Phân cấp, phân quyền trong chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở Hà Nội

Decentralization and devolution of authority in the two-tier local government model and the need to reform the leadership methods of Party organizations in Hanoi

TS. Nguyễn Đức Nhuận
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: ducnhuanhcma@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu thực tiễn phân cấp, phân quyền trong mô hình tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp tại thành phố Hà Nội sau một năm vận hành theo Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Quy định số 208-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng và Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 07/8/2026 của Ban Bí thư. Nghiên cứu phân tích, đánh giá những chuyển biến mang tính bước ngoặt trong phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng từ cấp thành phố đến cơ sở; nhận diện các điểm nghẽn, mâu thuẫn về thể chế từ việc phân quyền 768 nhiệm vụ cho cấp xã; đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tối ưu hóa năng lực cầm quyền, bảo đảm vai trò lãnh đạo tuyệt đối của cấp uỷ Đảng trong bối cảnh quản trị số và phát triển bền vững tại thành phố Hà Nội.

Từ khóa: Phân cấp, phân quyền; chính quyền địa phương hai cấp; phương thức lãnh đạo của Đảng; tổ chức đảng; Đảng bộ thành phố Hà Nội.

Abstract: This article examines the practical implementation of decentralization and devolution of authority within the two-tier local government organizational model in Hanoi City after one year of operation in accordance with Conclusion No. 16-KL/TW of the Politburo and the Secretariat; Regulation No. 208-QĐ/TW of the Central Committee on the implementation of the Party Charter; and Guidance No. 02-HD/TW dated August 7, 2026, issued by the Secretariat. To research, analyze, and evaluate the landmark changes in the leadership methods of Party organizations from the city level down to the grassroots; to identify institutional bottlenecks and contradictions arising from the delegation of 768 tasks to the commune level; propose a system of solutions to optimize governance capacity and ensure the absolute leadership role of Party committees in the context of digital governance and sustainable development in Hanoi.

Keywords: Decentralization, devolution of authority; two-tier local government; Party leadership methods; Party organizations; Hanoi City Party Committee.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và quản lý nhà nước là một nội dung trọng yếu, mang tính quy luật và sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi phải thay đổi phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng, không chỉ là đòi hỏi tự thân mà còn là mệnh lệnh từ thực tiễn khách quan.

Tại Thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước, yêu cầu này càng trở nên cấp bách khi thành phố vận hành mô hình tổ chức bộ máy và chính quyền địa phương hai cấp (gồm cấp thành phố và cấp xã) theo Kết luận số 16-KL/TW ngày 31/3/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (viết tắt là Kết luận số 16-KL/TW). Cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy này đã kết thúc hoạt động của 30 quận, huyện, thị xã và thu gọn 526 xã, phường cũ để tái cấu trúc thành 126 xã, phường trực thuộc thành phố, chính thức vận hành chính quyền địa phương hai cấp từ 01/7/2025.

Sự thay đổi về mặt không gian hành chính đi kèm với một khối lượng công việc được phân cấp, phân quyền mạnh cho địa phương là dấu mốc chưa từng có trong lịch sử hành chính công tại Việt Nam. Theo đó, Trung ương đã phân quyền cho thành phố 273 nhiệm vụ và phân quyền trực tiếp cho cấp xã 768 nhiệm vụ. Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố tiếp tục phân cấp, ủy quyền thêm hàng trăm nhiệm vụ khác. Khi khoảng cách giữa cơ quan hoạch định (thành phố) và cơ quan thực thi trực tiếp (xã/phường) được rút ngắn, quyền lực được chuyển giao mạnh mẽ về cơ sở, phương thức lãnh đạo truyền thống dựa trên các tầng nấc hành chính trung gian bộc lộ nhiều bất cập.

Trong bối cảnh đó, Quy định số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng (viết tắt là Quy định số 208-QĐ/TW) và Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 07/8/2026 của Ban Bí thư (viết tắt là Hướng dẫn số 02-HD/TW) đã tạo ra một khung khổ pháp lý vững chắc, định hướng cho các cấp ủy Đảng cách thức tổ chức và vận hành trong không gian quyền lực mới. Tuy nhiên, từ thực tiễn đã đặt ra câu hỏi: Sự phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trong mô hình hai cấp đã tác động như thế nào đến phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng tại cơ sở? Những mâu thuẫn nào về thể chế đang cản trở tiến trình này và đâu là những giải pháp đột phá để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng bộ Hà Nội trong thời gian tới.

