Hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Financial support for youth economic development in Hai Phong City

ThS. Nguyễn Thị Thủy
Thành đoàn Hải Phòng  
Email: nguyenthuy8820@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế góp phần tạo việc làm, mở rộng sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy khởi nghiệp. Trong bối cảnh Hải Phòng đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, công nghiệp hiện đại, logistics, chuyển đổi số và kinh tế xanh, nhu cầu tài chính của các nhóm thanh niên ngày càng đa dạng. Bài viết sử dụng phân tích tài liệu, thống kê mô tả và đối chiếu chính sách để nghiên cứu các nguồn vốn, hình thức hỗ trợ và kết quả triển khai tại Hải Phòng, có tính đến thay đổi địa giới từ tháng 7/2025. Kết quả cho thấy, tín dụng chính sách qua tổ chức Đoàn được mở rộng, đồng thời, xuất hiện thêm cơ chế hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp sáng tạo; tuy nhiên, khả năng đáp ứng nhu cầu cho từng nhóm thanh niên còn hạn chế. Bài viết đề xuất đa dạng hóa hình thức hỗ trợ, cải thiện khả năng tiếp cận và kết nối vốn với dịch vụ phát triển kinh doanh.

Từ khóa: Hỗ trợ vốn; thanh niên; phát triển kinh tế; tín dụng chính sách; Hải Phòng.

Abstract: Capital support can help young people create jobs, expand businesses, and pursue entrepreneurship. As Hai Phong promotes private-sector growth, modern manufacturing, logistics, digital transformation, and green development, the financing needs of young economic actors are becoming more diverse. Using document analysis, descriptive statistics, and policy comparison, this article examines funding sources, support instruments, and implementation evidence, taking account of the city’s administrative merger in July 2025. The findings indicate an expansion of policy credit delivered through Youth Union channels alongside new financial support mechanisms for innovative start-ups. However, available evidence remains insufficient to assess whether these mechanisms meet the financing needs of different youth groups. The article recommends diversifying financial instruments, improving access to appropriate funding, and linking capital support with business development services.

Keywords: Capital support; youth; economic development; policy credit; Hai Phong.

1. Đặt vấn đề

Thanh niên tham gia hoạt động kinh tế dưới nhiều hình thức: tự tạo việc làm, kinh doanh hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ, dự án khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Ở các giai đoạn này, vốn là điều kiện để mua sắm tư liệu sản xuất, duy trì dòng tiền, tiếp cận công nghệ và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, nhu cầu vốn khác nhau đáng kể giữa người bắt đầu kinh doanh, cơ sở sản xuất đang mở rộng và doanh nghiệp khởi nghiệp có mức độ rủi ro cao. Khả năng tự tích lũy còn hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm, kinh nghiệm quản trị và thông tin về nguồn vốn là những rào cản khiến một bộ phận thanh niên khó tiếp cận tài chính phù hợp. Nghiên cứu khảo sát doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam cho thấy rào cản pháp lý, sự thiếu hụt nguồn vốn và sự hỗ trợ từ ngân hàng, khu vực công là những vấn đề đáng chú ý trong huy động vốn (Vũ Duy Hào và cộng sự, 2022).

Ở góc độ chính sách công, hỗ trợ vốn có thể xử lý một phần những bất cân xứng thông tin và trở ngại tiếp cận tài chính trên thị trường. Song chính sách không thể chỉ đo bằng lượng tiền phân bổ: cần xem xét ai tiếp cận được, với điều kiện nào, phù hợp mức độ rủi ro ra sao và có hỗ trợ cần thiết để sử dụng vốn hay không. Kline và Moretti nhấn mạnh khi đánh giá chính sách phát triển kinh tế theo địa bàn, phải phân biệt tác động tới đối tượng và khu vực nhận hỗ trợ với lợi ích, chi phí xã hội ở phạm vi rộng hơn (Kline, P. và Moretti, E. 2014). Vì thế, mở rộng nguồn vốn phải gắn với lựa chọn công cụ và nhóm thụ hưởng phù hợp.

Hải Phòng đang thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, công nghiệp hiện đại, dịch vụ logistics, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và các mô hình sản xuất theo hướng xanh. Những định hướng này đặt ra yêu cầu vốn khác nhau: hộ kinh doanh và thanh niên lập nghiệp cần vốn đầu tư ban đầu, vốn lưu động; cơ sở sản xuất mở rộng cần vốn trung, dài hạn cho máy móc và công nghệ; dự án khởi nghiệp sáng tạo có thể cần nguồn vốn chấp nhận rủi ro và hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm. Đây là những nhu cầu cần được xác định bằng khảo sát cụ thể, thay vì đồng nhất thanh niên làm kinh tế với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Bên cạnh đó, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương được sắp xếp thành thành phố Hải Phòng mới, vận hành từ ngày 01/7/2025 (Quốc hội, 2025). Không gian kinh tế và địa bàn thực hiện chính sách được mở rộng làm tăng yêu cầu liên thông các chương trình và mạng lưới tư vấn vốn, đồng thời đòi hỏi xác định đúng phạm vi thống kê trước và sau hợp nhất.

