Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Gia Lai

National intangible cultural heritage conservation linked to cultural tourism development in Gia Lai province

TS. Đào Bích Hạnh
Trường Đại học Quy Nhơn
Email: daobichhanh@qnu.edu.vn
Nguyễn Lâm Phương Thảo
Sinh viên Trường Đại học Quy Nhơn

(Quanlynhanuoc.vn) – Gia Lai là địa phương có nhiều di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, trong đó nhiều di sản đã được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản đã góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống cộng đồng và thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa. Tuy nhiên, việc bảo tồn và khai thác giá trị di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa vẫn còn những hạn chế, cần tiếp tục khắc phục để nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển du lịch bền vững.

Từ khóa: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; bảo tồn và phát huy; phát triển du lịch văn hóa, tỉnh Gia Lai.

Abstract: Gia Lai province boasts numerous unique intangible cultural heritage sites, many of which have been inscribed on the National List of Intangible Cultural Heritage. Over the years, the preservation and promotion of these heritage values ​​have contributed to safeguarding cultural identity, improving community life, and fostering cultural tourism development. However, the preservation and exploitation of heritage values ​​in conjunction with tourism development still face limitations that need to be addressed to enhance the effectiveness of preservation and sustainable tourism development.

Keywords: National intangible cultural heritage; preservation and promotion; cultural tourism development; Gia Lai province.

1. Đặt vấn đề

Gia Lai là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, nơi sinh sống lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc, như: Jrai, Ba Na, Xơ Đăng, M’Nông, tạo nên hệ thống di sản văn hóa phi vật thể phong phú và đặc sắc. Hiện nay, tỉnh có 9 di sản văn hóa phi vật thể được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Võ cổ truyền Bình Định,Sử thi Ba Na, Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui, Hát bội Bình Định, Nghệ thuật Bài chòi Bình Định, Lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn, nghề chằm nón ngựa Phú Gia và Lễ hội Cầu ngư Vạn đầm Xương Lý. Trong đó, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên và Nghệ thuật Bài chòi đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Di sản văn hóa phi vật thể có vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Gia Lai. Đây là nền tảng gìn giữ và khẳng định bản sắc văn hóa địa phương, góp phần bảo tồn các giá trị truyền thống và giáo dục ý thức gìn giữ di sản. Đồng thời, di sản là nguồn tài nguyên để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, nâng cao sức hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú và tăng khả năng cạnh tranh của điểm đến. Việc khai thác hợp lý di sản còn tạo sinh kế, tăng thu nhập cho cộng đồng, quảng bá hình ảnh và xây dựng thương hiệu du lịch tỉnh Gia Lai; đồng thời, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

2. Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Gia Lai

Công ước UNESCO năm 2003, Luật Di sản văn hóa năm 2024 và Luật Du lịch năm 2017đều thống nhất quan điểm bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể phải gắn với sự tham gia của cộng đồng và phát triển bền vững (UNESCO, 2003; Quốc hội, 2024; Quốc hội, 2017). Trên cơ sở đó, thực trạng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Gia Lai thể hiện ở các khía cạnh sau:

(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn với phát triển du lịch văn hóa. Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; đồng thời, tạo điều kiện khai thác hợp lý di sản phục vụ phát triển du lịch bền vững. Thực hiện chủ trương đó, tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 90/2025/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 về Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh và Quyết định số 3279/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 về Danh mục quản lý di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để tăng cường quản lý, bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch (UBND tỉnh Gia Lai, 2025a; UBND tỉnh Gia Lai, 2025a).

(2) Tổ chức quản lý và phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và cộng đồng. Công tác bảo tồn di sản đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp du lịch, nghệ nhân và cộng đồng dân cư. Thời gian qua, tỉnh Gia Lai đã từng bước hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương và cộng đồng trong việc triển khai các hoạt động bảo tồn, truyền dạy, quảng bá và khai thác giá trị di sản, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa.