2. Phương pháp nghiên cứu

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, bài viết sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và Nhà nước, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành. Cụ thể:

Phương pháp phân tích tài liệu và hệ thống hóa: Phân tích nội dung các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 16-KL/TW, Quy định số 208-QĐ/TW, Hướng dẫn số 02-HD/TW và Báo cáo số 168-BC/TU ngày 15/6/2026 sơ kết một năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội (viết tắt là Báo cáo số 168-BC/TU) để làm rõ khung lý luận và định hướng chính trị.

Phương pháp phân tích định lượng: Sử dụng dữ liệu thống kê từ 13 phụ lục đính kèm Báo cáo 168-BC/TU (tính đến ngày 31/5/2026) để lượng hóa sự chênh lệch quy mô quản trị, khối lượng thủ tục hành chính, số lượng nhiệm vụ phân cấp và hiệu quả kinh tế – xã hội.

Phương pháp phân tích trường hợp (Case Study): Khảo sát kết quả thực tiễn từ các mô hình đổi mới phương thức lãnh đạo điển hình đang được áp dụng tại các cấp ủy, chính quyền Thành phố và cơ sở, từ đó rút ra những kinh nghiệm.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Sự thay đổi về chất trong cơ chế phân bổ quyền lực nhà nước

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ đơn thuần là phép trừ cơ học để loại bỏ 30 quận, huyện, thị xã hay thu gọn từ 526 xã, phường, thị trấn cũ xuống còn 126 xã, phường trực thuộc thành phố. Bản chất sâu xa của mô hình này, khi được kết hợp đồng bộ với chủ trương phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, là một cuộc tái cấu trúc mang tính triết lý về cơ chế thực thi quyền lực nhà nước tại Thủ đô.

Sự chuyển đổi này đánh dấu bước dịch chuyển căn bản từ tư duy “quản lý hành chính theo tầng nấc trung gian” sang tư duy “quản trị địa bàn trực tiếp, kiến tạo và phục vụ”. Khoảng cách giữa cơ quan hoạch định chính sách chiến lược cấp thành phố và cơ quan tổ chức thực thi trực tiếp ở cơ sở được rút ngắn tối đa, đưa quyền lực nhà nước đến gần nhất với nơi phát sinh nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Cấp xã từ vị thế của một cấp hành chính thừa hành, phụ thuộc vào sự chỉ đạo chuyên môn sát sao của cấp huyện trước đây, nay đã vươn lên trở thành một chủ thể quản trị toàn diện, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trực tiếp trước Thành ủy, UBND thành phố và Nhân dân trên địa bàn.

Sự thay đổi về chất trong phân bổ quyền lực được thể hiện sinh động qua quy mô và phạm vi thẩm quyền được chuyển giao về cơ sở. Số liệu thống kê hệ thống từ Báo cáo sơ kết của Thành ủy Hà Nội cho thấy, Trung ương đã thực hiện phân quyền cho thành phố 273 nhiệm vụ, đồng thời, phân quyền trực tiếp cho cấp xã tới 768 nhiệm vụ. Trên cơ sở thể chế hóa Luật Thủ đô năm 2026 (Quốc hội, 2026), UBND Thành phố đã tiếp tục phân cấp 153 nhiệm vụ và ủy quyền 12 nhiệm vụ cho cấp xã. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, cấp xã tại Hà Nội đang trực tiếp gánh vác và thực hiện tới 933 nhiệm vụ quản lý nhà nước, tăng thêm 165 nhiệm vụ so với mô hình chính quyền ba cấp trước đây. Đi liền với đó là việc ủy ,sinh về trật tự xây dựng, quản lý đất đai, an sinh xã hội, hộ tịch, chứng thực mà không phải kinh qua các bước thẩm định, xin ý kiến cồng kềnh, kéo dài qua tầng nấc quận, huyện như trước.

