 8), những trường hợp không xử phạt (Điều 9), thẩm quyền (Điều 32), lập biên bản (Điều 36), giải trình (Điều 37), giao, gửi quyết định (Điều 39) và thời hiệu thi hành quyết định xử phạt (Điều 40).

3. Một số hạn chế trong quy định pháp luật

3.1. Thiếu cơ chế miễn xử phạt đối với người nộp thuế tự nguyện khắc phục vi phạm thủ tục

Pháp luật hiện hành xử lý vi phạm thủ tục thuế chủ yếu theo tiêu chí định lượng. Mức phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế được xác định theo số ngày chậm (Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP) và mỗi kỳ khai thuế không nộp được coi là một hành vi vi phạm riêng. Trong cách tiếp cận này, việc người vi phạm tự nguyện khai báo, khắc phục chỉ được ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ (Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP), có tác dụng giảm mức phạt trong phạm vi khung chứ không loại trừ trách nhiệm.

Đối với hành vi khai sai, pháp luật lại có cách tiếp cận khác. Điểm a khoản 2 Điều 44 Luật Quản lý thuế năm 2025 quy định không xử phạt trường hợp người nộp thuế có hành vi khai sai nhưng đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và tự giác nộp đủ số tiền thuế trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra, hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện; người nộp thuế khi đó chỉ phải nộp số thuế còn thiếu và tiền chậm nộp. Cũng tại điểm này, cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nộp hồ sơ quyết toán mà có phát sinh số tiền thuế được hoàn cũng không bị xử phạt. Hai quy định này thể hiện một triết lý nhất quán: khi vi phạm không gây thất thu ngân sách hoặc đã được người nộp thuế chủ động khắc phục, Nhà nước chấp nhận không xử phạt để đổi lấy việc tuân thủ tự nguyện. Tuy nhiên, triết lý ấy chưa được áp dụng cho nhóm vi phạm thủ tục nói chung, dù xét về mức độ nguy hiểm, vi phạm thủ tục thường nhẹ hơn vi phạm khai sai.

Hạn chế này bộc lộ rõ nhất ở nhóm người nộp thuế đã ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ kinh doanh trong nhiều năm, sau đó chủ động quay lại cơ quan thuế để khôi phục mã số thuế nhằm hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động. Theo điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế; đối với hành vi không nộp hồ sơ khai thuế quy định tại điểm c, d khoản 4 Điều 13, đó là ngày người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm. Hệ quả là khi người nộp thuế quay lại nộp bù hồ sơ, thời hiệu 2 năm hầu như không có tác dụng loại trừ các kỳ vi phạm xa và nhiều kỳ khai thuế bị bỏ sót có thể cộng dồn thành một khoản phạt đáng kể. Đối với một chủ thể không còn hoạt động và không còn nguồn thu, khoản phạt này không còn chức năng răn đe hay giáo dục mà trở thành chi phí phải trả cho việc “ra khỏi hệ thống”. Nghịch lý là người nộp thuế có động cơ để mã số thuế ở trạng thái treo thay vì làm thủ tục chấm dứt, làm gia tăng dữ liệu không còn giá trị quản lý trong hệ thống thuế và làm sai lệch các chỉ số về tuân thủ.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy, cơ chế tự nguyện khai báo (voluntary disclosure) thường được thiết kế như một công cụ quản lý tuân thủ độc lập, chứ không chỉ là một tình tiết giảm nhẹ. Bộ luật Thuế của Cộng hòa Liên bang Đức, tại § 371, cho phép người nộp thuế được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi trốn thuế nếu tự khai báo đầy đủ trước khi hành vi bị phát hiện và nộp đủ số thuế trốn (Cộng hòa Liên bang Đức, 1976). OECD, trong các khuyến nghị về quản lý rủi ro tuân thủ, cũng coi việc tạo “lối thoát” cho người nộp thuế muốn quay lại tuân thủ là cấu phần cần thiết của một chiến lược quản lý thuế hiệu quả (OECD, 2004). Nếu cơ chế như vậy được chấp nhận ngay cả đối với hành vi trốn thuế ở một số quốc gia thì việc áp dụng một cơ chế tương tự, với điều kiện chặt chẽ, cho vi phạm thủ tục ở Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở.