(3) Kiểm kê, lập hồ sơ, bảo tồn và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể. Thực hiện quy định của Công ước UNESCO năm 2003 và Luật Di sản văn hóa năm 2024, tỉnh Gia Lai chú trọng kiểm kê, lập hồ sơ, nghiên cứu, tư liệu hóa, bảo tồn và truyền dạy các di sản văn hóa phi vật thể. UBND tỉnh khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia sưu tầm, nghiên cứu và hệ thống hóa các giá trị di sản; đồng thời, tăng cường kiểm kê, số hóa tư liệu, hỗ trợ nghệ nhân, tổ chức các lớp truyền dạy, liên hoan, trình diễn và phục dựng lễ hội truyền thống. Các hoạt động này góp phần duy trì sức sống của di sản, nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo nền tảng cho việc khai thác hiệu quả di sản phục vụ phát triển du lịch văn hóa.

Hiện nay, toàn tỉnh có 9 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia được kiểm kê, lập hồ sơ hằng năm làm căn cứ bảo tồn và phát huy phục vụ du lịch. Tỉnh duy trì 01 Đoàn Tuồng Đào Tấn, 11 Đoàn tuồng ngoài công lập, 01 Đoàn Ca kịch Bài chòi, 28 câu lạc bộ, phục dựng và số hóa 16 vở Tuồng, 18 vở Bài Chòi; đưa Võ cổ truyền vào giảng dạy trong các trường học từ năm 2016; hỗ trợ 300 hộ dân duy trì Nghề chằm nón ngựa Phú Gia gắn với du lịch trải nghiệm. Từ năm 2000, phục dựng lễ hội Lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn và định kỳ tổ chức từ 30 tháng Giêng đến mùng 02 tháng 02 âm lịch. Năm 2014, phục dựng Lễ hội Cầu ngư Vạn đầm Xương Lý. Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được tiến hành kiểm kê khoa học ứng dụng công nghệ thông tin qua 2 đợt năm 2008 và 2020 – 2021, toàn tỉnh lưu giữ hơn 4.500 bộ cồng chiêng. Festival cồng chiêng – Tuần lễ Hoa dã quỳ – Núi lửa Chư Đang Ya được tổ chức từ ngày 30/10 đến 08/11/2026 tại Pleiku, xã Biển Hồ và làng Ia Gri. Sử thi Ba Na, Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui đang trong giai đoạn số hóa (UBND tỉnh Gia Lai, 2026).

(4) Phát huy giá trị di sản gắn với phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng. Trên cơ sở Luật Du lịch năm 2017, tỉnh Gia Lai đã ban hành Kế hoạch số 40/KH-UBND ngày 30/01/2026 triển khai Đề án bảo tồn và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030, hướng tới xây dựng không gian văn hóa cồng chiêng trở thành sản phẩm văn hóa – du lịch tiêu biểu của tỉnh (UBND tỉnh Gia Lai, 2026). Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh tổ chức các chương trình trình diễn, trải nghiệm văn hóa, kết nối với các tuyến, điểm du lịch nhằm nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, tạo sinh kế cho cộng đồng và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

(5) Chính sách đối với nghệ nhân và phát huy vai trò của cộng đồng. Nghệ nhân và cộng đồng là chủ thể sáng tạo, lưu giữ và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể. Vì vậy, tỉnh Gia Lai đã triển khai điều tra, lập hồ sơ nghệ nhân; tổ chức các lớp truyền dạy, phục dựng lễ hội, duy trì hoạt động của các đội văn nghệ, câu lạc bộ văn hóa dân gian và hỗ trợ thực hành di sản tại cộng đồng. Đồng thời, tỉnh quan tâm tôn vinh, hỗ trợ nghệ nhân, hiện có 7 nghệ nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân và 35 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú (UBND tỉnh Gia Lai, 2026). Đây là lực lượng nòng cốt trong việc truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ và góp phần bảo tồn bền vững các di sản văn hóa phi vật thể.