Bài viết tập trung phân tích các hình thức hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế, nhận diện bằng chứng kết quả triển khai và những hạn chế về tiếp cận, phối hợp và thông tin, từ đó đề xuất giải pháp tại thành phố Hải Phòng hiện nay. Khác với cách tiếp cận chú trọng nghiệp vụ quản lý khoản vay, nghiên cứu này xem xét các kênh hỗ trợ từ phía nhu cầu vốn và khả năng thụ hưởng của thanh niên. Đặc biệt, nghiên cứu thận trọng phân biệt thông tin về chính sách đã ban hành với kết quả giải ngân thực tế; số liệu tín dụng chung với số liệu dành riêng cho thanh niên; cũng như phạm vi địa lý trước và sau hợp nhất.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả từ dữ liệu thứ cấp. Phân tích và tổng hợp tài liệu được dùng để làm rõ khái niệm, cơ sở chính sách và các hình thức hỗ trợ vốn; phương pháp thống kê mô tả phân tích số thanh niên vay vốn, dư nợ và nguồn lực hỗ trợ theo từng giai đoạn; phương pháp so sánh, đối chiếu làm rõ phạm vi thụ hưởng, điều kiện và cách thức triển khai của các chương trình tài chính khác nhau.

Khi xử lý số liệu, nghiên cứu phân biệt số liệu Hải Phòng trước và sau hợp nhất, số liệu tín dụng toàn địa bàn với chỉ tiêu riêng về thanh niên, cũng như nguồn vốn cho vay với chính sách hỗ trợ không hoàn lại. Phương pháp này cho phép nhận diện xu hướng và những vấn đề chính sách, song không thay thế điều tra trực tiếp về nhu cầu vốn và kết quả kinh doanh của từng nhóm người thụ hưởng.

3. Vai trò và các hình thức hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế

3.1. Hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế và vai trò của hoạt động hỗ trợ vốn

Hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế là tổng thể các biện pháp của Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị – xã hội và chủ thể liên quan nhằm tạo điều kiện để thanh niên tiếp cận nguồn lực tài chính cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, khởi sự doanh nghiệp và tạo việc làm. Các biện pháp này có thể tác động trực tiếp tới chi phí và khả năng tiếp cận vốn thông qua cho vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng; hoặc hỗ trợ huy động vốn qua kết nối nhà đầu tư, quỹ đầu tư và các dịch vụ tư vấn.

Trên phương diện kinh tế, hỗ trợ vốn góp phần khắc phục hạn chế tích lũy ban đầu, giúp thanh niên đầu tư máy móc, nguyên vật liệu, ứng dụng kỹ thuật, duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh. Trên phương diện xã hội, hoạt động này tạo thêm cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập và khuyến khích thanh niên chủ động tham gia phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, khả năng huy động vốn còn chịu tác động của rào cản pháp lý, hạn chế về tài sản bảo đảm, tiếp cận thông tin và năng lực tài chính của chủ thể kinh doanh (Vũ Duy Hào và cộng sự, 2022). Do đó, mở rộng quy mô hỗ trợ chỉ là một điều kiện; tính phù hợp của công cụ tài chính với nhu cầu, rủi ro và chu kỳ kinh doanh mới quyết định khả năng vốn được sử dụng hiệu quả. Chính sách hỗ trợ vốn cần đi cùng đào tạo kỹ năng quản lý, tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ và kết nối thị trường, qua đó nâng cao năng lực hấp thụ vốn của thanh niên.