3.2. Quy định về thời hiệu thiếu đồng bộ và chưa định nghĩa “ngày phát hiện hành vi vi phạm”

Vấn đề thứ nhất là sự thiếu đồng bộ giữa luật và nghị định về cách tính thời hiệu. Khoản 7 Điều 44 Luật Quản lý thuế năm 2025 quy định thời điểm tính thời hiệu “thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính”, tức là theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính: đối với vi phạm đã kết thúc, thời hiệu tính từ ngày chấm dứt hành vi vi phạm; đối với vi phạm đang được thực hiện, thời hiệu tính từ ngày người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm. Trong khi đó, Điều 8 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, vốn được xây dựng để hướng dẫn Điều 137 Luật Quản lý thuế năm 2019 (tính thời hiệu “kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm”), lại thiết lập một hệ thống mốc tính riêng: ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn thực hiện thủ tục thuế, ngày người nộp thuế nộp hồ sơ, hoặc ngày phát hiện vi phạm, tùy từng hành vi. Hai cách tính này không hoàn toàn trùng khớp. Khi Luật Quản lý thuế năm 2025 đã có hiệu lực mà nghị định chưa được rà soát tương ứng, người áp dụng pháp luật phải tự xác định quy định nào chi phối và chính sự không chắc chắn đó có thể trở thành căn cứ để người bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện.

Vấn đề thứ hai, pháp luật chưa định nghĩa “ngày phát hiện hành vi vi phạm”, trong khi mốc này giữ vai trò kép. Một mặt, đây là mốc tính thời hạn truy thu 10 năm (khoản 8 Điều 44 Luật Quản lý thuế năm 2025; khoản 6 Điều 8 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP). Mặt khác, đây là mốc bắt đầu tính thời hiệu đối với hành vi không nộp hồ sơ khai thuế (điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP) và đối với mọi vi phạm đang được thực hiện (Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Trong mô hình quản lý dựa trên dữ liệu, có ít nhất bốn thời điểm có thể được coi là “phát hiện”: thời điểm hệ thống phân tích rủi ro đưa ra cảnh báo; thời điểm công chức thuế nhận diện dấu hiệu bất thường; thời điểm cơ quan thuế ban hành văn bản yêu cầu giải trình hoặc quyết định kiểm tra và thời điểm có đủ căn cứ kết luận về hành vi. Mỗi cách hiểu dẫn đến kết quả khác nhau về phạm vi truy thu, về việc vụ việc còn hay đã hết thời hiệu và về việc xác định sự chậm trễ có do lỗi chủ quan của cơ quan thuế hay không. Sự thiếu vắng một định nghĩa pháp lý thống nhất vừa làm suy giảm tính xác định của pháp luật, vừa tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế.

Trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại hai đơn vị trong cùng một năm, thuộc diện phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân nhưng không thực hiện, là ví dụ điển hình. Vi phạm này thường chỉ được nhận diện khi cơ quan thuế tổng hợp, đối chiếu chứng từ khấu trừ từ nhiều tổ chức chi trả, việc thường chỉ hoàn tất sau khi kết thúc kỳ quyết toán. Tùy việc có phát sinh số thuế phải nộp hay không, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 13 hoặc điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP với thời hiệu khác nhau; nhưng trong cả hai trường hợp, mốc tính thời hiệu đều là ngày phát hiện vi phạm (điểm a, điểm b khoản 2 Điều 8). Kết quả xử lý vì vậy phụ thuộc trực tiếp vào việc “phát hiện” được hiểu là thời điểm hệ thống cảnh báo hay thời điểm cơ quan thuế mời người nộp thuế làm việc. Khi được mời làm việc, người nộp thuế thường giải thích rằng mình không biết có nghĩa vụ quyết toán do không được hướng dẫn, điều cho thấy cơ quan thuế cũng cần có trách nhiệm chủ động thông báo đối với nhóm đối tượng này.