(6) Huy động nguồn lực và phát triển nguồn nhân lực phục vụ bảo tồn di sản. Tỉnh Gia Lai đã triển khai nhiều chủ trương huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng nhằm phục vụ công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch. Đồng thời, tỉnh chú trọng phát triển du lịch cộng đồng, khuyến khích doanh nghiệp tham gia khai thác giá trị văn hóa truyền thống, gắn sản phẩm OCOP với phát triển du lịch. Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa, nâng cao năng lực kiểm kê, lập hồ sơ, quản lý và bảo tồn di sản cũng được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Cụ thể, theo Điều 17, Nghị định số 39/2024/NĐ-CP, kinh phí cho quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được bố trí trong dự toán ngân sách của Tỉnh, đã chuyển đổi nguồn kinh phí từ Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa sang nguồn vốn đầu tư do tỉnh quản lý. Theo Báo cáo số 70/BC-UBND, tỉnh Gia Lai hỗ trợ hằng năm cho 200 nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật Hát bội; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho 177 lò võ và câu lạc bộ Võ cổ truyền; mở các lớp truyền dạy, thực hành Cồng chiêng theo Kế hoạch số 40/KH-UBND. Sản phẩm Nón ngựa Phú Gia của nghệ nhân Đỗ Văn Lan được công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao. Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều lớp tập huấn và bồi dưỡng kiến thức về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phục vụ du lịch, bao gồm trình diễn Nghệ thuật Bài chòi, Nghệ thuật Hát bội, tập huấn Võ cổ truyền và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về bảo quản, tu bổ và phục hồi Cồng chiêng Tây nguyên (UBND tỉnh Gia Lai, 2026).

(7) Chuyển đổi số, hợp tác và quảng bá di sản văn hóa phi vật thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và quảng bá di sản, tỉnh Gia Lai đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua số hóa hồ sơ, xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, lưu trữ và giới thiệu di sản. Tỉnh đã từng bước số hóa hệ thống tư liệu và hiện vật về Cồng chiêng Tây Nguyên, các bài thiệu Võ cổ truyền trưng bày tại các bảo tàng, đã thực hiện liên thông dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa. Đa dạng hóa các dịch vụ sử dụng tài nguyên số trên nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo, thúc đẩy phát triển văn hóa – du lịch bền vững.

Đồng thời, tỉnh Gia Lai tăng cường hợp tác với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam cùng các địa phương trong nước và quốc tế. Trong khuôn khổ Năm Du lịch quốc gia Gia Lai 2026 với chủ đề “Đại ngàn chạm biển xanh”, tổ chức tổng cộng 244 sự kiện và hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao xuyên suốt 12 tháng, bao gồm các chương trình liên kết phát triển du lịch vùng, hội nghị, hội chợ, diễn đàn và hoạt động xúc tiến. (UBND tỉnh Gia Lai, 2026).

(8) Thanh tra, kiểm tra và đánh giá hiệu quả bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch. Công tác thanh tra, kiểm tra được Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp với các cơ quan, địa phương triển khai thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những hạn chế trong quản lý, tổ chức lễ hội, thực hành và khai thác di sản. Đồng thời, tỉnh chú trọng đánh giá hiệu quả các chương trình bảo tồn, tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, nghệ nhân, cộng đồng và doanh nghiệp, qua đó, góp phần bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và phát triển du lịch theo hướng bền vững. Qua rà soát việc thực hiện Quyết định số 90/2025/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 của UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh, công tác thanh tra đã chỉ ra hoạt động triển khai ứng dụng dữ liệu thông minh và cổng thông tin kết nối di sản Cồng chiêng, Lễ hội cầu mưa của Yang Pơtao Apui có phần mềm bị nghiệm thu khi chưa cập nhật đầy đủ dữ liệu vận hành theo cam kết dự toán ban đầu. Một số bất cập hành chính, như: hạn chế trong phân bổ nguồn lực, kinh phí hỗ trợ cho các nghệ nhân Bài Chòi, Võ cổ truyền tại một số địa phương còn chậm hoặc lập hồ sơ danh sách chưa tối ưu (UBND tỉnh Gia Lai, 2026). Để chấn chỉnh và phòng ngừa các vi phạm có thể xảy ra, HĐND tỉnh Gia Lai đã thông qua Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030”.

Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa, tỉnh Gia Lai vẫn còn một số hạn chế

Thứ nhất, cơ chế, chính sách và công tác quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn với phát triển du lịch chưa thật sự đồng bộ, các chính sách vẫn chủ yếu mang tính định hướng chung, chưa có cơ chế đặc thù phù hợp với từng loại hình di sản. Việc lồng ghép mục tiêu bảo tồn di sản với phát triển du lịch ở một số chương trình, dự án chưa thật sự thống nhất; công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý, cộng đồng, nghệ nhân và doanh nghiệp du lịch còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò của các chủ thể trong quá trình bảo tồn và khai thác giá trị di sản.

Thứ hai, công tác bảo tồn, truyền dạy và phục hồi di sản văn hóa phi vật thể còn gặp nhiều khó khăn. Một số nghệ nhân – những người trực tiếp nắm giữ, thực hành và truyền dạy di sản ngày càng lớn tuổi, trong khi lực lượng kế cận còn thiếu về số lượng và kỹ năng. Hoạt động truyền dạy, phục dựng lễ hội, duy trì thực hành di sản chưa thường xuyên quan tâm, quy mô còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ mai một một số giá trị văn hóa truyền thống.

Thứ ba, việc khai thác giá trị di sản văn hóa phi vật thể để phát triển du lịch văn hóa chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Các chương trình trải nghiệm văn hóa, trình diễn di sản và tour du lịch gắn với cộng đồng chưa phong phú, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa tạo được dấu ấn riêng thị trường du lịch. Vì vậy, giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội của di sản vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng vốn có.

Thứ tư, nguồn lực đầu tư và sự tham gia của các chủ thể xã hội trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản còn hạn chế. Kinh phí dành cho hoạt động kiểm kê, tư liệu hóa, phục dựng, truyền dạy và quảng bá di sản chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, trong khi nguồn lực xã hội hóa còn khiêm tốn. Sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong đầu tư, khai thác di sản phục vụ phát triển du lịch chưa nhiều; các mô hình hợp tác công – tư trong lĩnh vực bảo tồn di sản chưa được triển khai rộng rãi.

Thứ năm, ứng dụng công nghệ số, quảng bá và xây dựng sản phẩm du lịch từ di sản chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh hiện nay. Hệ thống cơ sở dữ liệu số về di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh chưa hoàn thiện; việc xây dựng bản đồ số, không gian trưng bày trực tuyến, nền tảng giới thiệu và quảng bá di sản còn hạn chế khả năng tiếp cận của du khách trong và ngoài nước đối với các giá trị di sản văn hóa của Gia Lai.

Các hạn chế trên xuất phát từ một số nguyên nhân, đó là:

Một là, hệ thống cơ chế, chính sách và năng lực quản lý nhà nước về bảo tồn, phát huy giá trị di sản chưa thật sự đồng bộ. Việc cụ thể hóa các chính sách vào thực tiễn địa phương còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cộng đồng, nghệ nhân và doanh nghiệp trong bảo tồn, khai thác giá trị di sản chưa chặt chẽ.

Hai là, nguồn nhân lực phục vụ công tác bảo tồn di sản còn hạn chế, đặc biệt là đội ngũ nghệ nhân và lực lượng kế cận; còn nhiều nghệ nhân nắm giữ tri thức truyền thống đã lớn tuổi, trong khi việc đào tạo, truyền dạy cho thế hệ trẻ chưa được quan tâm thường xuyên; đội ngũ cán bộ quản lý di sản ở cơ sở còn thiếu và chưa đồng đều về chuyên môn.

Ba là, sự gắn kết giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa chưa đạt hiệu quả cao. Việc xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên giá trị di sản còn hạn chế, thiếu tính đặc trưng; sự liên kết giữa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, doanh nghiệp và cộng đồng chủ thể di sản chưa phát huy đầy đủ.

Bốn là, nguồn lực đầu tư cho bảo tồn và phát huy giá trị di sản còn chưa đáp ứng yêu cầu. Kinh phí cho hoạt động kiểm kê, tư liệu hóa, phục dựng, truyền dạy và quảng bá di sản vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; việc huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp và cộng đồng còn hạn chế.