Hiệu quả thực tiễn từ sự thay đổi cơ chế phân bổ quyền lực này đã được minh chứng thuyết phục bằng những con số định lượng cụ thể. Trong gần một năm vận hành (từ ngày 01/7/2025 – 31/5/2026), bộ máy chính quyền 126 xã, phường trên toàn thành phố đã tiếp nhận và giải quyết trực tiếp 2.268.401 hồ sơ thủ tục hành chính thuộc diện phân cấp, điều chuyển. Việc đưa thẩm quyền giải quyết về sát dân đã giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính từ 3 – 5 ngày làm việc; ước tính tiết kiệm cho người dân, doanh nghiệp khoảng 571.925 giờ công xã hội, tương đương 63,48 tỷ đồng chi phí (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.22).  

Chất lượng phục vụ hành chính công có sự bứt phá vượt bậc khi tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt tới 99,49%; tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt 98,22%; tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt 95,9%. Đồng thời, thông qua ứng dụng Công dân Thủ đô số (iHanoi), chính quyền cơ sở đã tiếp nhận và xử lý triệt để trên 107.620 phản ánh, kiến nghị, đạt tỷ lệ hài lòng và rất hài lòng của người dân lên tới 99,2% (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.23). Khảo sát dư luận xã hội độc lập ghi nhận 84,22% cán bộ, đảng viên và Nhân dân đánh giá bộ máy mới vận hành thông suốt, phát huy hiệu quả cao (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.26).    

Sự thông suốt trong quản trị nhà nước đã trực tiếp tạo động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội Thủ đô phát triển ấn tượng: GRDP năm 2025 tăng 8,16%, thu ngân sách nhà nước đạt trên 711 nghìn tỷ đồng (bằng 138,4% dự toán); Quý I/2026, GRDP tiếp tục tăng 7,87% và thu ngân sách đạt 255 nghìn tỷ đồng. Để bảo đảm nguồn lực thực thi khối lượng thẩm quyền lớn này, Thành phố đã tái phân bổ lực lượng cán bộ mạnh mẽ: trong tổng số 128.795 cán bộ, công chức, viên chức toàn thành phố, cấp xã hiện tập trung tới 109.800 người (chiếm khoảng 85%), đồng thời được điều động, tăng cường thêm 1.200 cán bộ chuyên môn về hỗ trợ trực tiếp cho cơ sở (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.35).

Tuy nhiên, theo lý luận về Đảng cầm quyền và các nguyên tắc tổ chức thi hành Điều lệ Đảng theo Quy định số 208-QĐ/TW (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026) và Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 07/8/2026 của Ban Bí thư, sự phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trong bộ máy nhà nước luôn mang tính chất hai mặt. Bất kỳ sự gia tăng quyền lực hành chính nào ở cấp cơ sở nếu thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả cũng đều tiềm ẩn nguy cơ tha hóa quyền lực, nhũng nhiễu, cục bộ địa phương hoặc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước dù được phân cấp đến đâu cũng tuyệt đối không được phép làm suy giảm, đứt gãy sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng.

Chính quyền cấp xã càng được trao quyền tự chủ lớn trong việc quyết định các nguồn lực đất đai, ngân sách, đầu tư công và thủ tục hành chính thì các cấp ủy đảng (trực tiếp là 126 đảng bộ xã, phường) càng phải đổi mới mạnh mẽ phương thức kiểm soát quyền lực. Cấp ủy không thể đứng ngoài nhìn chính quyền tự xoay xở, nhưng cũng tuyệt đối không thể quay lại con đường cũ là bao biện, làm thay, can thiệp sâu vào các công việc điều hành hành chính nghiệp vụ cụ thể của UBND.