3.2. Các nguồn vốn và hình thức hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế

Các nguồn vốn hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế có thể hình thành từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, nguồn vốn huy động của tổ chức tín dụng, các quỹ và nguồn góp vốn của doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân. Từ những nguồn lực đó, hoạt động hỗ trợ được thực hiện qua các hình thức khác nhau. Một là, cho vay ưu đãi có hoàn trả, tiêu biểu là chương trình tín dụng giải quyết việc làm và các khoản vay đáp ứng điều kiện chính sách. Hai là, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh tín dụng hoặc chia sẻ một phần rủi ro nhằm tạo thuận lợi cho chủ thể đủ điều kiện tiếp cận khoản vay. Ba là, hỗ trợ tài chính không hoàn lại đối với nhiệm vụ hoặc dự án được phê duyệt theo chính sách. Bốn là, góp vốn đầu tư, vốn mồi và đầu tư mạo hiểm cho những dự án có triển vọng tăng trưởng, với cơ chế chia sẻ lợi nhuận và rủi ro khác vốn vay. Kinh nghiệm Hàn Quốc được Đào Thị Thu Giang và cộng sự tổng kết cho thấy một hệ thống hỗ trợ tài chính có thể kết hợp cho vay theo chính sách, trung gian ngân hàng, bảo lãnh tín dụng và thị trường vốn (Đào Thị Thu Giang và cộng sự, 2019). Báo cáo Thông lệ quốc tế tốt về dịch vụ hỗ trợ kinh doanh của Halme và Salminen còn đề cập các công cụ tài trợ của Chính phủ, chia sẻ nợ và rủi ro, vốn mồi, vốn mạo hiểm, nguồn tài chính thay thế và ưu đãi thuế (Halme, K. và Salminen, V. 2017). Những kinh nghiệm này có giá trị tham khảo ở mức phân loại và nguyên tắc thiết kế, không có nghĩa mọi công cụ đều đã tồn tại hoặc phù hợp với tất cả nhóm thanh niên ở Hải Phòng.

Cần phân biệt rõ nguồn hình thành vốn, hình thức chuyển vốn đến người thụ hưởng và điều kiện bổ trợ. Chẳng hạn, ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội là nguồn vốn hình thành khoản vay; cho vay ưu đãi là hình thức hỗ trợ; còn tư vấn, đào tạo, ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ mặt bằng tạo điều kiện để thanh niên tiếp cận và sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn. Do nhu cầu về quy mô, thời hạn và mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau, chính sách hỗ trợ vốn cần kết hợp nhiều hình thức nhưng xác định rõ đối tượng, điều kiện, chủ thể thực hiện và nguyên tắc không trùng lặp nguồn lực.

4. Thực trạng hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng

4.1. Các nguồn vốn và hoạt động hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế

Trước khi hợp nhất địa giới, hoạt động hỗ trợ vốn cho thanh niên Hải Phòng chủ yếu được triển khai qua các chương trình tín dụng chính sách và sự phối hợp giữa Thành đoàn với Ngân hàng chính sách xã hội. Giai đoạn 2016 – 2020, các cấp bộ Đoàn tại Hải Phòng đã hỗ trợ 4.614 thanh niên phát triển kinh tế, trong đó có 3.926 thanh niên được hỗ trợ vốn vay, tổng dư nợ trên 390 tỷ đồng (Nguyễn Thị Thủy, 2021).

Kế hoạch số 250/KH-UBND ngày 27/10/2022 của UBND thành phố Hải Phòng về hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2022 – 2030 tiếp cận vấn đề theo hướng rộng hơn: nâng cao năng lực khởi nghiệp, hỗ trợ phát triển kinh doanh, hoàn thiện hệ sinh thái và kết nối mạng lưới chuyên gia, tổ chức ươm tạo (UBND thành phố Hải Phòng, 2022). Thành đoàn được giao chủ trì phối hợp triển khai, Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Kế hoạch cho thấy định hướng kết hợp hỗ trợ tài chính với các điều kiện khởi nghiệp khác, nhưng bản thân việc ban hành kế hoạch chưa chứng minh số vốn đã giải ngân hay số thanh niên được thụ hưởng. Đồng thời, vì kế hoạch được ban hành trước hợp nhất, việc xác định phạm vi tiếp tục áp dụng phải dựa trên quy định chuyển tiếp, điều chỉnh và thực tiễn tổ chức ở thành phố mới.

Sau hợp nhất, công cụ chính sách liên quan tới tiếp cận nguồn lực tài chính được mở rộng. Nghị quyết số 19/2025/NQ-HĐND ngày 26/10/2025 của HĐND thành phố quy định phương thức, điều kiện, nội dung, mức và thủ tục hỗ trợ không hoàn lại từ ngân sách thành phố đối với tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo (HĐND thành phố Hải Phòng, 2025). Đây là một kênh tài chính khác về bản chất với cho vay có hoàn trả. Tuy nhiên, không phải mọi thanh niên làm kinh tế đều thuộc diện được hỗ trợ theo nghị quyết; phải đáp ứng đúng điều kiện, đối tượng và nhiệm vụ được xác định.

