Lessons from the Central Office for South Vietnam’s leadership of mass mobilization work, 1969-1975
Trung tá Thái Phi
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: Thaiphilq@gmail.com
(Quanlynhanuoc. vn) – Giai đoạn 1969 – 1975, trong bối cảnh chiến tranh cách mạng ở miền Nam bước vào thời kỳ quyết liệt, Trung ương Cục miền Nam đã lãnh đạo công tác dân vận linh hoạt, sáng tạo, góp phần phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, củng cố lực lượng và tạo thế, lực cho cách mạng tiến tới thắng lợi hoàn toàn. Bài viết khái quát một số kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam, qua đó làm rõ giá trị lịch sử và những gợi mở thực tiễn đối với công tác dân vận hiện nay.
Từ khóa: Công tác dân vận; Trung ương Cục miền Nam; 1969 – 1975; chiến tranh nhân dân; lãnh đạo của Đảng.
Abstract: From 1969 to 1975, as the revolutionary war in the South entered a decisive phase, the Central Office of the South led mass mobilization efforts in a flexible and creative manner, helping to harness the strength of the masses, consolidate forces, and create the conditions and momentum for the revolution to achieve complete victory. This article provides an overview of some key experiences in the Southern Central Office’s leadership of mass mobilization efforts, thereby clarifying their historical significance and offering practical insights for current mass mobilization work.
Keywords: Mass mobilization; Southern Central Office; 1969–1975; people’s war; Party leadership.
1. Đặt vấn đề
Trung ương Cục miền Nam (1961 – 1975) là cơ quan đại diện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Giai đoạn 1969 – 1975, trước những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp của chiến trường, nhất là khi Mỹ triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/01/1973, công tác dân vận đặt ra những yêu cầu mới: vừa củng cố, phát triển lực lượng cách mạng, giữ vững và mở rộng cơ sở chính trị, vừa phát huy sức mạnh quần chúng trong phối hợp đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận, tạo thế và lực cho cách mạng tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Trước yêu cầu đó, Trung ương Cục miền Nam đã có những chủ trương và biện pháp lãnh đạo công tác dân vận phù hợp với tình hình, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Thực tiễn này để lại những kinh nghiệm có giá trị về nhận thức, tổ chức và phương thức lãnh đạo công tác dân vận, cần được nghiên cứu, khái quát nhằm làm rõ đóng góp của Trung ương Cục miền Nam, đồng thời góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay.
2. Một số kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam (1969 – 1975)
2.1. Chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời điều chỉnh chủ trương về công tác dân vận
Một kinh nghiệm quan trọng trong lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1969 – 1975 là chủ động nắm chắc tình hình thực tiễn, kịp thời nhận định những chuyển biến của chiến trường để điều chỉnh chủ trương công tác dân vận phù hợp với yêu cầu cách mạng. Trong điều kiện chiến tranh diễn biến nhanh chóng, phức tạp, âm mưu, thủ đoạn của đối phương thường xuyên thay đổi, việc nắm chắc tình hình Nhân dân, địa bàn và phong trào cách mạng có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo. Vì vậy, Trung ương Cục chú trọng chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan dân vận bám sát cơ sở, nắm tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, đánh giá đúng tình hình và hoạt động của đối phương, qua đó xác định chủ trương vận động sát với thực tiễn.
Trên cơ sở đó, Trung ương Cục miền Nam từng bước điều chỉnh trọng tâm công tác dân vận theo diễn biến của chiến trường. Trong giai đoạn 1969 – 1972, trước việc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tăng cường bình định, kìm kẹp và kiểm soát nông thôn, Trung ương Cục tập trung chỉ đạo dân vận hướng vào giữ dân, giữ đất, phá bình định, chống kìm kẹp, khôi phục và phát triển cơ sở chính trị. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 9 (tháng 7/1969) chủ trương công tác dân vận “tăng cường công tác dân vận làm cơ sở vững chắc đẩy mạnh phong trào chính trị và binh vận tiến kịp tình hình mới” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2020a, tr. 458).