Một khoảng hở khác nằm ở giai đoạn sau khi lập biên bản. Theo Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính, quyết định xử phạt phải được ban hành trong thời hạn luật định kể từ ngày lập biên bản; nếu quá thời hạn này hoặc đã hết thời hiệu, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt mà chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, buộc nộp số thuế còn thiếu và tiền chậm nộp (Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 38 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP). Tại Thuế cơ sở 8 tỉnh Gia Lai, năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026 lần lượt có 5 và 3 biên bản vi phạm về thuế thu nhập cá nhân không dẫn đến quyết định xử phạt, trong đó có những trường hợp liên quan đến thời hiệu. Con số tuy nhỏ, nhưng cho thấy khoảng cách giữa thời điểm biên bản được lập và thời điểm hồ sơ đủ căn cứ để ra quyết định có thể khiến vụ việc rơi ra ngoài phạm vi xử phạt.

Cần lưu ý thêm, dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đề xuất tăng thời hiệu xử phạt chung nhưng loại trừ lĩnh vực thuế để áp dụng theo luật chuyên ngành (Bộ Công an, 2026). Điều này có nghĩa là các vấn đề về thời hiệu trong lĩnh vực thuế sẽ không được giải quyết thông qua luật chung mà phải được xử lý trực tiếp trong pháp luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn.

3.3. Thủ tục lập biên bản chưa tương thích với vi phạm được phát hiện bằng dữ liệu

Theo Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo Điều 56, việc xử phạt phải được tiến hành trên cơ sở biên bản vi phạm hành chính; từ lần sửa đổi năm 2020, biên bản có thể được lập bằng phương thức điện tử. Trong lĩnh vực thuế, điểm b khoản 2 Điều 36 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 21 Điều 1 Nghị định số 310/2025/NĐ-CP, xác định biên bản vi phạm hành chính điện tử được lập và gửi đáp ứng yêu cầu về giao dịch điện tử là cơ sở để cơ quan thuế ban hành quyết định xử phạt; việc mở rộng sang các vi phạm thủ tục thuế khác phụ thuộc vào điều kiện của hệ thống công nghệ thông tin. Đây là một bước tiến, nhưng về bản chất vẫn là số hóa biên bản, chưa phải là thừa nhận dữ liệu do hệ thống tự động ghi nhận như một căn cứ xử phạt độc lập.

Thủ tục xử phạt không lập biên bản tại Điều 56 Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng khó áp dụng cho vi phạm thuế, kể cả khi hình thức xử phạt chỉ là cảnh cáo. Thủ tục này được thiết kế cho việc xử phạt tại chỗ trong hoạt động tuần tra, kiểm soát và chính Điều 56 yêu cầu phải lập biên bản nếu vi phạm được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ. Vi phạm thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, vốn được phát hiện qua hệ thống, vì vậy rơi vào vùng chưa rõ ràng: không thể xử phạt tại chỗ, trong khi dữ liệu hệ thống cũng chưa được thừa nhận để thay thế biên bản.

Với các vi phạm về thời hạn, bằng chứng về hành vi không nằm ở lời khai hay kết quả kiểm tra thực địa mà nằm ở dấu thời gian (timestamp) của hồ sơ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống thuế điện tử. Đây là dữ liệu được hệ thống ghi nhận tự động, khách quan và có giá trị dùng làm chứng cứ theo Điều 11 Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 ngày 22/6/2023 (Quốc hội, 2023). Việc yêu cầu công chức lập biên bản để “xác nhận lại” một sự kiện mà dữ liệu đã chứng minh đầy đủ làm tăng chi phí hành chính mà không làm tăng giá trị chứng minh. Với quy mô có thể lên tới hàng trăm vụ chậm nộp hồ sơ mỗi năm tại một đơn vị thuế cơ sở, chi phí này là đáng kể.