Bên cạnh đó, chính sách phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026 – 2030 của thành phố đặt ra nhiệm vụ tạo thuận lợi cho hợp tác xã tiếp cận vốn ưu đãi và cơ chế hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã (Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng, 2026). Kênh này có thể liên quan đến thanh niên tham gia hoặc làm chủ hợp tác xã, nhưng báo cáo tổng số hợp tác xã và nguồn vốn của quỹ không phải dữ liệu riêng về thanh niên. Các chính sách về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế tư nhân, đào tạo nghề và chuyển đổi số tạo môi trường thuận lợi, song cần được trình bày như biện pháp bổ trợ, không xếp tất cả vào vốn hỗ trợ trực tiếp.

Một điểm mới đáng chú ý là chính sách và mạng lưới thực thi phải vận hành trên phạm vi hành chính thống nhất. Hiện thành phố có 114 đơn vị hành chính cấp xã theo sắp xếp năm 2025 (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Trong điều kiện đó, thanh niên ở những khu vực khác nhau có đặc điểm nhu cầu vốn và mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính không đồng nhất. Nghiên cứu chính sách cần xác định kênh nào tiếp cận được người vay tại cơ sở, chương trình nào dành cho hộ kinh doanh, hợp tác xã hay dự án khởi nghiệp và chủ thể nào chịu trách nhiệm tư vấn, kết nối, cập nhật kết quả sau hỗ trợ.

4.2. Một số kết quả triển khai và khả năng tiếp cận vốn

Trong giai đoạn 2016 – ­2020 tại Hải Phòng, số thanh niên được vay vốn tăng từ 2.590 lên 3.926 người, dư nợ từ 276,3 lên 390,0 tỷ đồng. Năm 2024, ghi nhận 11.798 thanh niên vay vốn, dư nợ 639,1 tỷ đồng; năm 2025 lần lượt là 18.045 người và 1.259,3 tỷ đồng, với 476 Tổ tiết kiệm và vay vốn do tổ chức Đoàn quản lý (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026). Các chỉ tiêu năm 2025 không thể coi là mức tăng thuần của cùng một địa bàn, bởi từ ngày 01/7/2025 phạm vi thống kê đã thay đổi. Ngoài ra, số liệu thể hiện quy mô hoạt động tín dụng chính sách qua tổ chức Đoàn, không đại diện cho toàn bộ các kênh tài chính hỗ trợ thanh niên.

Trong cơ cấu nguồn vốn vay, số liệu được công bố cho thấy, dư nợ chương trình cho vay giải quyết việc làm tăng từ 135,015 tỷ đồng năm 2023 lên 537,626 tỷ đồng năm 2025 (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026). Đây là chỉ báo về hướng mở rộng chương trình tín dụng liên quan đến việc làm, nhưng số liệu năm 2025 chịu ảnh hưởng của thay đổi địa giới. Tại Hải Phòng, năm 2016 có 1.887/2.590 thanh niên vay vốn được ghi nhận mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh; năm 2020 là 3.584/3.926 người (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026). Các tỷ lệ này là số liệu của giai đoạn cũ, chưa chứng minh quan hệ nhân quả và không được ngoại suy cho Hải Phòng mới.

Đối với thành phố mới, báo cáo chính thức về hoạt động Ngân hàng chính sách xã hội 9 tháng năm 2026 ghi nhận thành phố bố trí bổ sung 1.000 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội để hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm. Đến ngày 30/9/2026, doanh số cho vay trong 9 tháng đạt 4.008,1 tỷ đồng, với hơn 40.500 lượt khách hàng; tổng dư nợ đạt 16.174,3 tỷ đồng (Cổng Thông tin điện tử thành phố Hải Phòng, 2026). Những số liệu này minh chứng quy mô nguồn lực tín dụng chính sách trên địa bàn, song không cho biết bao nhiêu khách hàng là thanh niên hoặc thuộc chương trình hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế. Vì vậy, không được sử dụng số liệu để kết luận số lượng thanh niên được vay hay mức tăng dư nợ dành riêng cho thanh niên.

Ở cấp cơ sở, thông tin công khai của phường Hải An năm 2026 cho biết, dư nợ ủy thác qua các tổ chức chính trị – xã hội đạt 177,879 tỷ đồng; phần do Đoàn Thanh niên quản lý chiếm 5,6% (UBND phường Hải An, thành phố Hải Phòng, 2026). Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng kênh nhận ủy thác của tổ chức Đoàn tại một địa bàn cụ thể, chứ không phải tỷ lệ toàn bộ thanh niên được hưởng tín dụng tại phường; người vay thông qua các tổ chức khác cũng có thể ở độ tuổi thanh niên. Dầu phạm vi hẹp, minh chứng này cho thấy nhu cầu tách
bạch hai hệ tiêu chí: dư nợ theo tổ chức nhận ủy thác và dư nợ theo tuổi, mục đích sản xuất kinh doanh của người thụ hưởng. Bảng 1 phân biệt minh chứng về tín dụng dành cho thanh niên, quy mô tín dụng chung và các chính sách hỗ trợ tài chính được ban hành ở những thời kỳ khác nhau.