Ngược lại, tổ chức đảng phải nâng tầm nghệ thuật lãnh đạo: chuyển từ quản lý sự vụ sang lãnh đạo bằng thể chế hóa quy chế làm việc, giao nhiệm vụ theo sản phẩm đầu ra (OKR/KPI), kiểm tra – giám sát dòng công việc dựa trên dữ liệu số thời gian thực (HanoiWork), đồng thời, giữ vững then chốt công tác cán bộ. Đây chính là chìa khóa lý luận và thực tiễn để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa “trao quyền mạnh mẽ cho chính quyền” và “giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng”, bảo đảm bộ máy chính quyền hai cấp của Hà Nội vừa vận hành linh hoạt, hiệu lực, hiệu quả, vừa đi đúng quỹ đạo chính trị phục vụ Nhân dân, ngăn ngừa từ sớm, từ xa mọi nguy cơ chệch hướng hay “lợi ích nhóm”.

3.2. Chuyển dịch phương thức lãnh đạo của Đảng

Thực hiện nghiêm túc Quy định số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng và Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 07/8/2026 của Ban Bí thư, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã chủ động tái cấu trúc hệ thống tổ chức đảng tương thích hoàn toàn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Toàn thành phố đã kiện toàn 132 đảng bộ trực thuộc Thành ủy (bao gồm 126 đảng bộ xã, phường, 2 đảng bộ lực lượng vũ trang và 4 đảng bộ cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp); đồng thời, quyết liệt giải thể 9 đảng đoàn, 3 ban cán sự đảng, 3 đảng ủy khối và 30 quận, huyện, thị ủy, giảm 1 đầu mối cấp trên cơ sở trực thuộc (tương ứng 33%) (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.12). Việc tinh gọn bộ máy cấp trên đi đôi với củng cố năng lực lãnh đạo ở cấp cơ sở (duy trì 30 trung tâm chính trị cấp xã tại trụ sở huyện cũ) đã tạo tiền đề cho sự chuyển dịch sâu sắc, mang tính đột phá trong phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng trên 03 phương diện cốt lõi:

Thứ nhất, chuyển dịch từ tư duy lãnh đạo khép kín, mang tính sự vụ sang vận hành liên thông, đồng bộ theo “4 trục” hệ thống chính trị.

Trong mô hình cũ, cấp ủy thường lãnh đạo bằng việc ban hành nghị quyết mang tính định hướng chung rồi thụ động “chờ chính quyền báo cáo kết quả”. Khi chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp, Ban Thường vụ Thành ủy và cấp ủy 126 xã, phường đã thiết lập và vận hành trơn tru cơ chế giao ban, điều hành liên thông, đồng bộ giữa Đảng ủy – Hội đồng nhân dân (HĐND) – Ủy ban nhân dân (UBND) – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và các tổ chức chính trị – xã hội. Mọi chủ trương, nghị quyết của cấp ủy ngay lập tức được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND (thông qua việc kiện toàn Thường trực HĐND và 252 Ban HĐND cấp xã), các quyết định, kế hoạch điều hành của UBND (với 378 phòng chuyên môn được tổ chức thống nhất), đồng thời, gắn liền với sự giám sát, phản biện xã hội trực tiếp của MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.11). Cơ chế “4 trục” giúp loại bỏ hoàn toàn tình trạng cắt khúc, lệch nhịp giữa các khối, bảo đảm tính thống nhất tuyệt đối của quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát từ “hậu kiểm sự vụ” sang “giám sát số hóa thời gian thực” dựa trên dữ liệu công việc.

Bám sát yêu cầu hiện đại hóa công tác đảng và chuyển đổi số trong quản lý đảng viên theo Hướng dẫn số 02-HD/TW của Ban Bí thư và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2025), Thành ủy Hà Nội đã tiên phong ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng cầm quyền. Thành phố đưa vào vận hành chính thức hệ thống quản lý công việc HanoiWork trên phạm vi toàn hệ thống chính trị theo nguyên tắc “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) kết hợp với các phương pháp quản trị hiện đại (OKR/KPI). Cấp ủy các cấp, trực tiếp là bí thư cấp ủy, có thể giám sát dòng công việc (Workflow), kiểm tra tiến độ xử lý 933 nhiệm vụ quản lý nhà nước và 644 thủ tục hành chính ủy quyền tại cấp xã theo thời gian thực mà không cần phụ thuộc vào báo cáo giấy định kỳ. Qua đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng chuyển mạnh sang trạng thái “cảnh báo sớm, phòng ngừa từ xa”, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các điểm nghẽn, biểu hiện đùn đẩy, né tránh trách nhiệm hoặc nguy cơ tiêu cực, nhũng nhiễu hành chính.