Một vụ việc thực tế cho thấy rõ hệ quả của quy định hiện hành: một cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp hồ sơ khai thuế chậm 4 ngày vì gia đình có việc đột xuất. Theo khoản 1 Điều 13 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, hành vi này có thể chỉ bị phạt cảnh cáo. Nhưng cơ quan thuế vẫn phải lập biên bản, trình lãnh đạo ký quyết định xử phạt, sau đó hồ sơ mới được chuyển tiếp để người dân thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai. Một vi phạm nhỏ, chứng cứ rõ ràng, lại kéo dài thời gian giải quyết một thủ tục hành chính khác của chính người dân. Đây là trường hợp chi phí của việc xử phạt vượt quá lợi ích quản lý mà nó mang lại.

Tuy vậy, không thể xem biên bản đơn thuần là công cụ ghi nhận chứng cứ. Về bản chất tố tụng, biên bản còn là thời điểm người vi phạm chính thức được biết về hành vi bị quy kết và là điểm khởi đầu cho việc thực hiện quyền giải trình. Theo Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 37 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 22 Điều 1 Nghị định số 310/2025/NĐ-CP), người vi phạm có quyền giải trình khi mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi từ 15 triệu đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30 triệu đồng trở lên đối với tổ chức, hoặc khi vi phạm thuộc các điều 16, 17 và 18 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Vì vậy, nếu thủ tục biên bản được đơn giản hóa mà không có cơ chế thay thế, người nộp thuế, nhất là trong các vụ việc dưới ngưỡng giải trình, có thể mất cơ hội được biết và phản hồi trước khi bị xử phạt, chẳng hạn khi việc chậm nộp là do sự cố kỹ thuật của hệ thống. Vấn đề đặt ra không phải là bỏ hay giữ biên bản mà là thiết kế một thủ tục vừa khai thác được giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử, vừa bảo toàn quyền tự bảo vệ của người bị xử phạt.

3.4. Cơ chế thi hành quyết định xử phạt chưa theo kịp tính di động của người nộp thuế

Người nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân, có thể thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc và nguồn thu nhập một cách nhanh chóng, trong khi việc giao, gửi quyết định xử phạt (Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 39 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP) vẫn chủ yếu dựa trên địa chỉ đăng ký thuế. Pháp luật chưa xác định rõ giá trị pháp lý của việc gửi quyết định xử phạt qua tài khoản định danh điện tử hoặc tài khoản giao dịch thuế điện tử của cá nhân, cũng như thời điểm người nhận được coi là đã nhận quyết định trong trường hợp này. Khoảng trống đó khiến việc giao quyết định, kéo theo là việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn chấp hành 10 ngày (Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính), trở nên khó khăn mỗi khi người nộp thuế thay đổi nơi cư trú.

Bên cạnh đó, có sự lệch pha giữa hai chế độ thời hạn áp dụng cho các khoản phát sinh từ cùng một vụ việc. Tiền phạt chịu thời hiệu thi hành 01 năm (Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 40 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP), trong khi tiền thuế còn thiếu và tiền chậm nộp được quản lý và cưỡng chế theo pháp luật quản lý thuế (Điều 48, Điều 49 Luật Quản lý thuế năm 2025). Khoản 4 Điều 4 Luật Quản lý thuế năm 2025 lại xếp tiền phạt vào khái niệm “tiền thuế nợ”, nên trên hệ thống quản lý thuế, tiền phạt thường được theo dõi chung với nợ thuế thông thường. Dù Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính cho phép tính lại thời hiệu khi người bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn, việc chứng minh sự cố ý đối với một người đơn giản là chuyển nơi ở không hề dễ dàng. Nếu không có cơ chế tách bạch và cảnh báo, quyết định xử phạt có thể hết thời hiệu thi hành mà không được phát hiện kịp thời, trong khi nghĩa vụ thuế gốc vẫn đang được đôn đốc.

Ngoài ra, pháp luật còn thiếu công cụ ngăn chặn tẩu tán tài sản trước khi cưỡng chế. Theo Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 48 Luật Quản lý thuế năm 2025, biện pháp cưỡng chế chỉ được áp dụng khi người bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định trong thời hạn quy định. Khoảng thời gian này đủ để một người có ý định né tránh chuyển tài sản, rút tiền khỏi tài khoản hoặc chuyển quyền sở hữu cho người thân. Đồng thời, nghĩa vụ phối hợp của tổ chức tín dụng và sàn giao dịch thương mại điện tử trong việc cung cấp thông tin tài khoản, thu nhập và thực hiện yêu cầu phong tỏa của cơ quan thuế (Điều 40 Luật Quản lý thuế năm 2025) chưa đi kèm thời hạn phản hồi cụ thể, còn chế tài đối với hành vi không cung cấp thông tin (Điều 19 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 310/2025/NĐ-CP) chưa đủ sức răn đe so với lợi ích mà việc tẩu tán tài sản có thể mang lại.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện

Một là, thiết lập cơ chế tự nguyện khắc phục đối với vi phạm thủ tục thuế. Cơ sở pháp lý cho kiến nghị này đã có sẵn: điểm a khoản 2 Điều 44 Luật Quản lý thuế năm 2025, sau khi liệt kê các trường hợp không xử phạt, giao Chính phủ quy định “các trường hợp khác”. Vì vậy, Chính phủ có thể bổ sung ngay vào Điều 9 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP một trường hợp không xử phạt, hoặc chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, đối với vi phạm thủ tục thuế mà không cần chờ sửa luật. Cơ chế này chỉ nên được áp dụng khi hội đủ các điều kiện: người nộp thuế đã ngừng hoạt động thực tế và không phát sinh nghĩa vụ thuế trong các kỳ bị bỏ sót; không có dấu hiệu gian lận, trốn thuế; chủ động liên hệ cơ quan thuế trước khi bị kiểm tra hoặc được yêu cầu giải trình; và hoàn thành đầy đủ việc kê khai, nộp số thuế còn thiếu cùng tiền chậm nộp, nếu có. Để tránh lạm dụng, mỗi người nộp thuế chỉ được áp dụng một lần trong một khoảng thời gian nhất định; trường hợp tái phạm hoặc đã từng bị xử phạt về hành vi tương tự bị loại trừ; việc áp dụng phải được ghi nhận trên hệ thống quản lý thuế để phục vụ đánh giá rủi ro, phù hợp với nguyên tắc quản lý tuân thủ tại Điều 34 Luật Quản lý thuế năm 2025. Với các giới hạn đó, cơ chế này không làm suy giảm tính răn đe mà giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào những trường hợp cố tình vi phạm, đồng thời làm sạch dữ liệu về người nộp thuế không còn hoạt động.

Hai là, đồng bộ cách tính thời hiệu và định nghĩa “ngày phát hiện hành vi vi phạm”. Trước hết, cần rà soát Điều 8 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP để bảo đảm phù hợp với khoản 7 Điều 44 Luật Quản lý thuế năm 2025. Trên cơ sở khoản 10 Điều 44 (giao Chính phủ quy định chi tiết), nghị định nên xác định rõ đối với từng nhóm hành vi vi phạm thủ tục thuế, hành vi nào được coi là “đã kết thúc” và hành vi nào là “đang được thực hiện” theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thay vì duy trì một hệ thống mốc tính riêng được xây dựng theo luật cũ.

Văn bản hướng dẫn Luật Quản lý thuế năm 2025 cần định nghĩa rõ “ngày phát hiện hành vi vi phạm” là ngày cơ quan thuế ban hành văn bản đầu tiên yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung hồ sơ hoặc ngày ban hành quyết định kiểm tra, tùy theo mốc nào đến trước. Các mốc này đều được thể hiện bằng văn bản, được người nộp thuế biết đến và có thể kiểm chứng; ngược lại, thời điểm hệ thống phân tích rủi ro đưa ra cảnh báo là dữ liệu nội bộ, người nộp thuế không thể biết, nên không phù hợp để làm căn cứ xác lập hậu quả pháp lý bất lợi đối với họ. Đối với cá nhân có nhiều nguồn thu nhập thuộc diện phải tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân, cần bổ sung nghĩa vụ của cơ quan thuế trong việc chủ động thông báo khi dữ liệu khấu trừ từ các tổ chức chi trả đã được tổng hợp, kèm thời hạn hợp lý để người nộp thuế thực hiện quyết toán.

Cần quy định rõ trách nhiệm của công chức và người đứng đầu cơ quan thuế khi vụ việc hết thời hiệu hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt do nguyên nhân chủ quan; để trách nhiệm này được xác định khách quan, hệ thống quản lý thuế cần lưu vết đầy đủ các mốc thời gian của từng hồ sơ, từ khi phát sinh dấu hiệu vi phạm đến khi ban hành quyết định.

Ba là, công nhận dữ liệu hệ thống là căn cứ xử phạt, kèm cơ chế thông báo điện tử. Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) cần bổ sung một thủ tục xử phạt dựa trên dữ liệu, bên cạnh thủ tục có lập biên bản (Điều 58) và không lập biên bản (Điều 56). Theo đó, đối với các vi phạm về thời hạn thực hiện thủ tục thuế đã được hệ thống thuế điện tử hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia ghi nhận tự động, dữ liệu này được sử dụng làm căn cứ ra quyết định xử phạt thay cho biên bản vi phạm hành chính; Điều 36 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi tương ứng. Để không làm suy giảm quyền của người nộp thuế, trước khi ban hành quyết định, cơ quan thuế phải gửi thông báo điện tử đến tài khoản giao dịch thuế điện tử hoặc tài khoản định danh điện tử của người nộp thuế, nêu rõ hành vi, dữ liệu làm căn cứ và hình thức, mức xử phạt dự kiến. Người nộp thuế được dành một thời hạn hợp lý để phản hồi và cung cấp chứng cứ, chẳng hạn chứng minh việc chậm nộp là do sự cố kỹ thuật hoặc trường hợp bất khả kháng theo khoản 21 Điều 4 Luật Quản lý thuế năm 2025; quyền khiếu nại, khởi kiện sau khi có quyết định vẫn được giữ nguyên. Thiết kế này vừa khai thác được giá trị chứng cứ khách quan của dữ liệu điện tử, giảm chi phí hành chính, vừa bảo toàn chức năng tố tụng của biên bản là bảo đảm người bị xử phạt được biết và được phản hồi trước khi chịu chế tài.

Bốn là, tăng cường khả năng thi hành quyết định xử phạt. Điều 70 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 39 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP cần xác định việc giao, gửi quyết định xử phạt qua tài khoản định danh điện tử và tài khoản giao dịch thuế điện tử có giá trị pháp lý tương đương việc giao trực tiếp văn bản giấy, đồng thời quy định rõ thời điểm người nhận được coi là đã nhận quyết định. Để khắc phục sự lệch pha giữa thời hiệu thi hành tiền phạt và thời hạn cưỡng chế nợ thuế, cần quy định bắt buộc hệ thống quản lý thuế theo dõi tiền phạt tách biệt với nợ thuế, có cảnh báo tự động trước khi hết thời hiệu thi hành 01 năm; ở tầng luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) nên làm rõ mối quan hệ giữa thời hiệu thi hành quyết định xử phạt (Điều 74) và thời hạn cưỡng chế nợ thuế khi hai khoản cùng phát sinh từ một vụ việc.