Bảng 1. Nguồn vốn, hình thức hỗ trợ và minh chứng thực hiện tại Hải Phòng

Thời kỳ/địa bànChỉ tiêu hoặc chính sáchGiá trị minh chứng và giới hạn
2016 – 2020, Hải PhòngThanh niên vay vốn và dư nợ 20203.926 thanh niên; hơn 390 tỷ đồng dư nợ; dữ liệu lịch sử.
2022 – 2030, chính sách ban hành trước hợp nhấtKế hoạch 250/KH-UBNDĐịnh hướng hỗ trợ khởi nghiệp, không cung cấp số liệu giải ngân.
Sau hợp nhất, từ 10/2025Nghị quyết 19/2025/NQ- HĐNDCó cơ chế hỗ trợ không hoàn lại cho đối tượng đủ điều kiện, chưa xác định số thanh niên được hỗ trợ.
9 tháng năm 2026, toàn thành phố mớiNHCSXH và      vốn   ngân sách ủy thácBổ sung 1.000 tỷ đồng; dư nợ 16.174,3 tỷ đồng; số chung toàn bộ khách hàng.
2026, phường Hải AnDư nợ ủy thác theo tổ chứcĐoàn Thanh niên quản lý 5,6% dư nợ ủy thác; không phải tỷ lệ người vay là thanh niên.
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các tài liệu được trích dẫn trong bài.

Ngoài quy mô vốn, còn có bằng chứng về hướng tổ chức hoạt động hỗ trợ đa dạng. Một mặt, kênh tín dụng chính sách chú trọng khả năng tiếp cận vốn để giải quyết việc làm và phát triển sản xuất. Mặt khác, chính sách hỗ trợ không hoàn lại và hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở ra khả năng thúc đẩy dự án công nghệ, sản phẩm mới và mô hình có tiềm năng tăng trưởng. Hai nhóm công cụ phục vụ các nhu cầu khác nhau, không nên thay thế hoặc đánh giá bằng cùng một tiêu chí.

Việc một chương trình được phép triển khai chưa có nghĩa đã phát sinh hỗ trợ thực tế; để xác định kết quả cần báo cáo lựa chọn dự án, quyết định phê duyệt, giải ngân và danh sách người thụ hưởng.

Từ thông tin hiện có, có thể nhận xét rằng tín dụng chính sách qua tổ chức Đoàn đã mở rộng về quy mô, đồng thời nguồn lực tín dụng chính sách chung tại Hải Phòng mới đạt quy mô lớn và các công cụ hỗ trợ khởi nghiệp đã đa dạng hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn giảm từ 0,20% (2016) xuống 0,08% (2025) phản ánh chất lượng tín dụng, không đủ chứng minh mức tăng thu nhập hay việc làm do vốn vay tạo ra. Nghiên cứu đã công bố cũng chỉ ra thiếu dữ liệu theo dõi liên tục về doanh thu, việc làm và kết quả kinh tế sau vay (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026). Đây là giới hạn cần được nhận diện khi đánh giá hoạt động hỗ trợ vốn.

4.3. Những hạn chế và vấn đề đặt ra

Một là, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của từng nhóm thanh niên chưa được phản ánh đầy đủ trong các kết quả công bố. Chương trình tín dụng ưu đãi có mục tiêu và điều kiện thụ hưởng riêng, trong khi nhu cầu thực tế trải từ vốn lưu động quy mô nhỏ đến đầu tư công nghệ hoặc vốn thử nghiệm sản phẩm. Số liệu cho thấy,  kênh tín dụng do Đoàn tham gia đã mở rộng (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026), nhưng chưa đủ căn cứ xác định tỷ lệ nhu cầu vốn được đáp ứng trên toàn địa bàn mới. Vì vậy, mức độ phù hợp giữa quy mô khoản vay, thời hạn tài trợ và yêu cầu của từng mô hình kinh tế là vấn đề cần được rà soát, thay vì khẳng định chung rằng vốn hỗ trợ đã thiếu hoặc đủ.

Hai là, điều kiện và năng lực tiếp cận các hình thức hỗ trợ không giống nhau giữa các nhóm thanh niên. Hộ kinh doanh, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có quy mô hoạt động, hồ sơ tài chính và khả năng bảo đảm khác nhau. Nghiên cứu của (Vũ Duy Hào và cộng sự, 2022) ghi nhận những rào cản pháp lý, thiếu vốn và hạn chế tiếp cận ngân hàng đối với doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam. Đối với Hải Phòng, chưa có khảo sát đại diện để xác định mức độ của từng rào cản; song sự khác biệt giữa các điều kiện thụ hưởng cho thấy cần tổ chức tư vấn, hướng dẫn lựa chọn kênh vốn sát với từng đối tượng.