Thứ ba, đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đi đôi với nâng cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cấp ủy cấp xã.

Khi cấp xã được trao thẩm quyền trực tiếp giải quyết khối lượng công việc lớn, bí thư đảng ủy xã, phường vươn lên giữ vai trò “thủ lĩnh chính trị” kiêm hạt nhân quản trị địa bàn. Cấp ủy cơ sở không còn thụ động chờ chỉ thị từ cấp huyện như trước mà phải chủ động ban hành các nghị quyết chuyên đề, quy chế phối hợp để định hướng chính quyền xử lý các bài toán phức tạp về trật tự đô thị, giải phóng mặt bằng, quản lý đất đai và an sinh xã hội. Trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy được gắn chặt với kết quả thực thi công vụ của bộ máy chính quyền và mức độ hài lòng của Nhân dân. Trách nhiệm giải trình được thực thi công khai thông qua hệ thống iHanoi, nơi tiếp nhận và xử lý trên 107.620 phản ánh, kiến nghị của cử tri với tỷ lệ hài lòng đạt 99,2%. Sự phân quyền mạnh mẽ đã trực tiếp rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, tư duy kiến tạo và năng lực quản trị công cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở.

Sự chuyển dịch căn bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố đã tạo ra xung lực chính trị mạnh mẽ, giữ vững ổn định địa bàn và thúc đẩy kinh tế – xã hội Thủ đô phát triển vượt bậc. GRDP năm 2025 tăng 8,16%; thu ngân sách nhà nước đạt kỷ lục trên 711 nghìn tỷ đồng (138,4% dự toán); Quý I/2026, GRDP tiếp tục tăng 7,87% và thu ngân sách đạt 255 nghìn tỷ đồng (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.35).  Khảo sát dư luận xã hội độc lập ghi nhận 84,22% cán bộ, đảng viên và Nhân dân đánh giá hệ thống chính trị vận hành ổn định, thông suốt, hiệu quả (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.6). Thành phố cũng tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 với tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,57% (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.36). Điều này khẳng định niềm tin tuyệt đối của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong mô hình quản trị mới.

3.3. Nhận diện các điểm nghẽn và mâu thuẫn thể chế từ thực tiễn phân cấp

Bên cạnh những thành tựu mang tính bước ngoặt, quá trình thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ gắn liền với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp vẫn đang vấp phải những điểm nghẽn, mâu thuẫn thể chế và rào cản thực tiễn sâu sắc. Báo cáo sơ kết của Thành ủy Hà Nội và các phụ lục thống kê chuyên đề đã thẳng thắn bóc tách 3 nhóm mâu thuẫn cốt lõi cần phải tập trung tháo gỡ:

Một là, mâu thuẫn giữa “cơ chế tổ chức đồng khung” và sự chênh lệch cơ học về quy mô, đặc thù quản trị địa bàn.

Theo phương án kiện toàn tổ chức bộ máy, 126 xã, phường trên địa bàn thành phố đều được thiết lập theo một khung mô hình cơ quan chuyên môn tương đối thống nhất với 3 phòng (Văn phòng HĐND – UBND; Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị; Phòng Văn hóa – Xã hội).

Tuy nhiên, thực tiễn quản trị tại Thủ đô cho thấy, sự phân hóa và chênh lệch lớn giữa các đơn vị hành chính cấp xã. Phân tích dữ liệu thống kê từ Phụ lục Báo cáo sơ kết cho thấy:

Về quy mô dân số: xã Minh Châu có dân số thấp nhất toàn thành phố với 6.702 người, trong khi phường Hà Đông có quy mô lên tới 211.572 người (gấp 31,6 lần).

Về diện tích tự nhiên: phường Cửa Nam chỉ rộng 1,68 km², trong khi xã Ba Vì có diện tích tự nhiên lên tới 81,28 km² (rộng gấp 48,4 lần).