Năm là, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quảng bá di sản còn chậm. Công tác số hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu và các hình thức quảng bá trực tuyến về di sản chưa được đầu tư đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch.

3. Một số khuyến nghị về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gắn với phát triển du lịch văn hóa. Tiếp tục cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh Gia Lai; lồng ghép mục tiêu bảo tồn di sản với quy hoạch, chương trình và kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh. Đồng thời, tăng cường phân quyền, phân cấp gắn với trách nhiệm của các cấp chính quyền; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chính quyền địa phương, cộng đồng và doanh nghiệp nhằm bảo đảm sự thống nhất trong quản lý, bảo tồn và khai thác các giá trị di sản.

Thứ hai, tăng cường nguồn lực và phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Bảo đảm nguồn kinh phí cho công tác kiểm kê, tư liệu hóa, phục dựng, truyền dạy và quảng bá di sản; đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong đầu tư, khai thác di sản phục vụ phát triển du lịch. Quan tâm thực hiện chính sách tôn vinh, hỗ trợ nghệ nhân; mở rộng các hoạt động truyền dạy trong cộng đồng và trường học; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và khai thác giá trị di sản theo tinh thần Công ước UNESCO năm 2003.

Thứ ba, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng gắn với các di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Tập trung xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm dựa trên giá trị của Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Sử thi Ba Na, Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui, Nghệ thuật Bài chòi, Võ cổ truyền Bình Định và các lễ hội, nghề truyền thống của địa phương. Kết hợp phát triển du lịch cộng đồng, làng nghề, ẩm thực và các sản phẩm OCOP; tăng cường liên kết giữa các điểm đến, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng nhằm hình thành chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc, nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến Gia Lai.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và tăng cường công tác quảng bá di sản văn hóa phi vật thể. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về di sản; đẩy mạnh số hóa hồ sơ, tư liệu, hình ảnh, phim tư liệu và tri thức dân gian; xây dựng bản đồ số và các nền tảng giới thiệu di sản trên môi trường số. Đồng thời, ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá, truyền thông và xúc tiến du lịch; tăng cường liên kết với các nền tảng số, mạng xã hội và doanh nghiệp du lịch để đưa hình ảnh, giá trị di sản của Gia Lai đến với du khách trong nước và quốc tế.

Thứ năm, tăng cường liên kết vùng và hợp tác phát triển du lịch văn hóa theo hướng bền vững. Phát huy lợi thế của tỉnh Gia Lai trong không gian văn hóa Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ để xây dựng các tuyến, điểm và sản phẩm du lịch liên vùng; tăng cường hợp tác với các địa phương, doanh nghiệp lữ hành, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế trong nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Đồng thời, thường xuyên đánh giá hiệu quả của các hoạt động bảo tồn gắn với phát triển du lịch, bảo đảm việc khai thác di sản không làm mai một giá trị truyền thống, hướng tới phát triển du lịch văn hóa bền vững.

4. Kết luận

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là nhiệm vụ quan trọng nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống cộng đồng và thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa. Với 9 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, tỉnh Gia Lai đã đạt nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo tồn, truyền dạy và phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế về cơ chế quản lý, nguồn lực và ứng dụng công nghệ. Vì vậy, tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường sự tham gia của cộng đồng, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển du lịch gắn với di sản theo hướng bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012). Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL ngày 27/12/2012 về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014). Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19/12/2014 về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2015). Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL ngày 08/6/2015 về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014). Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25/8/2014 về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2025a). Quyết định số 90/2025/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 về Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2025b). Quyết định số 3279/QĐ-UBND ngày 29/12/2025 về việc ban hành Danh mục quản lý di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2026). Kế hoạch số 40/KH-UBND ngày 30/01/2026 triển khai Đề án bảo tồn và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2026). Báo cáo số 70/BC-UBND ngày 14/4/2026 về tình hình kinh tế – xã hội quý I và nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026.
UNESCO (2003). Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage. Paris.