Ba là, các hình thức hỗ trợ tài chính được triển khai bởi nhiều chủ thể với mục tiêu và quy trình khác nhau. Tín dụng chính sách do Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện; cơ chế hỗ trợ không hoàn lại liên quan cơ quan khoa học và công nghệ; hoạt động tư vấn và kết nối thanh niên có sự tham gia của Thành đoàn, các cấp chính quyền và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Sau sáp nhập, yêu cầu phối hợp và cung cấp thông tin trên phạm vi thành phố mới tăng lên. Nếu không có đầu mối tổng hợp rõ ràng, thanh niên có thể khó phân biệt điều kiện tiếp cận từng chương trình. Đây là thách thức tổ chức thực hiện cần kiểm tra qua kết quả triển khai thực tế, không thể suy ra chỉ từ số lượng văn bản chính sách.

Bốn là, hỗ trợ tài chính cần được gắn chặt hơn với những điều kiện giúp người thụ hưởng chuyển vốn thành năng lực sản xuất, kinh doanh. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy ghi nhận sự kết nối giữa tín dụng với tư vấn quản trị, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và thị trường còn hạn chế trong hoạt động được khảo sát (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026). Halme và Salminen cũng nhấn mạnh sự kết hợp vốn tài chính với kỹ năng, mạng lưới và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (Halme, K. và Salminen, V. 2017). Đối với những mô hình kinh tế mới, hỗ trợ vốn đơn lẻ khó xử lý đầy đủ rủi ro về sản phẩm, quản trị hoặc tiêu thụ; cần thiết kế hoạt động bổ trợ theo từng nhóm ngành và giai đoạn phát triển.

Từ những vấn đề trên, yêu cầu đặt ra là chuyển trọng tâm đánh giá từ số tiền và số lượt cho vay sang khả năng tiếp cận phù hợp và kết quả phát triển của người thụ hưởng. Đây là nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế theo dõi, chứ không phải bằng chứng tự thân cho thấy chính sách hỗ trợ vốn thiếu hiệu quả. Chưa có chuỗi dữ liệu thống nhất về nhu cầu, số hồ sơ đủ điều kiện, số thực nhận vốn, doanh thu, việc làm và khả năng duy trì mô hình trên toàn Hải Phòng mới; vì thế, kết quả đánh giá tác động kinh tế – xã hội hiện chỉ có thể trình bày trong giới hạn số liệu đã xác minh (Nguyễn Thị Thủy, 21/8/2026).

5. Một số giải pháp

Thứ nhất, đa dạng hóa nguồn vốn và hình thức hỗ trợ phù hợp với nhu cầu thanh niên.

Để khắc phục nguy cơ nguồn vốn chưa phù hợp với nhu cầu đa dạng, UBND thành phố chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với Thành đoàn, Ngân hàng chính sách xã hội và chính quyền cấp xã tổ chức rà soát định kỳ các nhóm thanh niên đang khởi sự kinh doanh, phát triển hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ hoặc dự án đổi mới sáng tạo. Việc rà soát cần phân loại nhu cầu vốn ban đầu, vốn lưu động, vốn đầu tư thiết bị, thời hạn dự kiến, khả năng hoàn trả và nhu cầu được hướng dẫn kinh doanh. Thành đoàn tổng hợp nhu cầu từ tổ chức Đoàn cơ sở để kiến nghị lựa chọn, điều chỉnh chương trình thuộc đúng thẩm quyền; các tổ chức cấp vốn tiếp tục quyết định cho vay hoặc hỗ trợ theo quy định. Kết quả hướng tới là giảm tình trạng tư vấn sai kênh và tạo cơ sở phân bổ nguồn lực sát đặc điểm ngành nghề, địa bàn.

Về nguồn lực, thành phố có thể tiếp tục bố trí ngân sách ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội cho các chương trình phù hợp, đồng thời công khai điều kiện tiếp cận những công cụ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo đã được ban hành như Nghị quyết số 19/2025/NQ- HĐND (HĐND thành phố Hải Phòng, 2025). Đối với hợp tác xã có thanh niên tham gia, các cơ quan phụ trách kinh tế tập thể và tổ chức Đoàn cần hướng dẫn đối tượng đủ điều kiện tiếp cận các chương trình hiện hành, tránh coi mọi thành viên là người tự động được hưởng hỗ trợ. Với dự án có khả năng tăng trưởng cao, việc kết nối nhà đầu tư và quỹ đầu tư phải dựa trên thẩm định rủi ro và nguyên tắc tự nguyện. Mỗi hình thức tài trợ cần công khai đối tượng, nguồn vốn và kết quả để tránh chồng chéo; kinh nghiệm quốc tế cũng lưu ý chính sách hỗ trợ công không nên lấn át nguồn vốn tư nhân có thể cung cấp hiệu quả (Đào Thị Thu Giang và cộng sự, 2019; Halme, K. và Salminen, V. 2017).

Thứ hai, nâng cao khả năng tiếp cận vốn và minh bạch thông tin hỗ trợ.

Để giảm rào cản thông tin, Thành đoàn Hải Phòng nên phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội, cơ quan khoa học và công nghệ, cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp và chính quyền cấp xã thiết lập danh mục chung về các chương trình hiện hành, được cập nhật định kỳ trên cổng thông tin và tại điểm tư vấn cơ sở. Danh mục cần nêu rõ đối tượng, mục đích, mức hỗ trợ, thời hạn, lãi suất hoặc hình thức tài trợ, hồ sơ, nơi tiếp nhận và thời gian xử lý. Người có nhu cầu được hướng dẫn sàng lọc kênh hỗ trợ theo mô hình sản xuất kinh doanh, nhưng tư vấn không đồng nghĩa với phê duyệt cấp vốn; quyết định thuộc tổ chức có thẩm quyền. Việc công khai có thể giảm thời gian tìm kiếm thông tin và hạn chế nộp hồ sơ không phù hợp.

Cùng với thông tin, hoạt động tư vấn cần hỗ trợ người vay xây dựng phương án sử dụng vốn, cân đối dòng tiền, ước tính chi phí, rủi ro và khả năng trả nợ. Thanh niên lần đầu kinh doanh nên được hướng dẫn hồ sơ, thủ tục pháp lý, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kỹ năng tiếp cận ngân hàng, nhà đầu tư. Những vấn đề thuộc rào cản chính sách phải được tổng hợp thường xuyên để đề xuất điều chỉnh theo thẩm quyền; các điều kiện thẩm định và nguyên tắc an toàn tín dụng không nên được đơn giản hóa theo hướng làm suy giảm khả năng kiểm soát rủi ro.

Thứ ba, tăng cường phối hợp các chủ thể hỗ trợ vốn trên địa bàn mới.

Để hạn chế phân tán thông tin và đầu mối hỗ trợ sau hợp nhất, Thành đoàn Hải Phòng phát huy vai trò kết nối nhu cầu của thanh niên, phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội, chính quyền cấp xã, các cơ quan quản lý ngành và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Các bên nên xác định rõ công việc phụ trách: tổ chức Đoàn tuyên truyền, tư vấn, tổng hợp phản ánh; ngân hàng và quỹ thẩm định, quyết định cấp vốn theo quy định; cơ quan chuyên môn hướng dẫn tiếp cận chính sách tương ứng. Định kỳ có thể tổ chức phiên tư vấn theo nhóm ngành và địa bàn, chú ý địa bàn trước đây thuộc Hải Dương, vùng ven biển và khu vực nông thôn. Kết quả hướng tới là người dân có thể tiếp cận dịch vụ tương đương trên toàn địa bàn mới mà không phải phụ thuộc đầu mối của đơn vị hành chính cũ.

Đồng thời, cần xây dựng cơ chế trao đổi dữ liệu ở mức tối thiểu nhưng hữu ích, trên cơ sở tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và nghiệp vụ của cơ quan liên quan. Bộ chỉ tiêu theo dõi nên gồm: số thanh niên có nhu cầu, tỷ lệ được tư vấn, số hồ sơ đủ điều kiện, số được phê duyệt và giải ngân, giá trị hỗ trợ theo từng công cụ, mục đích vay, kết quả sau hỗ trợ theo kỳ theo dõi. Mỗi trường dữ liệu cần có định nghĩa thống nhất; trong báo cáo phải phân biệt rõ số người, lượt người, khoản vay và dư nợ. Công bố số liệu tổng hợp định kỳ sẽ giúp đánh giá chính xác mức độ tiếp cận, đồng thời cung cấp cơ sở để điều chỉnh chính sách.

Thứ tư, gắn hỗ trợ vốn với năng lực kinh doanh và phát triển thị trường.