Về mật độ dân số: xã Yên Bài có mật độ cư trú với 317,2 người/km², trong khi phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám có mật độ dân số với 58.074,1 người/km²    (chênh lệch tới 183,1 lần).

Về khối lượng giải quyết thủ tục hành chính: đơn vị cao nhất tiếp nhận và xử lý trên 20.000 hồ sơ thủ tục hành chính/năm, trong khi đơn vị thấp nhất chỉ tiếp nhận hơn 1.000 hồ sơ (chênh lệch tới 20 lần) (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.39).  

Việc duy trì một định mức biên chế cào bằng và số lượng phòng, ban cào bằng theo cơ chế “đồng khung” đã đẩy các phường đô thị trung tâm vào tình trạng quá tải công việc trầm trọng. Một bộ phận không nhỏ công chức cấp xã tại các phường đông dân phải gánh vác khối lượng công việc vượt xa năng lực của một cấp hành chính cơ sở thông thường, tạo ra áp lực tâm lý lớn, gia tăng nguy cơ sai sót hành chính và gây khó khăn cho cấp ủy cơ sở trong việc lãnh đạo chính quyền xử lý dứt điểm các bài toán quản trị đô thị phức tạp.

Hai là, độ trễ và sự bất đồng bộ của hệ thống pháp luật chuyên ngành dẫn đến hiện tượng “nghẽn phân cấp” và kiến nghị tạm dừng.

Hệ thống pháp luật quốc gia hiện hành (như Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính) về cơ bản vẫn được thiết kế dựa trên tư duy và mô hình quản lý 3 cấp hành chính cũ. Khi Hà Nội chuyển sang mô hình hai cấp và đẩy mạnh phân quyền 768 nhiệm vụ cho cấp xã, các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành chưa kịp điều chỉnh, bổ sung đồng bộ, tạo ra những khoảng trống pháp lý và thiếu hụt điều kiện bảo đảm thực thi.

Kết quả rà soát thực tế tại 126 xã, phường ghi nhận một con số đáng suy ngẫm: có tới 101/126 xã, phường (chiếm 80,2%) phải chính thức kiến nghị tạm dừng ít nhất một nhiệm vụ phân cấp, ủy quyền với tổng số 297 lượt kiến nghị. Trong đó, các vướng mắc tập trung gay gắt nhất ở các lĩnh vực: nội vụ và tổ chức bộ máy (48 lượt); văn hóa và thông tin (35 lượt); nông nghiệp, tài nguyên và môi trường (32 lượt); giáo dục và đào tạo (29 lượt); chuyển đổi số và công nghệ (24 lượt) (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.40).   

Nguyên nhân cốt lõi là do thiếu các hướng dẫn quy trình nghiệp vụ chi tiết từ các bộ, ngành Trung ương, thiếu cơ chế tài chính tương thích và thiếu thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đủ sức răn đe. Thực trạng này đẩy cấp ủy và chính quyền cơ sở vào thế được giao thẩm quyền nhưng không có đủ công cụ pháp lý và nguồn lực để tổ chức thực hiện, làm giảm hiệu lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả điều hành của chính quyền địa phương.

Ba là, rào cản về hạ tầng kỹ thuật bị phân mảnh, thiếu hụt nhân lực công nghệ số và áp lực về trụ sở làm việc.

Mặc dù Hướng dẫn số 02-HD/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu rất cao về đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, thực tế hạ tầng công nghệ và điều kiện cơ sở vật chất tại cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế:

(1) Tình trạng phân mảnh dữ liệu. Bình quân mỗi xã, phường hiện phải vận hành độc lập tới 28 phần mềm chuyên ngành do các bộ, ngành Trung ương triển khai. Các phần mềm này hoạt động theo kiểu “ốc đảo”, không liên thông, không kết nối và không chia sẻ dữ liệu với nhau, buộc công chức cấp xã phải nhập liệu thủ công nhiều lần trên các hệ thống khác nhau, gây lãng phí lớn nguồn lực và thời gian công vụ.

(2) Hạn chế về nhân lực chuyên trách. Toàn thành phố vẫn còn 14/126 xã, phường chưa bố trí được công chức công nghệ thông tin chuyên trách; tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện mới chỉ đạt khoảng 57% (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.50).  