Tiếp đó, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 10 (tháng 11/1970) nhấn mạnh yêu cầu: “phải nắm vững khâu công tác dân vận để đánh bại bình định và âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2020b, tr. 612). Từ yêu cầu đó, nội dung và phương thức vận động được chú trọng điều chỉnh theo từng địa bàn, phát huy vai trò quần chúng trong đấu tranh chính trị, đồng thời phối hợp với đấu tranh vũ trang và binh vận. Sự điều chỉnh này thể hiện khả năng nhận diện đúng nhiệm vụ trọng tâm, góp phần duy trì lực lượng, củng cố phong trào cách mạng trong điều kiện đối phương đánh phá quyết liệt.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, trước tình hình lực lượng cách mạng và đối phương đan xen kiểm soát, Trung ương Cục tiếp tục điều chỉnh chủ trương dân vận theo yêu cầu vừa đấu tranh thi hành Hiệp định vừa củng cố lực lượng và giữ vững địa bàn. Ngày 25/02/1973, Trung ương Cục ban hành Điện số 775/TV về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 02/CT73, xác định phải “phát động cho được phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ, rộng khắp trên cả ba vùng buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2020c, tr. 79). Theo đó, công tác dân vận tập trung vận động Nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris, chống các hành động lấn chiếm, bảo vệ quyền làm chủ và các quyền dân sinh, dân chủ; đồng thời củng cố vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng lực lượng và bảo đảm hậu cần cho chiến trường. Trọng tâm lãnh đạo vì thế không chỉ dừng ở duy trì phong trào đấu tranh mà còn hướng vào bảo vệ thành quả cách mạng, tạo thế và lực cho bước phát triển tiếp theo.
Đến cuối năm 1974 và đầu năm 1975, khi thời cơ chiến lược xuất hiện, yêu cầu đặt ra là đẩy mạnh vận động, tổ chức quần chúng phối hợp với hoạt động quân sự, góp phần tạo sức mạnh cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 15 (ngày 29/3/1975) chủ trương “phải nhanh chóng, táo bạo phát triển tiến công dồn dập giành thắng lợi hoàn toàn với những nỗ lực phi thường một ngày bằng hai mươi năm” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2020, tr. 741). Chủ trương này cho thấy, sự nhạy bén trong nhận định tình hình và quyết tâm hành động trước thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam. Qua đó, công tác dân vận được đặt trong yêu cầu huy động và phát huy cao nhất sức mạnh quần chúng, phục vụ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng.
Từ thực tiễn trên có thể rút ra kinh nghiệm: lãnh đạo công tác dân vận phải xuất phát từ thực tiễn, thường xuyên nắm chắc tình hình Nhân dân, địa bàn và đối tượng vận động; chủ động phân tích, dự báo, kịp thời điều chỉnh chủ trương, nội dung và phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn cách mạng. Đây là cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo dân vận sát, linh hoạt, phát huy hiệu quả vai trò của quần chúng và đáp ứng kịp thời yêu cầu của chiến tranh cách mạng.
2.2. Kết hợp chặt chẽ công tác dân vận với đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận
Một kinh nghiệm quan trọng trong lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam (1969 – 1975) là kết hợp chặt chẽ công tác dân vận với đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Trước phương thức chiến tranh toàn diện của đối phương, Trung ương Cục không xem dân vận là hoạt động riêng biệt mà đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các mặt công tác và hình thức đấu tranh cách mạng. Theo đó, công tác dân vận vừa trực tiếp vận động, tổ chức quần chúng, vừa tạo cơ sở để phối hợp và phát huy hiệu quả các mũi đấu tranh.