Để cải thiện năng lực hấp thụ vốn, Thành đoàn và các cơ quan chuyên môn cần phối hợp với cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề xây dựng gói hỗ trợ tương ứng từng nhóm người thụ hưởng. Thanh niên kinh doanh lần đầu cần được hướng dẫn hạch toán, quản trị dòng tiền, lập phương án bán hàng; mô hình nông nghiệp, hợp tác xã và kinh tế xanh cần tư vấn tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, liên kết tiêu thụ; dự án khởi nghiệp sáng tạo cần tiếp cận chuyên gia sở hữu trí tuệ, thử nghiệm sản phẩm và mạng lưới nhà đầu tư. Những hoạt động này có thể lồng ghép với chương trình đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp đang triển khai, không mặc nhiên phát sinh khoản chi mới ngoài dự toán hoặc cơ chế được phê duyệt. Kế hoạch 250/KH-UBND đã xác định định hướng kết nối hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp (UBND thành phố Hải phòng, 2022); khi vận dụng cần đối chiếu phạm vi hiệu lực và cách triển khai trên địa bàn thành phố mới.

6. Kết luận

Hỗ trợ vốn cho thanh niên phát triển kinh tế tại Hải Phòng cần được đặt trong yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân, công nghiệp hiện đại, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và mở rộng không gian phát triển sau hợp nhất. Các nghiên cứu và số liệu được công bố cho thấy tín dụng chính sách qua tổ chức Đoàn đã mở rộng trong giai đoạn được khảo sát; đồng thời, thành phố đã ban hành thêm cơ chế hỗ trợ tài chính cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo. Song quy mô nguồn vốn chung và số lượng chính sách không tự phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu tài chính của từng nhóm thanh niên. Vì vậy, cần phân loại nhu cầu, phát triển các hình thức hỗ trợ phù hợp, nâng cao khả năng tiếp cận, kết nối các chủ thể thực hiện và gắn hỗ trợ tài chính với năng lực sản xuất, kinh doanh. Việc tiếp tục thu thập dữ liệu thống nhất theo đối tượng, địa bàn và kết quả sau hỗ trợ sẽ tạo căn cứ vững chắc hơn để đánh giá và hoàn thiện chính sách.

Tài liệu tham khảo:
Cổng Thông tin điện tử thành phố Hải Phòng (2026). Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố đánh giá kết quả hoạt động 9 tháng, triển khai nhiệm vụ quý IV/2026, tháng 10/2026.
Đào Thị Thu Giang, Nguyễn Thúy Anh, Cao Đinh Kiên (2019). Hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc. Tạp chí Khoa học Thương mại, số 136, tr. 63-73.
Halme, K. và Salminen, V. (2017). Thông lệ quốc tế tốt về dịch vụ hỗ trợ kinh doanh (International Best Practices in Business Support Services). 4FRONT, báo cáo thực hiện cho Mekong Business Initiative (MBI), do ADB và Chính phủ Úc đồng tài trợ.
HĐND thành phố Hải Phòng (2025). Nghị quyết số 19/2025/NQ-HĐND ngày 26/10/2025 quy định phương thức, điều kiện, nội dung, mức và trình tự, thủ tục hỗ trợ không hoàn lại từ ngân sách thành phố cho hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo.
Kline, P. và Moretti, E. (2014). People, Places, and Public Policy: Some Simple Welfare Economics of Local Economic Development Programs. Annual Review of Economics, tập 6, tr. 629-662. DOI: 10.1146/annurev- economics-080213-041024.
Lê Thị Thu Thủy (2022). Hỗ trợ vốn cho thanh niên khởi nghiệp thông qua nhà đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư mạo hiểm. Tạp chí Luật học, số 11/2022, tr.102-110.
Nguyễn Thị Thủy (2021). Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế của Thành đoàn Hải Phòng. Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, Đại học Hải Phòng.
Nguyễn Thị Thủy (21/8/2026). Nâng cao hiệu quả quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Tạp chí Lý luận chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-von-vay-ho-tro-thanh-nien-phat-trien-kinh-te-tren-dia-ban-thanh-pho-hai-phong-13744.html. DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1220.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng (2026). Hải Phòng ban hành “Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2026-2030”, ngày 10/8/2026.
UBND thành phố Hải Phòng (2022). Kế hoạch số 250/KH-UBND ngày 27/10/2022 về hỗ trợ thanh niên Hải Phòng khởi nghiệp giai đoạn 2022 – 2030.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hải Phòng năm 2025.
UBND phường Hải An, thành phố Hải Phòng (2026). Phiên họp thứ nhất năm 2026 và công bố quyết định thành lập Ban đại diện Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội phường Hải An.
Vũ Duy Hào, Đỗ Hồng Nhung, Trần Thị Thu Hiền (2022). Nhân tố tác động tới huy động vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 24/2022, tr. 21-24.