(3) Bất cập về trụ sở và tài sản công. Dù thành phố đã phê duyệt phương án sắp xếp, xử lý 1.010 cơ sở nhà, đất nhưng đến nay vẫn còn tới 87 xã, phường chưa bố trí được trụ sở làm việc tập trung, phải duy trì hoạt động tại từ 2 cơ sở trở lên (Thành ủy Hà Nội, 2026, tr.50).  Sự chia cắt không gian làm việc làm suy giảm đáng kể hiệu quả phối hợp công tác giữa khối Đảng, chính quyền và đoàn thể, đồng thời, ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng các nền tảng công nghệ số (HanoiWork, iHanoi) trong giám sát tiến độ thực thi công vụ của cấp ủy đảng.

4. Định hướng và các giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa phương thức lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội

Từ việc phân tích, nhận diện sâu sắc những thành tựu nổi bật cũng như các mâu thuẫn phát sinh trong thực tiễn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Hà Nội, bài viết đề xuất 6 giải pháp nhằm tối ưu hóa năng lực cầm quyền và phương thức lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2026 – 2031 và định hướng đến năm 2035.

Thứ nhất, thể chế hóa ranh giới quyền lực và đổi mới toàn diện, thực chất phương thức lãnh đạo của cấp ủy.

Các cấp ủy đảng, đặc biệt là cấp cơ sở (126 đảng bộ xã, phường), phải quán triệt và thực thi nghiêm túc nguyên tắc: lãnh đạo bằng thể chế, quy chế, định hướng mục tiêu chiến lược và kiểm tra kết quả, tuyệt đối không bao biện, làm thay, can thiệp sâu vào công tác điều hành hành chính của chính quyền. Trong bối cảnh phân quyền mạnh mẽ (cấp xã thực hiện 933 nhiệm vụ), Thành ủy cần khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và thí điểm ban hành bộ tiêu chí cho mô hình “Xã, phường xã hội chủ nghĩa”. Bộ tiêu chí này cần lượng hóa cụ thể các mục tiêu trên 4 trụ cột: (1) Độ trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng và năng lực của bí thư cấp ủy; (2) Tính kiến tạo, minh bạch của chính quyền số; (3) Môi trường sống an toàn, an sinh xã hội toàn diện; (4) Mức độ hài lòng của Nhân dân (đạt trên 98%). Đây sẽ là thước đo khách quan, khoa học nhất để đánh giá năng lực cầm quyền của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền cơ sở.

Thứ hai, thực hiện cơ chế “Phân cấp động” dựa trên phân nhóm địa bàn linh hoạt, phá bỏ tư duy đồng khung, cào bằng về chính sách.

Để giải quyết dứt điểm mâu thuẫn giữa quy mô quản trị chênh lệch (ví dụ dân số phường Hà Đông cao gấp 31,6 lần xã Minh Châu) và khung bộ máy cứng nhắc, thành phố cần kiến nghị Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ cho phép Hà Nội thực hiện cơ chế phân cấp động (Dynamic Decentralization). Cụ thể, tiến hành phân loại 126 xã, phường thành 4 nhóm đặc thù: (1) Đô thị lõi (áp lực mật độ dân số siêu cao); (2) Đô thị phát triển nhanh (áp lực lớn về hạ tầng và giải phóng mặt bằng); (3) Ven đô (đang trong quá trình chuyển đổi sinh kế và đô thị hóa); (4) Nông thôn – miền núi. Dựa trên việc phân nhóm này, thiết kế lại khung tổ chức bộ máy, linh hoạt định mức biên chế (không cào bằng 3 phòng/xã) và phân bổ nguồn lực tài chính tương ứng với quy mô, đặc điểm của từng nhóm. Cơ chế này sẽ “cởi trói” cho các phường trung tâm, khắc phục triệt để tình trạng “chiếc áo chật’ ở đô thị lớn.

Thứ ba, thống nhất hạ tầng dữ liệu quốc gia và đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác quản trị, giám sát.