Đối với nguy cơ tẩu tán tài sản, cần cụ thể hóa nghĩa vụ của tổ chức tín dụng và sàn giao dịch thương mại điện tử tại Điều 40 Luật Quản lý thuế năm 2025 bằng thời hạn phản hồi xác định, đồng thời nâng mức chế tài tại Điều 19 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Khả năng cho phép cơ quan thuế áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm thời trước khi hết thời hạn tự nguyện chấp hành khi có dấu hiệu tẩu tán tài sản cũng có thể được xem xét, nhưng chỉ nên được chấp nhận với điều kiện áp dụng chặt chẽ, có căn cứ rõ ràng và kèm cơ chế kiểm soát, khiếu nại kịp thời.

5. Kết luận

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế thu nhập cá nhân đã được cập nhật liên tục trong giai đoạn 2025 – 2026, thể hiện nỗ lực của Nhà nước trong việc thích ứng với việc sắp xếp bộ máy và chuyển đổi số trong quản lý thuế. Tuy nhiên, hệ thống quy định hiện hành vẫn còn bốn nhóm hạn chế: thiếu cơ chế miễn xử phạt đối với người nộp thuế tự nguyện khắc phục vi phạm thủ tục; quy định về thời hiệu thiếu đồng bộ giữa luật và nghị định và chưa định nghĩa “ngày phát hiện hành vi vi phạm”; thủ tục lập biên bản chưa tương thích với vi phạm được phát hiện bằng dữ liệu; cơ chế thi hành quyết định xử phạt chưa theo kịp tính di động của người nộp thuế. Điểm chung của các hạn chế này là quy định pháp luật về cơ bản vẫn được thiết kế cho mô hình quản lý dựa trên hồ sơ giấy và kiểm tra trực tiếp, trong khi thực tiễn quản lý thuế đã chuyển mạnh sang mô hình dựa trên dữ liệu và quản lý rủi ro.

Quá trình xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn Luật Quản lý thuế năm 2025 là thời điểm thích hợp để điều chỉnh đồng bộ các vấn đề nêu trên. Hướng hoàn thiện cần nhất quán theo ba trục: nghiêm minh với hành vi gian lận, trốn thuế; tương xứng và linh hoạt với vi phạm thủ tục; bảo đảm đầy đủ quyền được thông tin, quyền giải trình của người nộp thuế trong môi trường số. Kết hợp hài hòa ba trục này không chỉ nâng cao hiệu lực của pháp luật xử phạt mà còn góp phần xây dựng quan hệ tin cậy giữa cơ quan thuế và người nộp thuế – nền tảng của tuân thủ tự nguyện bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Công an (19/6/2026). Hồ sơ dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an. https://mps.gov.vn/chinh-sach-phap-luat/lay-y-kien-du-thao/ho-so-du-an-luat-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-sua-doi-1781854312
Chính phủ (2020). Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Chính phủ (2021). Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn; hải quan; kinh doanh bảo hiểm, kế toán, kiểm toán độc lập; ngân sách nhà nước; quản lý, sử dụng tài sản công; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước.
Chính phủ (2025a). Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Chính phủ (2026). Nghị định số 291/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Cộng hòa Liên bang Đức (1976). Abgabenordnung (AO), § 371 Selbstanzeige bei Steuerhinterziehung. Bộ luật Thuế, § 371 Tự khai báo đối với hành vi trốn thuế. https://www.gesetze-im-internet.de/ao_1977/371.html
OECD (2004). Compliance risk management: Managing and improving tax compliance. Forum on Tax Administration. https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/topics/policy-issues/tax-administration/compliance-risk-management-managing-and-improving-tax-compliance.pdf
Quốc hội (2019). Luật Quản lý thuế năm 2019.
Quốc hội (2020). Luật số 67/2020/QH14 ngày 13/11/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
Quốc hội (2024). Luật số 56/2024/QH15 ngày 29/11/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Quốc hội (2025a). Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025.
Quốc hội (2025b). Luật Quản lý thuế năm 2025.
Quốc hội (2025c). Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025.