Trong thực tiễn, sự kết hợp này được thể hiện trên từng địa bàn và nhiệm vụ cụ thể. Công tác dân vận góp phần tập hợp, tổ chức quần chúng tham gia đấu tranh chính trị, chống đàn áp, phá kìm kẹp, giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng; đồng thời vận động Nhân dân ủng hộ, phối hợp với lực lượng vũ trang trong chiến đấu, bảo vệ căn cứ, vận chuyển hậu cần và cung cấp tin tức. Cùng với đó, dân vận gắn bó mật thiết với binh vận, góp phần tuyên truyền, vận động binh sĩ quân đội Sài Gòn, làm suy giảm ý chí chiến đấu và phân hóa hàng ngũ đối phương. Như vậy, dân vận không chỉ tạo lực lượng và điều kiện chính trị – xã hội cho từng mũi đấu tranh mà còn góp phần bảo đảm sự phối hợp giữa các mũi trên từng địa bàn, trong từng thời điểm.
Đặc biệt, trước những thay đổi của tình hình cách mạng, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo vận dụng sự kết hợp này phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn. Trong thời kỳ địch đẩy mạnh “Việt Nam hóa chiến tranh” và bình định, công tác dân vận tập trung giữ dân, giành dân, chống kìm kẹp, củng cố cơ sở chính trị, tạo điều kiện phối hợp đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận, như: Ở Cần Thơ, có “trên 240.000 lượt người tham gia các cuộc đấu tranh chính trị, buộc đối phương phải chấp nhận bồi thường nhân mạng bị chết và chữa trị cho người bị thương” (Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, 2010, tr. 136). Ở Kiến Phong, đã phát động “78.630 lượt người tham gia đấu tranh chính trị, 25.000 lượt người đấu tranh trực diện” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, 2020, tr. 265). Những kết quả này cho thấy, vai trò của công tác dân vận trong tập hợp lực lượng, phát triển phong trào đấu tranh và tạo sức ép chính trị đối với đối phương.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, khi nhiệm vụ cách mạng chuyển sang kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, pháp lý, công tác dân vận được đẩy mạnh nhằm vận động Nhân dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, chống lấn chiếm, giữ vững quyền làm chủ, bảo vệ vùng giải phóng, đồng thời hỗ trợ lực lượng vũ trang chuẩn bị và tiến hành các hoạt động tác chiến.
Tiêu biểu, như: (1) Ở Mỹ Tho, “đã phát động được hơn 112.300 lượt quần chúng tham gia phong trào, trong đó có 3.375 gia đình binh sĩ tham gia đấu tranh binh vận, 11.240 lượt quần chúng tham gia nổi dậy bao bức đồn bót, 6.848 lượt quần chúng tham gia dân công tải đạn ở các tuyến” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang, 2010, tr. 377). (2) Ở Sài Gòn, đã xây dựng “179 tổ chức quần chúng công khai, nửa công khai, trên 7.000 quần chúng có thể huy động được, trên 700 quần chúng tích cực, trên 200 đội võ trang; 2 quân khu 8 và 9 đã tổ chức trên 2 vạn hội viên phụ nữ, công đoàn, thanh niên giải phóng, trên 45.000 người vào các tổ chức binh vận” (Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1976, tr. 48). Sự điều chỉnh đó cho thấy, Trung ương Cục đã gắn công tác dân vận với yêu cầu thực tiễn, không tách rời nhiệm vụ vận động quần chúng khỏi nhiệm vụ chính trị, quân sự của cách mạng.
Sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận với đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận đã góp phần tạo thế và lực cho cách mạng, vừa phát huy vai trò của quần chúng trong đấu tranh, vừa hỗ trợ giữ vững và mở rộng địa bàn, làm suy yếu hệ thống kìm kẹp của đối phương. Kinh nghiệm rút ra là, phải đặt công tác dân vận trong sự phối hợp thống nhất với các mũi đấu tranh, xác định rõ nhiệm vụ và phương thức vận động phù hợp với từng địa bàn, từng thời điểm; qua đó phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân và sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân.
2.3. Linh hoạt, sáng tạo trong phương thức vận động quần chúng
Do đặc điểm chiến trường miền Nam đa dạng, phức tạp, với sự khác biệt giữa nông thôn, đô thị, vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng địch kiểm soát, Trung ương Cục miền Nam luôn chú trọng vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương thức vận động quần chúng. Trên cơ sở nắm chắc đặc điểm địa bàn, tình hình chính trị – xã hội và từng đối tượng, Trung ương Cục chỉ đạo lựa chọn nội dung, hình thức vận động phù hợp, bảo đảm vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, vừa sát với điều kiện và nguyện vọng của Nhân dân.
Ở nông thôn, công tác dân vận hướng vào củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng quần chúng, phát triển du kích, chống bình định, phá kìm kẹp, giữ dân, giữ đất và chăm lo đời sống, sản xuất. Tại đô thị, nơi đối phương kiểm soát chặt chẽ, phương thức vận động được triển khai linh hoạt thông qua các hình thức bí mật, công khai, hợp pháp và không hợp pháp, phù hợp với điều kiện hoạt động của công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức và các tầng lớp nhân dân. Đối với đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số, công tác dân vận chú trọng tôn trọng tín ngưỡng, phong tục, tập quán, phát huy những điểm tương đồng về lợi ích và nguyện vọng, kết hợp vận động chính trị với chăm lo đời sống, củng cố đoàn kết và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ đối với cách mạng. Sự khác biệt trong phương thức vận động ở từng địa bàn, đối tượng thể hiện khả năng vận dụng chủ trương dân vận phù hợp với điều kiện thực tiễn của Trung ương Cục miền Nam.
Cùng với đổi mới phương thức vận động, Trung ương Cục miền Nam chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức chuyên trách, như: công vận, nông vận, phụ vận, thanh vận và các tổ chức quần chúng. Thông qua hệ thống tổ chức này, công tác dân vận được triển khai theo từng giới, từng lực lượng, gắn vận động với xây dựng tổ chức, phát triển lực lượng và củng cố cơ sở chính trị tại địa phương. Qua đó, quần chúng không chỉ được tập hợp, giác ngộ mà còn từng bước phát huy vai trò chủ động trong các phong trào đấu tranh cách mạng. Tiêu biểu như ở Cần Thơ, đã “phát động trên 4.000 lượt quần chúng đấu tranh, dùng máy phóng thanh tuyên truyền về Hiệp định Pari, rải 320 truyền đơn, dán 165 khẩu hiệu, thả bè chuối có thư kêu gọi của Ban Liên hợp quân sự 4 bên” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cần Thơ, 2006, tr. 327).
Thực tiễn lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam cho thấy, muốn vận động quần chúng đạt hiệu quả phải xuất phát từ đặc điểm địa bàn, đối tượng và yêu cầu nhiệm vụ để lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa vận động, tập hợp quần chúng với xây dựng tổ chức và phát triển lực lượng cách mạng. Đây là kinh nghiệm quan trọng giúp công tác dân vận thích ứng với những biến động của chiến trường, duy trì và phát triển phong trào quần chúng, củng cố cơ sở chính trị và góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của cách mạng miền Nam.
2.4. Chú trọng xây dựng lực lượng cán bộ dân vận
Một kinh nghiệm quan trọng trong lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1969 – 1975 là thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ và kiện toàn tổ chức làm công tác dân vận, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Trước tình hình chiến trường diễn biến ác liệt, đối phương liên tục đẩy mạnh bình định, kìm kẹp và đánh phá cơ sở cách mạng, Trung ương Cục coi cán bộ là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả vận động quần chúng. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ không chỉ chú trọng số lượng mà còn đặt ra yêu cầu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức và phương pháp công tác. Cán bộ dân vận phải kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, sâu sát quần chúng, am hiểu địa bàn, biết dựa vào nhân dân để tổ chức phong trào; đồng thời có khả năng bám trụ, hoạt động linh hoạt, sáng tạo trong điều kiện chiến tranh ác liệt.
Cùng với nâng cao phẩm chất và năng lực cán bộ, Trung ương Cục miền Nam chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc rèn luyện cán bộ thông qua hoạt động thực tiễn, gắn lý luận với nhiệm vụ cụ thể ở cơ sở, được coi trọng nhằm nâng cao khả năng tổ chức, tập hợp và vận động quần chúng. Đặc biệt, Trung ương Cục quan tâm phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ tại chỗ, những người am hiểu phong tục, tập quán, có mối liên hệ mật thiết và uy tín trong nhân dân. Đây là điều kiện quan trọng để cán bộ nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, lựa chọn nội dung, phương thức vận động phù hợp, đồng thời duy trì và phát triển cơ sở cách mạng trong những địa bàn địch kiểm soát, đánh phá quyết liệt.
Bên cạnh xây dựng đội ngũ cán bộ, Trung ương Cục miền Nam còn quan tâm kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách công tác dân vận từ cấp miền đến khu, tỉnh và cơ sở. Các bộ phận công vận, nông vận, phụ vận, thanh vận… từng bước được củng cố, gắn với hệ thống tổ chức đảng và các đoàn thể quần chúng, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, phân công nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng vận động. Công tác dân vận được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền cách mạng, Mặt trận và lực lượng vũ trang. Sự kết hợp giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với kiện toàn tổ chức đã góp phần nâng cao năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện, bảo đảm các chủ trương của Trung ương Cục được cụ thể hóa kịp thời, phù hợp với tình hình từng địa bàn.
Điển hình ở Bà Rịa – Long Khánh, Tỉnh ủy đã “tổ chức nhiều lớp học tập cho cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang các cấp nhận thức đúng bản chất ngoan cố và hành động phá hoại Hiệp định của địch” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2000, tr. 380-381), qua đó “phát triển được 1.269 cơ sở các loại, trong đó có 3 chi bộ 14 đảng viên và 19 đảng viên lẻ, 6 chi đoàn 24 đoàn viên và 49 lẻ” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2000, tr. 384). Ở Cần Thơ, “Tỉnh còn mở được nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cốt cán trong Ban chấp hành và Ban Cán sự ở xã, ấp” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cần Thơ, 2006, tr. 362).
Thực tiễn lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam cho thấy, xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn với kiện toàn tổ chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện qua thực tiễn phong trào quần chúng; đồng thời phát huy vai trò của cán bộ cơ sở và duy trì mối liên hệ mật thiết với Nhân dân. Đây là những điều kiện quan trọng bảo đảm chủ trương dân vận được tổ chức thực hiện thống nhất, sát thực tiễn, góp phần giữ vững và phát triển phong trào cách mạng trong những điều kiện khó khăn, ác liệt.
3. Kết luận
Những kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác dân vận của Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1969 – 1975 là kết quả của quá trình vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn chiến trường miền Nam. Đó là sự chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời điều chỉnh chủ trương; kết hợp chặt chẽ công tác dân vận với các hình thức đấu tranh; linh hoạt, sáng tạo trong phương thức vận động quần chúng; đồng thời chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ và kiện toàn tổ chức làm công tác dân vận. Những kinh nghiệm đó góp phần phát huy sức mạnh của quần chúng, củng cố lực lượng và tạo thế, lực cho cách mạng miền Nam đi đến thắng lợi. Đến nay, những kinh nghiệm này vẫn có giá trị tham khảo đối với công tác dân vận, nhất là trong việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.
Tài liệu tham khảo:
Ban Biên soạn lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến (2010). Tây Nam Bộ kháng chiến – Tập 3 (1969 – 1975). Nxb Chính trị quốc gia.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (2020). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp – Tập II (1954 – 1975). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tiền Giang (2010). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tiền Giang (1954 – 1975) – Tập II. Nxb Chính trị quốc gia.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2000). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu – Tập II (1954 – 1975). Nxb Chính trị quốc gia.
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Cần Thơ (2006). Lịch sử Đảng bộ Thành phố Cần Thơ (1954 – 1975) – Tập III. Nxb Cần Thơ.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020a). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975 (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020b). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975 (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020c). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975 (Tập 17). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2020d). Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946 – 1975 (Tập 18). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Tổng kết chiến tranh B2 (1976). Dự thảo tổng kết công tác chính trị chiến cuộc mùa khô 1974 – 1975 của B2. Tư liệu lưu tại Phòng Khoa học quân sự Quân Khu 7, TL844; Phần trích trong bài: “Ban Tổng kết chiến tranh B2”, 1976, tr. 48