Triển khai quyết liệt, thực chất Nghị quyết 57-NQ/TW, thành phố cần phối hợp với các bộ, ngành Trung ương kiên quyết phá bỏ tình trạng phân mảnh của 28 phần mềm chuyên ngành hiện nay tại cấp xã. Xây dựng và vận hành hiệu quả Kho dữ liệu dùng chung của thành phố, tích hợp liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, quy hoạch. Đặc biệt, bám sát Hướng dẫn 02-HD/TW, tổ chức đảng cần tiên phong ứng dụng công nghệ số và AI trong điều hành công tác đảng: nâng cấp “Sổ tay đảng viên điện tử” tích hợp Trợ lý ảo AI; số hóa công tác sinh hoạt chi bộ; và thiết lập các hệ thống giám sát cảnh báo sớm rủi ro trên nền tảng HanoiWork (OKR/KPI). Hệ thống này sẽ tự động phân tích dữ liệu về đầu tư công, giải quyết thủ tục hành chính, đất đai… để hỗ trợ cấp ủy kiểm soát quyền lực từ xa, ngăn ngừa tham nhũng vặt.

Thứ tư, kiến nghị đồng bộ hóa hệ thống pháp luật chuyên ngành để tháo gỡ điểm “nghẽn phân cấp”.

Để giải quyết tình trạng 101/126 xã, phường (chiếm 80,2%) phải kiến nghị tạm dừng 297 lượt nhiệm vụ phân cấp do thiếu hướng dẫn, Thành ủy Hà Nội cần chủ động tổng kết thực tiễn, kiến nghị Trung ương rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Xử lý vi phạm hành chính…) bảo đảm tính tương thích với Luật Thủ đô năm 2026 và mô hình chính quyền hai cấp. Đồng thời, các sở, ngành thành phố phải nhanh chóng ban hành quy trình nội bộ, cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết cho cán bộ cấp xã trước khi chuyển giao thẩm quyền, bảo đảm nguyên tắc “có quyền, có nguồn lực và có công cụ thực thi”.

Thứ năm, tái thiết công tác cán bộ cơ sở gắn liền với xây dựng văn hóa chính trị và đạo đức công vụ mới.

Phân cấp càng mạnh, không gian quyền lực càng rộng thì yêu cầu về năng lực, đạo đức của cán bộ cơ sở càng cao. Cấp ủy Thành phố cần đẩy mạnh công tác luân chuyển, điều động cán bộ có trình độ cao, giàu kinh nghiệm từ các sở, ngành Thành phố về giữ các vị trí chủ chốt tại cấp xã, và ngược lại (như việc đã tăng cường 1.200 cán bộ về cơ sở). Song song với đó, phải xây dựng một môi trường văn hóa chính trị mới: vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, kiên quyết thay thế cán bộ sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm; vừa thiết lập cơ chế thiết thực để khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì sự nghiệp chung của Thủ đô.

Thứ sáu, đẩy nhanh tiến độ giải quyết bài toán cơ sở vật chất và không gian làm việc cho hệ thống chính trị cơ sở.

Để công tác quản trị và chuyển đổi số đạt hiệu quả thực chất, Thành phố cần ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư công trung hạn để giải quyết dứt điểm việc xây dựng mới, nâng cấp trụ sở làm việc tập trung, hiện đại cho 87 xã, phường hiện đang bị chia cắt tại nhiều cơ sở làm việc khác nhau. Một không gian làm việc liên thông, tích hợp khu vực Bộ phận Một cửa hiện đại không chỉ nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Đảng – chính quyền – đoàn thể mà còn thể hiện bộ mặt khang trang, chuyên nghiệp của chính quyền Thủ đô phục vụ kiến tạo.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2026). Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 07/8/2026 về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quy định số 208-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về thi hành Điều lệ Đảng.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 
Bộ Chính trị 92026). Kết luận số 16-KL/TW ngày 31/3/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về thực hiện một số nội dung, nhiệm vụ trọng tâm hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong quý II/2026.
Quốc hội (2026). Luật Thủ đô năm 2026.
Thành ủy Hà Nội (2026). Báo cáo số 168-BC/TU ngày 15/6/2026 sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội.